1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình du lịch văn hóa và những vấn đề lý luận và nghiệp vụ

139 7 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Du Lịch Văn Hóa Và Những Vấn Đề Lý Luận Và Nghiệp Vụ
Tác giả Pham Thi Bich Thuy, Phan Quang Anh
Người hướng dẫn TS. Tran Thuy Anh (Chi Biên), TS. Trieu The Viet, ThS. Nguyen Thu Thuy
Trường học Nha Xuat Ban Giao Duc Viet Nam
Chuyên ngành Du Lịch Văn Hóa
Thể loại Giáo Trình
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 7,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“72w lịch văn hố bao sâm hoạt động của những người với động cơ chủ yêu là nghiên cứu, khám phá về văn hố như các chương trình nghiên cứu, tìm hiệu: về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hộ

Trang 1

PHAM THI BICH THUY

Trang 2

TS TRAN THUY ANH (Chi biên)

TS TRIEU THE VIET — ThS NGUYEN THU THUY

ThS PHAM THT BICH THUY — Th§, PHAN QUANG ANH

Giáo trinh

DU LICH VAN HOA

(NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NGHIỆP VỤ)

(Tai ban lan thit nhdt)

NHA XUAT BAN GIAO DUC VIET NAM

Trang 3

L Đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ của du lịch văn hóa 7

II Một số thuật ngữ liên quan 15

HI Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới

và ở Việt Nam 21

Chương 2: CÁC KỸ NẴNG, NGHIỆP VY DU LICH VAN HOA 38

I Các kỹ năng cơ bản khi nhận diện và khai thắc các giả trị văn hoá 38

II Nhận diện và khai thác các giá trị văn hoá vat thé 41

HI Nhận diện và khai thác các giá trị văn hoá phi vật thể 80

IV Xây dựng, xúc tiễn và bản chương trình du lịch văn hóa 90

V Nghiệp vụ tổ chức và hướng dẫn du lịch văn hóa 109

VI Xây dựng, tổ chức, quản lý mô hình làng văn hoá phục vụ du lịch 133

VỊI, ánh giá tác động của du lịch tới môi trường văn hoá, xã hội 152

VI Giao tiếp, ứng xử văn hoá trong du lịch 161 Chương 3: KỸ NẴNG, NGHIỆP VỤ DU LỊCH VĂN HÓA

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỄN BỀN VỮNG 177

1 Hang sé van hod Viét Nam

và ảnh hưởng tới đu lịch văn hóa Việt Nam 177

II Định hướng phát triển bền vững 181

1 Xu thể hội nhập và toàn cầu hoá 188

PHỤ LỤC 193 Phụ lục 1: Một số hình ảnh minh hoạ 193 Phụ lục 2: Bài thuyết mình mẫu 207 Phụ lục 3: Hỗ sơ đi sản văn hoá thể giới ở Việt Nam 224

3 2S

Trang 4

Wily bt thin twede

Nếu chúng ta hình dung những lớp lang văn hóa Việt như những vĩa tầng của

mở quặng fhì du lịch văn hóa phải chăng là những người thợ mỏ? Ngược với quy

trình khai thác mỏ là làm giảm ởi trữ lượng tài nguyên, ớ đây, những vỉa tẳng trằm

tích của mỏ quặng văn hóa Việt cứ giàu có mãi bởi sự khai thác đúng hướng của

du lịch văn hóa Nhưng như thể nào là đúng hướng? Đây lä một cau hdi đặt ra cho toàn ngành du lịch Ở vị.trị là những giảng viên giảng dạy Du lịch nói chung,

Du lịch văn hóa nói riêng, chúng tôi bắt đâu bằng một công việc nhó bé là xây dựng cuốn giáo trình này dé giáng day cho sinh viên ngành du fịch cũng là mong

góp sức trả lời câu hỏi trên

Suy cho đến cùng thì cái đích của du lịch là sự trải nghiệm của từng cá thê,

trong thời gian, không gian nào đó, nơi mà thiên nhiên kỳ thú hay huyền thoại về

miễn đất mới :những khát vọng sống và cả nối đau nhân tinh thé thái bao đời

được cắt lát, phối chiếu, thắm lặn hay tan rã thành những mảnh vụn còn vương

sôi qua những tập tục, lễ hội, 4m thực, làng nghẻ, kiến trúc, tín gưỡng, Du lịch

văn hóa là phương tiện hữu hiệu, vì du lịch văn hóa làm trùng điệp những vĩa tầng

của văn hóa Việt bởi sự tương tác cúa lí luận, của nghiệp vụ, của ứng xử văn hóa,

của triển khai, của những điều có thề giải thích và không thế giải thích đang vươn lên từ đời sống bên trong của di tích, lễ hội, tập tục Du lịch văn hóa chuyển lái

những điều vô hình mà có thực ấy một cách tế nhị vào đáy nhìn của du khách, âm

thảm góp phần xây lên những tư duy tích cực, bố sung cho thái độ sống của con

người trước tự nhiên và xã hội

Du lich văn hóa là gì? Đó la những kiến thức nên, phương pháp tiếp cận và ứng

xứ văn hóa, những cách thức triển khai hàng loạt nghiệp vụ như: nghiệp vụ hưởng

dẫn dụ lịch, nghiệp vụ xây dựng, giới thiệu và bán chương trình du lịch văn hóa,

những vấn: đẻ của di tích, phần “chìm”, “nỗi” và ứng dụng của đi sản văn hóa vật thế

và phi vật thế, Những vần đề trên được đưa ra vừa khái quát đế ôm choán láy tổng

thể, lại vừa phải rất cụ thá, thực tế, thật nhỏ nhất và trần thuật như có thể cảm nắm

vẫn đề được vì đối tượng của cuốn sách này là sinh viên Tham vọng lớn nhất của

cuỗn sách hay môn học này là “cảm tay chỉ việc”, giúp sình viên dư lịch nói chung,

chuyên ngành lữ hành nói riêng có thế tác chiến nhuằn nhuyễn trong thực địa vốn

đầy phức tạp, biến động Nhất lä khi chuyên ngành này chưa có giáo trình, chưa có sách chuyên khảo, tham khảo dẫn đến việc học tập của sinh viên gặp khó khăn

Banh rằng đó là lịch sử nhưng chúng tôi thật sự quan ngại bởi vị giảng dạy sai, thiếu

tài liệu tin cây, nhất là ở lĩnh vực văn hóa sẽ để lại hậu quá nghiêm trọng không the

z8

Trang 5

đo đếm được Nhận thức được những hạn chế áy, mong muốn cơng hiến cho sinh

viên, chúng tơi đè dặt và "liều lĩnh” lạm bản vấn đề du lich văn hĩa

Ban đầu, chúng tơi xác định mơn học này như một thử nghiệm dài hơi, giáo

trình này như một đề xuất ban đầu mong các nhà khoa học quan tâm Nhưng sau

một thời gian trực tiếp giáng dạy, mơn học này được dân hồn chỉnh và cuỗn giáo

trình đã nhận được những đĩng gĩp, phần hỏi để sách lại tiếp tục được chúng tơi

tái bán Việc tái bản lần này vừa nhằm đáp ứng như câu của người học, người

nghiên cứu và cũng đồng thời là cơ hội để chúng tơi hồn chỉnh một tài liệu

chuyên ngành lân đầu được soạn cho bộ mơn này Đây chỉ là bước đi đầu tiên

trong lộ trinh dài đặc của người làm khoa học

Tập thế tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thánh tới:

— Thượng toạ Thích Minh Hiền, Giảng sư Học viện Phật giáo Việt Nam

~ Nghiên cứu sinh Nguyễn Đức, Trường Đại học Mỹ thuật Cơng nghiệp

Siroganova, Malxcova, Cộng hồ Liên bang Nga

_— Bác sĩ Nguyễn Thái Định, xĩm Ngịi, Chu Quyến

— Các cựu sinh viên khố KB1, K52; các học viên cao học Khoa Du lịch

học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

cùng các đơng nghiệp, bạn bè đã cung cấp một số tư liệu hữu ích để hồn

thanh cuén sach nay

Dẫu rằng, nhĩm tác giả chúng tơi đã phần đấu, gắng gối di đến cuối con

đường mà mình lựa chọn nhưng sự sai sĩt là khĩ tránh khỏi Kinh mong nhận

được sự đĩng gĩp của độc giả và những người quan tâm, đặc biệt là các bạn sinh

viên để những kiến thức lý luận và nghiệp vụ này thực sự trở thành cảm nang

hướng dẫn các bạn trưởng thành hơn trạng nghề nghiệp cúa minh

Thư gĩp ý xin gửi về: Cơng ty Gỗ phản sách Đại học — Dạy nghề, Nhà xuất bản

Giáo dục Việt Nam, 25 Hàn Thuyên, Hà Nội

Đơng chí, 2013 Thay mặt tập thé tác giả

TS TRIEU THE VIET

| Đái tượng, mục tiêu, nhiệm vụ của du lịch văn hố

1 Quan niệm về du lịch văn hố

Việt Nam vừa được phi nhận là nước cĩ thị trường du lịch tốt nhất khu

vực, rong đĩ cĩ du lịch văn hố “72w lịch văn hố bao sâm hoạt động của

những người với động cơ chủ yêu là nghiên cứu, khám phá về văn hố như các chương trình nghiên cứu, tìm hiệu: về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội

và các sự kiện văn hộ khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch

phiên cửu thiên nhiên, văn hộ hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” (UNWTO)' “Du lịch văn hố là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và đi chỉ Nĩ mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đúng gĩp vào việc duy tu, bảo tần Loại hình này trên thực tỄ đã mình chưng cho những nỗ lực bảo tân vũ tơn tạo, đáp ứng nh cầu của cộng đẳng vì

những lợi ích văn hố — kinh-té xd héi” ICOMOS)’

Theo Luật Du lịch; “Du tịch văn hố là hình thức ấu lịch dựa vào bản

bdo ton và phát

sắc văn hố dân tộc với sự tham gia của cộng đẳng nhà huy các giả trị văn hố truyền thẳng”,

Ở nhiều nước, nhất là ở Đơng Nam Á (heo SEAMEO SPAEA”), về mặt

lý thuyết, người ta xếp loại hình Du lịch văn hod (cultural tourism) vao Loai hình Du lịch sinh thái (eco tourism) bởi theo họ, sinh thái học (ccology) cũng bao gỗm cả sinh thái hoc phan van (human ecology)

“ UNW'LO: United Nation World Tourist Organization (Tổ chức Du lịch Thể giới)

?]COMOS: Imermational Cotmcil On Monnmenis & Sitcs (Hội đồng Quốc tẻ các di chỉ và di tích)

> SEAMEO SPAFA: Southeast Asian Ministers of Fducution Organization — Regional

Centre for Archaeology & line Arts (Lễ chức các Bộ tưởng Giáo dục Đơng Nam Á về Khảo cĩ học và Mỹ thuật)

7

Trang 6

“Năm, ta nhận thấy có sinh cảnh môi trường tự nhiên với sự đa

ah thát (từ núi đổi, cao nguyên, châu thổ đến ven hiển

ang Sinh học) Tâm thức Việt Nam thích sông Hoà hợp vớ Việt: Nam đi tham quan thắng cảnh tự nhiền thường cũng

oi la tham quan di tich — di sa van hoa “Du lich vdn hod là loại

¿hành thưm quan các công trình văn hoã cỗ kữm ” Ví dụ: Ở Hà Nội, tham

ụ dụ lịch Hồ Tây kết hợp thăm đền Quán Thánh, chùa Trắn Quốc, chia

“Gib Lién, dinh Nhật Tân, phủ Tây Hồ, đến Mục Thận, đầy đủ tam giáo

và ứn ngưỡng đân gian Đi du lịch Lào Cai vừa là lên Sa Pa, vừa tham

quan đến Dức Thánh Trần sat biên giới bên bờ Nậm Thị, thăm Hà Khẩu

Bái Xát, chợ Bảo Hà, uống rượu ngô H mông, rượu thốc Sán Lùng, mua

lâm thô sản, đồ thỏ cẩm, Du lịch Hạ Long là sự kết hợp giữa việc ngắm

- kỳ quan tuyệt đẹp với việc thưởng lãm núi Bài Thơ, cảng Vân Đền, hang

“ Đầu Gỗ và bình đụng lại trận chiến Nguyên ~ Mông năm xưa Vào Huế,

cơ hội mở ra cho sự trải nghiệm là sông Hượng - nói Ngự hoà quyện với

cưng diện, hoảng thành, lãng vưa, phủ chúa, nhà vườn, thưởng thức bánh

khoai cửa Thượng Tứ, cơm hể

Bởi vậy, theo tương đổi luận văn hoá {cultural relativism), mei tanh gidi

phan loai déu mong manh

Tdy văn hoá làm điểm tựa, du lich van bod mang sử mệnh tôn vinh và

bảo vệ các giá trị văn hoá tốt đẹp của con người Lá

văn hoá được làm giàu thém thông qua sự tiếp xúc, tiếp biến, giao lưu, lan

toả, tiếp nhận và hội tụ tỉnh hoa văn hoá các dân tộc Du lịch văn hoá không

chỉ đem đến lợi ích về kinh tế mà còn góp phần giáo dục tình yêu Tổ quốc,

thúc đẩy tích cực sự phát triển xã hội

2 Quan niệm về văn hoá du lịch

3.1 Văn hoá du lịch trên lý thuyết

2.1.1 Van hoa

ăn có nghĩa gốc là lâm cho dep bon Hod e6 nghĩa gốc là biến đổi,

biến hoá”, Văn hoá là biến dổi cho thành đẹp: làm đẹp ngôn từ trong văn

học, làm đẹp trong trang trí, kiên trúc, nghệ thuật, làm đẹp trong lỗi sống,

cuộc sống

= Đẹp ot cơ thể: trang điểm, làm thơm, tập thể dục

- Đẹp món ăn: bay biện, nấu nướng,

~ Đẹp trang phục: quần áo, chất liệu; nghệ thuật may mặc, thiết kế

— Dep trong ở, cư trú: trang trí nội ngoại thất, vệ sinh, cánh quan môi

Dep trong sự ổi lại: giày đếp, thuyền bà, xe cộ

Cuộc sống có muôn vàn biểu hiện của cái Dep: đẹp trong thé thao, giao tiếp hành xử, kinh doanh, Đẹp đã bao hàm trong nó cả Chân — Thiện —

Mỹ, có cá sự Trung thực, sự tốt lành: ích lợi, hiệu quả K Marx cũng cho diäñig; văn hoá là sáng tạo của con người theo quy luật cái dep

2.1.2 Văn hoá du lịch

` ~ Văn hoá đủ lịch là sự kết hợp giữa đu lịch và văn hoá, là kết quả tính

: ‘than va vat chất do tác động tương hd nhau giữa 3 nội dung sau:

+ Như cầu văn hoá và tình cảm tỉnh thần của chủ thể du lịch (đu khách)

+ Nội đụng và giá trị văn hoá của khách thể du lịch (lả tải nguyên du lịch có thể thoả mãn sự hướng thụ tính thần và vật chất của người ởi du lịch) + Ý thức và tế chất văn hoá của người môi giới phục vụ du lịch (hướng dẫn viên ~ IIDV, thuyết minh viên, người thiết kế sản phẩm, nhân viên phục vụ, } sản sinh ra

— Văn hoá du lịch là nội dung văn hoá do du lich tl ién ra, là văn hoá

“đo đủ khách và người làm công tác dụ lịch tich Miy và sắng tạo ra trong hoạt

động đu lịch

— Văn hoá đu lịch được sinh ra và phát triển cùng với hoạt động du hich’ Như vậy, cách hiểu khái quát về văn hoa đu lịch là sự điều chỉnh, biển đổi, sáng tạo các thành tô của du lịch (doanh nghiệp du lịch, khách du lịch,

địa phương tại nơi có hoạt

Trang 7

Nam Yan hoá là điều kiện đặc trưng cho hoạt động phát triển du lịch (di san

3; Văn hoá du lịch trong thực tiễn Việ

ăn hoá, thành tựu kinh tế, xã hội, các báo tảng, cơ sở văn hoá 1

- Văn hoá du lịch trong thực tiễn Việt Nam là dề cập đến “Dán trí” v

Quan tee! wong ngành du lịch, là toàn bệ ứng xử của người Việt, lãnh đạ

và nhân: Viêu các công ty du lịch, khách sạn trong ngành Du lịch

: 2.2.4 Khach du lich muôn gì?

: Khách du lịch muốn lòng hiếu khách, chủ nhà nhiệt tình và hồ hởi đó

khách, tạo điều kiện thuận lợi từ khâu xuất nhập cảnh, đổi tiền, phương tiệ

ởi lại, ăn ở, dẫn khách tham quan, thuy: ết minh tại điểm du lịch

2.2.2, Khách du lịch không muốn gì?

— Khách du lịch không muỗn trẻ con, người ăn mày lẽo déo theo hi chia tay xin tiền, năn ni họ phải vào quán ăn này, mua mặt hàng nọ H

không muốn thấy ăn mày đặt trẻ con bên vệ đường, lối vào chùa hay nị

s ~ Du lịch văn hoá là một loại hình du lịch Du lịch nói chung, du lịch

ăn hoá nói riêng muốn thành công thì hoạt động du lịch ấy (hoặc những tành vì kinh doanh ấy) phải được thực hiện một cách văn hoá Điều đó còn dược gọi là văn hoá kinh doanh (hay nghệ thuật kinh doanh)

~ Muốn phát triển du lịch văn hoá, cần phải có văn hoá du lịch tốt (môi

dường nhân văn trong dụ lịch), Du lịch văn hoá là phương tiện truyền tải

cặc giá trị văn hoá của một địa phương, một quốc gia cho du khách khám pha, thường ngoạn, học tập, giao lưu Du lịch văn hoá góp phân đánh thức, làm sống dậy các giá trị văn hoá dân tộc, nhân loại Qua du lịch, các tài sản văn hoá được bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị Du lịch văn hoá là một hoạt động đu lịch lấy tính văn hoá làm mục đích và xuyên suốt,

hành hương, as

~ Vi mọi đa khách khi di du lịch đều có bán đồ du lịch, có Guidebook,

có chủ dịnh riêng trong hành trình của họ nên không muốn bị xâm phạnÏ

thời gian thưởng thức điểm du lịch, không gian nghỉ ngơi riêng tu, khôni

muôn bị bắt chẹt giá câ

~ Khách du lịch sợ mất vệ sinh, sợ bẫn (từ phòng ngủ, khách sạn, phi

phường, điểm du lịch, di tích lịch sử, văn hoá, ) Họ sợ bị lây nhiễm?

HIV/AIDS, các bệnh dịch cúm, SARS, Đôi khi họ ngại những diều nhệ

nhật hơn như: không muốn đùng đũa nhựa khi ăn, không muốn bồi bàn đực

thức ăn qua dầu, đánh đổ, đánh rớt xuống đầu tóc, quản áo-họ Họ sợ nhì

thấy tay của người phục vụ chạm vào bát ăn hay thức ăn của họ, Đó von

những hành xử “pháu văn hoá” trong thực tiễn du lich Do vay, chat lic

sự, thanh lịch, có cùng mẫu số chúng la Lich (rai nghiệm, hiểu dời, h

người) cần được xây dựng và rên luyện cho những người phục vụ tron

ngành Du lịch nước ta được hiểu là văn hoá du lịch

3 Phần biệt du lịch văn hoá và van hoa du lich

— Văn hoá là nguồn tải nguyên của đu lịch, gềm 2 loại: văn hoá vật thị

và văn hoá phi vật thể (từ góc nhìn văn hoá)

+ Vin hoa du lich của yếu tố chủ thể du lịch được thé hiện trong ca qua

ÿ trinh mọi người cùng tham gia và thưởng thức du lịch văn hoá Trình độ văn Boá; ý thức và như cầu du lịch, hành vi trân trọng và hướng tới Chân Thiện - Mỹ của mọi người sẽ quyết định sự thành bại của một hay nhiều chương trình du lịch văn hoá,

!- Văn hoá du lịch của yếu tố khách thé du lịch được đem đến cho du khách tù các giá trị mà tải nguyên du lịch mang lại: chất lượng mỗi trường

du lịch, vệ sinh, thâm mỹ, cơ hội nâng cao tri thức và thẻ chất, tính nguyên bản của đi sản, di tích, sự trung thực và hiểu biết khi tu bố, trùng 1u đi sản văn hoá,

+ Văn hoá du lịch của yếu tổ trung gian kết nổi (môi giới) đu lịch gồm: thái độ ứng xử, địch vụ đu lịch, quân lý điểm du lịch, tuyén, tour du lich, hướng đẫn viên, đoanh nghiệp du lịch, chất lượng sản phẩm du lịch có tác

dung kết nỗi chủ thể — khách thế du lịch Những yếu tổ này có tác đụng

nang cao chất lượng của chương trình đu lịch văn hoá Ngoài ra, còn phải kế đến ý thức chính trị, xã hội, năng lực chấp hành luật pháp, tính thần công dan, lòng yêu nước, toàn bộ hệ thang thiét ché, co ché, chính sách, môi

trường pháp lý rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thông lệ quốc tế và đặc thù lịch

' văn hoá đân tộc sẽ góp phan làm nên sự thành công cho chương trình

Trang 8

Fem lạt: Du lịch lấy văn haá làm nguồn lực, là nội dung chính a hình m vụ liên

kết cáo quốc gia gan fai với nhau, Dụ lịch dng vai tro

|“ Widplehoat déng du lich vin hod Toàn bộ quan hệ giữa chủ the da He

c:&há¿h); khách thé du lịch (giả trị của tài nguyễn du lich nhân vấn) và trul

gta kt-nối:du lịch (cúc dich vụ, thiết chế, sán phẩm du lịch ) duge i

Si: sắng tạo và ứng dụng hiểu quả trong hoạt động đu lịch theo quy lạ

“Hồi

âm chuyên chớ Du lịch văn hoá lay văn hoá làm đối tượng tìm hiển, Nó mội loại hình đặc thù và riêng biệt của du lịch

8.2: Nhận biết các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của văn hoá

‘ong du lịch, ứng xử giao tiếp van hod trong du lich; khai thác các giá trị

‘van hoa ban địa và nhân loại dễ có được các sản phẩm đư lịch văn hoá có

hập dan cao; khai thác các sản phẩm du lịch văn hoá theo chương trình

oe 'dụ lịch: vận dụng kiến thức văn hoá vào quá trình hoạt động du lịch văn hoá 4.4 KY nang : : Sarak par nat Ặ địa phương, ở cơ sở du lịch; quy hoạch, lập trình và thiết kế các tour lữ Théo Đại Tờ điễn Ting Nxb heh Pine hbn ie aan ie ành tham quan các công trình văn hoá cổ kim là mục tiêu hướng đến của nấm 2008, thì: “Kỹ năng là khá nặng vận dụng nhữi ề o “ia lich van hoá

được vào thục tế” (trang 838),

4.2 Nghiệp vụ Nghiệp vụ được định nghĩa là: “Công việc chuyên mon ve của f

Re cư didn Tidne VIB Ậ ề

nghệ a (hại từ điên Teng re _ Ti a ne => " Peek thos bane văn hoá các đân tộc như một đạng tiềm năng của du lịch kết hợp với

bộ môn, khoá học nào cũng có lý thuyết và thụ : : ac giữ gin, phát huy, quâng bá giá trị nhân văn cùng bản sắc dân téc ham

“hla trong di sản đó Trong kho tàng di sản văn hoá, có những hoạt dộng, ững hiện tượng không thể, không nên khai thác cho du lịch văn hoá, hoặc

ù khai thác thì phải thận trọng và có những biện pháp đảm bảo phẩm chất mcd của nó Bởi thực tế là quan hệ giữa văn hoá dân gian, văn hoá ruyền ổng và du lịch văn hoá loại hình du lịch sử dụng nguồn vốn văn hoá trực nhất — luôn luôn song hành cả sự tương hỗ, cả sự đối đầu

của câi dẹp gọi là văn hod du lich

4 Kỹ năng và nghiệp vụ du lịch văn hoá

6 Nhiệm vụ và yêu cầu của du lịch văn hoá

6.7, Du lich văn hoá và các đi sản văn hoá dân gian có mối quan hệ ang khít Nhiệm vụ của du lịch văn hoá là khai thác đi sản và truyền

4.3 Kỹ năng và nghiện vụ du lịch văn hoá

Cũng như các loại hình du lịch khác, du lịch văn hoá có những đặc

và yêu cầu riêng Kỹ năng, nghiệp vụ du lịch văn hoá là khá năng vận đâu

những Min thức văn hoá vào việc xây đựng và tổ chức các chương trìm

lịch mang đặc thù riêng của loại hình dụ lịch vẫn hod 82 Khi tiến hành xây dựng du lich van hoá, với văn hoá là nguồn lực,

5 Đối tượng và mục tiêu của du lịch văn hoá in phải tuân thủ ba yêu cầu có tinh nguyên tắc sau đây:

“Du” 1a chơi, “lịch” là trải từng trai, trải qua, lịch duyệt, lịch sự, ý

lam, ) Du lịch là đi dễn nơi khác không gian mình đang sống dé xeni:

§.2.1, Nguyên

c thị trường: Phải xuất phát từ nhu cầu của du khách và

ra những sản phẩm du lịch văn hoá thích hợp Phải tính đến các tuyến,

người, xem cảnh điểm dé hình thành trong tour du lich van hoá Đảm bảo ba hiệu quả (kinh tế

Du lịch đã có một lịch sử lâu dời, vì căn tính của con người là tâm Xã hội ~ môi trường); bên giá trị (hướng thức — lịch SỬ - khoa học — thực vừa thích quen, vừa (hích lạ Tâm lý chuộng lạ là thuộc về bản chất của ce) ham diéu kién (giao théng.— cd đường đi, kinh tế — có vốn đầu tu, tài

người Nếu có điều kiện, người ta đều thích xê dịch, lam quen với cái Ï ;uyên nhân văn vả xã hội ~ cơ sở ban đầu để phát triển, khả từ — về điều

cái mới mà quê hương mình không có hoặc chưa có nda tư, thị trường — CÓ nguồn khách)

8.4 Tuyén bd cha Dâng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam là “ưiệt i 6.2.2 Nguyên tắc kinh tế: Phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho người kinh muốn làm bạn với tất cả các nước” Nhân tổ cơ bản để liên kết và làm doanh du lịch văn hoá, cho người dân địa phương và cho ngân sách Dặc nổi nhằm thực biện định hướng ấy là văn hoá, là du lịch Văn hoá lỗiệt gắn lợi ích của người đân với lợi ích kinh tế có được từ du lịch văn hoá

1ậ:

Trang 9

đụ hoạt động đu lịch vẫn hố Tồn hộ quan hệ giữa chủ thể đụ lịch (hủ điền”, chuyên chờ, J?u lịch văn hố lây văn hố làm đối tượng tìm hiểu, Nĩ PLO’

ety khách thể du lịch (giá trị của tài nguyên (âu lịch nhân văn) và trung là một loại hình dặc thù và riêng biệt của du lịch hach), khac

ian kéi néi đu lịch (các dịch vụ, thiết chế, sân phẩm du lịch, ) được lích 5.2, Nhận biết các piá trị văn hố vật thé va phi vật thể của văn hố

gic

ngộ, sảng tao va ứng dụng hiệu quả trong hoạt ding du lich theo quy luật wong du lịch; ứng xử giao tiếp van hoa trong du lịch; khai thác các giá trị

của cải dep goi là văn hố dụ lịch TS > sa j văn hố a dia hư loại để cĩ vn - mn oe du lịch văn hố cĩ

% 4 sức hắp dẫn cao; khai thác các sẵn phẩm du lịch vấn hố theo chương trình

4 Kỹ năng và nghiệp vụ du lịch văn hố du lịch; vận dung kiến thức văn hố vào quả trình hoạt động du lịch văn hố

ở địa phương, ở cơ sở du lịch; quy hoạch, lập trình và thiết kế các tour hy hành tham quan các cơng trình văn hố cơ kim là mục tiêu hướng đến của

đu lịch văn hố,

Theo Đại 1k điển Tiếng Việt, Nxb Thành phố Hồ Chí Mình, xuất bản

nim 2008 thi: 'Kỹ năng là khá năng vận dụng những kien thức thu nhận

được vào thực 16” (rang 838)

4.2 Nghiệp vụ x

hĩa là: “Cơng việc chuyên mơn riêng của (ng

nạ ee oe Tiệc Sả4, trang 1116) Tau nhw nganh nghé nao, Khang khit Nhiệm vụ của du lịch văn đố là khai thác đi sản và truyền

nei ộ mơn, khố - iM "¬ cứng, cĩ lý thuyết và thục tién Du lich 1a khoa hoe thơng văn hố các dân tộc như một dạng tiềm năng của du lịch kết hợp với

6 Nhiệm vụ và yêu cầu của du lịch văn hố

6.7 Dụ lịch văn hố và các dì sản văn hố dân gian cĩ mỗi quan hệ

lệc giữ gìn, phát huy, quảng bá giá trị nhấn văn cùng bản sắc dân tộc hàm

¡ chứa trong di san đĩ Trong kho tầng đi sản văn hố, cĩ những hoạt động,

| ị những hiện tượng khơng thể, khơng nên khai thác cho du lịch văn hố, hoặc 4.3 Kỹ năng và nghiệp vụ du lịch văn hố a tu khai thác thì phải thận trọng và cĩ những biện pháp đảm bảo phẩm chất

Cũng như các loại hinh du lịch khác, du lịch văn hố cĩ những đạc thy, vơn cĩ cửa nĩ Bởi thực tế là quan hệ giữa văn hố đân gian, văn hố truyền

và yêu cầu riêng, Kỹ năng, nghiệp vụ đu lịch văn hoa la khả năng vàn dung, thống và du lịch văn hố ~ loại hình du lịch sử đụng nguồn vốn văn hố trực

những kiến thức văn hố vào việc xây dựng và tơ chức các chương trình cải p nhất ~ luơn luơn song hành cả sự tương hỗ, cả sự dỗi đầu

ứng dụng, đo vậy việc ứng dụng lý luận vào thực tế, các thao tác thực hành

nghề 1a quan trong va cần thiết

lịch mang đặc thù riêng của loại hình dụ lịch văn hố

8, Bei tượng và mục tiêu của du lich văn hố

” 1ã chơi, “ch” là trải (từng trái, trải qua, lịch duyệt, lịch sự lí 6.2.1 Nguyên tắc thị trường: Phải xuất phát từ nhụ cầu của du khách và

lãm ` Du lịch là đi đến noi khac khong gian minh dang sống dé xem: xen tao ra những sản phẩm dư lịch văn hố thích hợp Phải tính đến các tuyến,

iém để hình thành trong tour du lịch văn hố Dâm bảo ba hiệu quả (kinh rế hội ~ mơi trường); bến giá trị (thưởng thức — lịch sử khoa học — thực

; năm điều kiện (giao thơng — cĩ dường đi, kính tế - cĩ vốn dầu tu, tài

guyén nhân văn và xã hội _ cơ sở ban đầu để phát triển, khả thĩ — về điều

lên đầu tư, thị trường ~ cĩ.nguồn khách)

6.2.2 Nguyên tắc kinh tế: Phải đảm báo lợi ích kinh tế cho người kinh

oanh du lịch văn hố, cho người dân địa phương vả cho ngân sách Đặc iệt gắn lợi ích của người dân với lợi ích kinh tế cĩ được từ đu lịch văn hố

6.2 Khi tiễn hành xây dựng du lịch văn hố, Với văn hố là nguồn lực,

iđ phải tuân thủ ba yếu câu cĩ tính-nguyên tấc-sau đây:

người, xem cảnh

Du lịch đã cĩ một lịch sử lâu đời, vì căn tính của cịn người là tâm lý

vừa thích quen, vừa thích lạ Tâm lý chuộng lạ là thuộc về bản chat cla cog t

ngudl Nếu cĩ điều kiện, người †a déu thich xê dich, làm quen với cái lạ vi

cái mới mã quê hương 1ninh khơng cĩ hoặc chưa cĩ,

5.1 Tuyên bố của Dáng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam là ^Vi@7 Nĩi

muốn làm bạn với tất cả các mước ”, Nhân tơ cơ bản để liên kết và làm ci

nếi nhằm thực hiện định hướng ấy là văn hố, là du lich Van hoa làm

Trang 10

laa ia

ệ: Nguồ lực văn hoá là hữu hình nên phải vừa

khai thác được lâu đài, Cân tính đến

ay thậm chí

6.2.3 Nguyên tắc bảo v

khai thác vừa bảo vệ và làm giàu để | Ạ ;

kha nang về sức chứa và các giải pháp hạn chê sự mai mộ

lam mat i yan van hoa phuc vu du lich van hoá

Câu hỏi ôn tập và bài tập trắc nghiệm

4 Gách hiểu về du lịch văn hoá Cách hiễu về van hoa du lịch

niệm này

Nghiệp vụ là gi? Ky nang là gi?

Đối tượng và mục liêu của du lịch văn hoá

Nhiệm vụ và yêu câu của du lịch văn hoá

Kỹ năng, nghiệp vụ du lịch văn hoả là: ;

a) Việc xây dựng các tour dụ lịch văn hoá

ng:

bì Việc vận dụng kiến thức văn hoá vào quá trình hướng dẫn trong các tour du a

lich van hoa ¬ vi

® Khả năng vận dựng những kiễn thức văn hoá vào Việc xây dựng và to chức

các chương trình du lịch mang đặc thủ riêng của loại hình du lịch văn hoá

dị Cả a, b, c đều đúng

8 Khoanh tròn vào những câu đúng:

a) Du lịch văn hoá tà một löại hình của du lịch

b) Du lich văn hoá la một sản phẫm của du lịch -

œ) Du lịch văn hoá bao gồm các loại hình khác nhau của du lịch

đ) Không a h

nhau, với các điểm dén khac nhau

e) Hướng dẫn viên du lịch văn hoá là nhân vật chính của chương trình du lịch:

văn hoá / /

f) Vùng văn hoá và vùng du lịch văn hoá là Không gian tương đương trong du

lich van hoa _ ì

7.- Việt Nam có bao nhiêu vũng dư lịch?

1 Tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch xã hội

Du lịch văn hoá sử dụng văn hoá như là ngudn lực Có hai loại tài

nguyên thuộc về văn hoá sử dụng trong loại hình đu lịch này là: tài nguyên nhân văn và tài nguyên xã hội

~ Tài nguyên du lịch nhân vấn: là những của cải vật chất và của cải tình

thần đo cơn người sáng tạo ra, có khá năng thu hút con người tiễn hành hoạt

động du lịch văn hoá

~ Tài nguyên du lịch xã hội: là những nét riềng biệt về phong tục, tập

quấn, quan niệm và phương thức sản xuất, sinh hoạt trong đời sống dân cư

của mỗi dân tộc

“Tài nguyên du lịch nhân văn và xã hội nhằm phục vụ du lịch văn hoá có những tính chất chung là: Dø dang (am phong phú sản phẩm du lịch); 7ián dẫn (thu hút khách); Độc đáo (là nết riêng, đặc trưng); Không dịch chuyển

; (ngay cả khi có các sản phẩm mô phỏng cũng không thay thé duoc) và đặc

biệt là Để sốn phất Trong khi tài nguyên du lich thiên nhiên có thể tạm coi

là vô hạn (tất nhiên là vô hạn tương đối) thì tài nguyên du lịch nhân văn và

ã hội lại là hữu hạn (cần bảo vệ để Khai thác lâu dài) Tính chất của tài

nguyên du lịch nhân văn là tạo nên sự hứng thú đối với du khách về như cầu tìm hiểu lịch sử, tìm về cội nguồn Tài nguyên du lịch xã hội lại là điểm lôi cuốn, là điều kiện dé du lich phat triển theo chiều sâu thông qua việc hướng

| thy vin hod cha nước khác, dân tộc khác Sự khác nhau giữa các nền văn

} hoá fà do sự khác nhau về lịch sử, điều kiện và môi trường sống Chính sự

j khác biệt về văn hoá này sẽ tạo ra hứng thú và làm nảy sinh, thúc dây động

cơ đi du lịch nói chung, du lịch văn hoá nói riêng

15

Trang 11

2, Mdi trwong van hoa trang du lich

2:42 €6nhidu loai môi trường: môi trường tự;nhiên; môi tường nhân

taog dk trvdng doi sống; môi-rường văn höá,môi trường sinh thải Các

loại mỗi Trường này cùng hợp thành ‘Moi Truong Lon vf &

Môi trường văn hoá là môi trường tự nhiên tác : tao (mdi trường

nhân vi, nhân văn) Môi trường văn hoá được tạo ra bởi kỹ thuật và tÔ chức

¡ môi trường tự nhiên, vừa bộ

xã hội của cơn người, có tác động trở lại: vi

khuyết cho thiên nhiên trong một số trường hợp, vừa căn trở hiệu quả

thiện nhiên trong những trường hợp khác Môi trường văn boá là loại môi

trường xuất hiện khi con người lợi dụng và cải tạo tự nhiên, được sáng lạo

và phát triển trên cơ sở mội trường tự nhiên Í?o vậy, môi trường văn hoá

ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên; và ngược lại, cũng bị môi trường tự

nhiên chị phối

8.2 Môi trường văn hoá trong đu lịch là toàn bộ “không gian kết nỗ

các tuyển, điểm, tour du lịch được khai thác hợp thành tả nguyên văn

hoá vật thể và phi vật thẻ (lễ hội, làng nghề, đi tích, danh thắng, bảo vật

quốc gia, phong tục, Ứng XỦ, ) để xây dụng các chương trình đu lịch

văn hoá

Nhân vật trung tâm trong môi trường này là con người, Con người là

chủ/khách thể của văn hoá cũng có nghĩa con người là chủ/khách thê của đu

lịch Môi trường văn hoá do con người tạo ra trong hoạt động du lich giúp

họ hưởng thụ hẳu hết những sản phẩm văn hoá và sản phẩm du lịch ứng

theo bến chiên quan hệ trong suốt cuộc đời mả họ sẽ trải nghiệm:

~ Quan hệ giữa con người với tự nhiên: Khách dù lịch tham gia sang

tạo, bảo vệ, thưởng ngoạn nhóm điểm đu lịch thuộc về cảnh quan thiên

nhiên như vườn cây, hang động, núi non, ao hé, sông suối, biển cá,

Quan hệ giữa con người với xã hội: Khách du lịch tham gia sáng Tạo,

xây dụng và hướng thụ các điểm du lịch thuộc nhóm tự tạo như công viên, -'

vườn cảnh dân tộc, trung tâm thương mại, siêu thị, quảng trường, phố đi bộ,

— Quan hệ giữa con người với quả khứ (lâm linh, lich 3): Khách du

lịch tham quan, tham gia bảo tổn nhóm, điểm du lịch thuộc về các đi tích lịch sử, đi tích văn hoá như đình, chùa, đến, miễu, am, phủ, nhà thờ, thành

quách, lăng mộ, cung điện,

-: Quan hệ giữa con người với chính mình: Quan hệ này bao phủ lên cả

ba quan hệ trên Khách du lịch được sống trọn vẹn với cảm xúc của tiêng mình, được thẩm thấu, khám phá các bản văn hoá, vùng miễn, quốc gia,

văn hoá viễn xứ khí tham gia đu lịch văn hoá với tư cách kép: vừa là chủ thể

sáng tạo vừa là khách thể hưởng thụ

Môi trường văn hoá trong du lịch còn là “không gian nhân tạo ” kết nỗi con người với con người trong suốt chương trình du lịch văn hoá, từ tổng quan hệ trải rộng pằm: khách du lịch hướng dẫn viên — cộng đồng dân

cư — chính quyền địa phương — doanh nghiệp du lịch, khách sạn, cơ sở lưu trú, nhà hàng, không gian tố chức tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật, Ở tất

cả những nơi đó, môi trường văn hoá được thiết lập và giữ gìn theo một hệ thống quy tắc ứng xử cho ngành du lịch văn hoá trên toàn cầu nói chung, từng quốc gia nói riêng

3 Giao tiếp, ứng xử văn hoá trong du lịch

Ứng xử được coi là hệ thẳng quan hệ tương tác các phản ứng được thực

hiện bởi vật thể sống để thích nghỉ với môi trường

Ứng xử văn hoá có chủ thể là con người vì con người làm ra văn hoá Tới một mức độ nào đó, văn hoá ánh hưởng đến sự hình thành nhân cách con ngudi, Những ứng xử bình thường hoặc không bình thường thay dỗi tuỳ theo mỗi nên văn hoá Văn hoá là toàn bệ những tín điều, truyền thống, hưởng dẫn hành xử mà các cá nhân trong một xã hội được xã hội đó trao truyền qua nhiều hình thức học tập và lao động Con người được nhập thân văn hoá từ khi còn nằm trong bụng mẹ !rong khung cảnh văn hoá, con người có khả năng gản cho những vật (vật chất sống và vô sinh trong thiên nhiên) và cho những ứng xử một ý nghĩa ước định má họ bắt buộc phải theo như là một bộ phận của thế giới hiện thực

Ở những miền văn hoá khác nhau cỏ chứa những biểu trưng và ước lệ khác nhau khiến và huộc người ta cần ứng xử khác nhau cho phù hợp Rõ Trảng là ứng xử của cón người ở các nước, các vùng khác nhau thì không

12

Trang 12

giống nhau đo các nền văn hoá khác nhau Còn ứng xứ của con vậi Ở khắp

noi thì hầu như giống nhau vì chúng không có văn hoá, nhưng điều đó

không hẳn là chúng không có tư duy Bởi vậy, con người mới là sinh vật đặc

biệt và theo đó, ứng xử của con người cũng được xếp là ứng xử đặc biệt

Ứng xứ này được gọi tên là ứng xử văn hoá?

Khi con người di du lịch: đi chơi, thăm bạn bè, công chuyện, ngắm cảnh

lạ sông núi, non nước, biên cá, đi xem hội, hành hương, tham quan, hành lễ

ở đến chùa, miếu mạo, thì con người đóng vai trò khách du lịch (hay du

khách) Toàn bộ nguyên tắc tiên xúc và quan hệ được bình thành trong, suốt

chương trình du lịch của du khách với các dỗi tượng liên quan được gọi là

ứng xử văn hoá trong du lịch Iiệ thống cách thức tiếp xúc có văn hoá (kệ cá

ứng xử được xây dựng thành chuẩn mực và ứng xử có tính chất mềm đẻo,

link hoạt) nhằm giúp khách đu lịch hoàn tắt, thành công trong các chương

trình đu lịch nói chung, du lịch văn hoá nói riêng, Nó giúp du khách đạt

được ít nhất ba mong muốn chính đáng là:

— Đưa khách du lịch bước ra khỏi cuộc sống thường nhật, nhàm chán,

quen thuộc của mình để bước vào một cuộc sống khác biệt hoản toàn ở

những nơi khác Họ được giao tiếp với cư dân bán địa ở những nơi đó, nơi

có một cuộc sống khác biệt, mới lạ và hấp dẫn,

~ Du khách luôn muốn khám phá sự khác lạ ở cáẻ địa phường, các din

tộc khác với mình, vừa để thoả mãn trí tò mò, vừa muốn tìni hiểu những

vùng đất mới ở những thời gian nhất định mà không bị lập đi lặp lại cái mà

minh dé biét

— Biém dén du lịch cảng khác lạ bao nhiêu về phong tục tập quán; tôn

piáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn hoá, các giá trị cud sống thì cảng hấp

dẫn du khách bấy nhiều Các sản vật địa phương, dễ thủ công; đồ lưu niệm

dơ người dân bản dịa sáng tạo ra cũng là món qua quy gia đối với người đi

du lịch",

4 Sản phẩm du lịch văn hoá

on người sáng tạo ra văn hoá, bởi vậy:mọi: sản phẩm van hoa déu

thuộc về con người, Sản phẩm văn hoá được sinh ra trước san pham du lich

Một sản phẩm du lịch trước hết phải là một sản phẩm văn hoá Nó sẽ trở

thành sản phẩm đu lịch khi được sử dụng vào hoạt động kinh doanh dụ lịch nhằm thoả mãn các nhụ cầu của du khách, Tất cả các sản phẩm du lịch đầu

là sắn phẩm văn hoá, nhưng không phải mọi sản phẩm văn hoá đều phải là hay phải trở thành sản phẩm du lich Nhiền sản phẩm văn hoá không nên/

không thể khai thác trong kinh đoanh du lịch được

Sản phẩm du lịch và sắn phẩm văn hoá có sự gắn bó nhưng cũng có

nhiều sự khác biệt như'?

Sản phẩm var hoa

~ Bên ví vũng, tính bat biến cao

~ Mang nặng đấu án của cộng đồng cư dân

thần của cư dân bản địa

Chủ trọng giá trị tinh thần, giá trị không đó |

được hết bằng giá cả

~ Quy mô hạn chế, thời gian và không giar!

~ Sản phẩm mang nang tinh định tỉnh, khó

| xác định định lượng Giá trì của sản phẩm |

mang tính vô hình thế hiện qua ấn tượng,

Sản phẩm dư lịch

~ Thich ứng, tính khả biến cao

— Mang nặng dấu án của các cá nhân,

các nhà tổ chức, khai thác,

— Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ

những đối tượng sử dụng dịch vụ du lịch

— Sản xuất ra phái được bán ta thị

trường, bán cho du khách, phục vụ như

cầu của các đối tượng du khách là cự dân của các vùng tiền khác nhau

— Giả trị văn hoá đi kèm giá trị kính tế — |

xã hội, Giá trị được đo bằng giá cả

— Quy mô không hạn chế, thời gian và

không gian không xác đình

~ Định tinh, định lượng được thể hiện

qua thời gian hoạt động Giả trị của sản

phẩm là hữu hình, biểu hiện thông qua

Sản phẩm du lịch văn hoá là sản phẩm du lịch được khai thác và sử dụng

trong các chương trình du lịch văn hoá,

'? Dương Văn Sáu, Phái triển sản phẩm dự lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam số

3/2010, tr23,

19

Trang 13

Câu hỏi ôn tập và bài tập trắc nghiệm

Tài nguyên du lịch nhân văn là:

a) Những gì do con người sáng tạo rả

b) Những của cải vật chất và của cải tinh thần do eon người sáng tạo ra có

khả nắng thu hút con người tiễn hãnh hoạt động du lịch văn hoá

6) Những tải nguyên không thuộc về tự nhiên

d) Cả a b c đều đừng:

2 Ung xt var höá:trong dù lịchlà: /

a).Hệ thẳng các quan hệ tương tác được thực hiện bởi con người để thích

nghị với†fiôi trường, cuộc sống:

BỊ Hệ théng các quan hệ tương táo, các phản ứng được thực hiện bởi con

người trong quá trình đi du lịch -

ø) Toản bộ nguyễn tác tiếp xúc và quan hệ được hình thành trong suốt

chương trình du lịch của du khách với các đối tượng liên quan

dy Ca a, b, ¢.déu dung

3 San phẩm văn hoá là sản phẩm

a) Mang đậm dấu ấn của cộng đồng dân cư, thời gian và không gian không

xác định

bỳ Cỏ tỉnh bên vững, bất biến cao; mang nặng định lượng

c) San xuất chủ yêu phục vụ đời sống sinh hoạt văn hoá tình thân của cư dân

bản địa; giá trị của sản phẩm không đo được hết bằng giá cá

bỳ Được bán ra thị trường; dùng cho tất cả các đối tượng khác nhau

cÿ Mang đậm dấu án của các cá nhân, các nhà tố chức, khai thác; giá trị được

: biểu hiện qua những chỉ số kinh tế thu được

d):Cả b, c đều đúng

5 ¿-Sân phẫm du lịch van hoa có thê

a) Mua ban được

b) Không mua bản được

Kinh nghiệm phát triển đư lịch văn hoá

trên thế giới và ở Việt Nam |

Du lịch văn hoá đang ngày càng đa dạng và cung cấp nhiều sản phẩm

du lịch văn hoá tử tham quan các di tích lịch sử, văn hoá đến khám phá lỗi sống độc đáo của nhiều quốc gia và vùng miền khác nhau Sự phát triển này

có thể làm hỗi sinh, khôi phục các đi sản đã phủ mầu thời gian và làm sống

Tại truyền thống ‘Toy nhiên, van dé gi cũng có tính hai Bời một cách thức tiễn hành dụ lịch văn hoá bừa bãi, thiểu nguyên tắc có thể đeru lại những kết qua trái ngược, thậm chí bi kịch, không cứu vãn được

1 Kinh nghiệm phát triển dụ lịch văn hoá trên thể giới

Trước đây, chỉ có những nhà leo núi chuyên nghiệp mới có thê đặt chân tới Ilimalaya Tuy nhiên hiện nay, vùng đất này đang thu bút rất nhiều du khách bởi sự hấp dẫn của đạo Phật đối với nhương Tây Họ được thăm các khu đi tích tôn giáo, tìm hiểu lễ sống cộng đồng cư dân Himalaya va tham

dự lễ hội Ở mỗi khu vực phục vụ du lịch, chính quyền Himalaya bê trí ở đó

tổ chức hành chính thích đáng và hợp lý, đã tính đến sức chứa đu khách khi

tiến hành lễ hội và các nghỉ lễ tôn giáo Ân Độ đã cho phép du khách vào

một số nơi thuộc khu vực Arunachal Pradesh và một số vùng mới của Himachal Pradesh Nepal mở cửa biên giới Tây Bắc cho khách vào lây Tạng Nhằm nhát triển du lịch văn hoá, Butan cho phép khu vực tử nhân tham gia nhiều hơn vào kinh doanh du lịch văn hoá nhưng họ đuy trì sự kiểm soát chặt chẽ về moi mat

Cuộc sống và lập lục trong các tu viện ở Himalaya — “tái nhà của thể

giới” thật sự quyến rũ người đi du lịch văn hoá Để phát triển đu lịch lưu trú đài ngày ở đây, nhiều sân bay địa phương được mở và dịch vụ hàng không

Trang 14

nội địa cũng được cái thiện Dường sá dược nâng ‹ cắp giúp cho du khách đi tới

đñ/viên và các khu đi tích tôn giáo ở vùng hẻo lánh trở nên thuận tiện, ein

pũt hơn với sự tiếp sức của quảng cáo thương mại, phim tài liệu truyền hình

va not số phương tiện truyền thông, nguyện vọng được thanï gia lễ hội hoá

tang va tham quan tu vién cita di khaéch npay cang ting Khached kha nang

chi trả cao muốn thăm Khambu hay Mustang sét Himalaya cha Nepal c6 thé

giảm thời gian di chuyển bằng máy bay lên thẳng Trong lễ hội Tenchi ở tu

ên Lo Mantang (Nepal) và những lễ hội khác thường có một ngày các thầy

tù đeo mặt nạ và nhây múa theo nghỉ lễ trong sẵn tu viện Noi dung nay tất

dộc dao về văn hoá nên các công ty du lịch thường lập chương trình cho du

lịch văn hoá đài ngày trùng với những lễ hội này Tu viện không cấm du

khách chụp ảnh Khách du lịch mua vé hoặc có thể liên lạc đặt chỗ trước

trong tụ viện, Những pho tượng nhê và những tranh lụa tôn giáo Thankas

được lâm rất dep, trở thành một sản phẩm du lich vim hoá được ưa chuộng

khi đu khách tới nơi này,

Sự phốn vinh của du lịch góp phan lam hồi sinh tôn giáo, Tu viện

'Tyangboche ở khu vực Solu của người Sherpa (Nepal có 40 tu sĩ thụ đạo đã

trở thành một điểm đến du lịch quan trọng Cách dây chừng 40 năm, tu viện

bị bỏ hoạng và sau đó bị lửa thiêu vào năm 1988 khi các tu sĩ thoát ly để

làm việc trong ngành du lịch lữ hành Tu viện dã phục hỗi trở lại lễ hội có

mang mặt nạ nhờ vậy mang lại khoản thu nhập đáng kế để phát triển các

hoạt động tên giáo và văn hoá, Một toà nhà tiếp dón du khách được sưởi ấm

bằng năng lượng mặt trời và một bãi đậu cho máy bay lên thăng đã được

xây dựng Lệ phí vào thăm tư viện được dùng dễ đổi mới và tu bê trang

phục, mặt nạ, đào tạo tu sĩ và in những, cuấn sách nhỏ về lễ hội, mô tả nghỉ

thức tôn giáo, hướng dẫn các quy tắc ứng xử về đi, đứng, chụp ảnh,

Tại Canada và Australia, thô dân có ý thức cao trong việc giữ pìn văn

hoá dân gian của họ qua du lịch văn hoá Từ Iqaluït - thủ phủ vùng dất mới

Canada ~ của thé dan Inuit (63 toc Nuvanut) dén ving Kaigoorlic 6 Tay

Australia, các nhà kinh đoanh bản xứ chịu trách nhiệm đứng ra giới thiệu

van hod thé din thông qua các tour du lịch văn hoá Họ hướng dẫn du khách

xế băng để ghép thành chiếc lễu Igloo, nấu món wichetty arub (ấu trùng của

một loại bướm sâu đục gỗ) ~ món đặc sản của thổ dân ở đây, hay nghe HDV

du lich người da đỏ giải khích những mẫu chạm trổ của totern trên cột gỗ có

: hình những người dân bà nhăn mặt, các nhân vật thần thoại và hình ảnh

những con chim khéng 16, mó dài và nhọn, phản ánh tư duy gì trong văn

hoá của người bản địa

Các tổ chúc du lich va doanh nghiệp bản địa tại Canada và Australia đảm nhiệm việc vận chuyển, xây dựng khách sạn, bảo tảng, nha hàng, rạp hát, tiệm ăn nhỏ có biểu diễn nhạc sống và lỗ chức hình thức homestay ngay tại chính nhà riêng của họ Họ không bằng long dan đựng những cảnh nhảy múa ngắn gợn, “chộp giậ”, cắt xén để phục vụ cho những vị khách du lịch nóng vội chuyên sang xem những cảnh khác Họ cũng không muốn bán những vật lưu niệm sản xuất hàng loạt mà tuân thủ quy dịnh “một mẫu rất

Ấu 3 sốn phẩm ” Họ lắng nghe tâm lý và cảm xúc của du khách một cách thận trọng và linh tế hơn, Người đa dỏ ở Canada và thổ đân Australia coi du lịch văn hoá là phương tiện vừa để truyền bá những giá trị cuộc sống của bọ vừa đem lại nguồn thu nhập quan trọng Du lịch văn hoá tạo công ăn việc làm cho người bản địa, khăng định nền văn hoá của họ và giúp khách dụ lịch hiểu rõ những tập tục đặc sắc của thổ dân Hơn 1.000 doanh nghiệp du lịch tại Canada là của người da đỏ hoặc do người da đó nắm giữ tới 51% vốn

Vùng đất mới Nuvanut cũng có một số tổ chức du lịch riêng để giới thiệu

văn hoá của mình Số liệu của Hộ Phụ trách vấn đề người da đỏ Canada cho biết: Thu nhập của các đoanh nghiệp hằng năm xấp xỉ 200 triệu USD, tạo ra 15.000 công ăn việc làm theo mia vu va 7.500 công việc cố định Y thức được du lịch văn hoá đem lại lợi ích cả về tinh thin va vật chất nên Chính phú Canada, Australia và dân bản xứ đã thành lập nhiều co quan chính thức

để xúc tiến và kiểm soát du lịch văn hoá nhằm phát huy mạnh mẽ lợi ích cho thé dân Nhà nước và các nhà chức trách giúp đỡ thổ đân người da đỏ làm du lịch văn hoá từ việc có chứng chỉ hợp pháp về sở bữu đất dai dễ được vay liền ngân hàng lập doanh nghiệp, trợ cấp vốn đến đào tạo bọ về năng lực tổ chức và quản lý doanh nghiệp du lịch, nâng cao ý thức bảo tồn

đi sản văn hoơá cho họ Cuốn sách hung dan du lich "Native Guide Safari Tours” cha Hazel Douglas - thành viên bộ lạc Quguyalanjis ở cực Bắc bang Queensland (Australia), với sự giúp đỡ ấy, đã được xuất ban và giảnh nhiều giải thưởng Nó giúp nhiều đoàn du lịch hiểu biết về công viên quốc gia Cap Tribulation và khu rừng Daintree — đều đã được xếp vào danh sách di sản thể giới của ƯNESCO Hazel Douglas chỉ rõ rằng, du lịch văn hoá không

chỉ đơn thuần là kinh doanh mà nó còn giảo dục người ta ý thức về văn hoá

thổ dân và bảo tổn nó qua thực lễ sinh động Ví đụ: Trong khi kế lại các

28

Trang 15

truyền thuyết và giải thích về nên văn hố cổ truyền, HDV du lịch đưa

những đồn khách vào bụi cây, giúp họ giải khát bang việc ăn phần bụng

ùa những con kiến xanh cịn sống, rất giàu vitamin C, dạy họ chữa rắn cắn

bằng rong biển hay nghe tiếng chim kêu gần bờ ruộng để biết cĩ cả sấu Ấn

nap nơi dĩ khơng Tại Canada, du khách cĩ thể tham gia nấu những mĩn ăn

cơ truyền của người dân bản địa như rong tảo nướng, măng biển dại của

Thái Hình Dương, sườn đê, thịt tuần lộc; chung sốnp cùng các gia đình Inuit

trong lêu trại; ngủ dưới mái lầu tipi; ngắm nghía và chụp ảnh những con bị

lơng rất dải, tập những điệu nhảy theo trống Cịn ở Australia, du khách

được học cách sử dụng vũ khí của thổ đân là boomerang, nghe kể chuyện cơ

tích, tham quan trại chăn nuơi đà diễu emu hoặc vào rừng quan sắt những

con thú lơng nhím ăn kiến và con vật rất đặc thù của văn hố Australia:

chuột túi kangaroo

Các vị bơ lão tại bai quốc gia này déu déng ý việc giới thiệu một số

hình thái văn hố bản địa, nhưng họ đều nhất trí rằng, khơng phải mọi điều

thuộc văn hố của họ đều được đem ra phơi bảy và chia sẻ hết với khách đu

lịch Du khách và các nhà tổ chức du lich van hố phải đề xuất những

chương trình thích hợp, thiết thực, dược xây dựng và cĩ thể kinh đoanh

trong sự tơn trọng văn hố của người bản xứ Giả trị tỉnh thần khơng phải để

mua bản Canada và Australia đều giải thích cặn kế về những tác động tiêu

cực cĩ thể xảy ra của du lịch văn hố cho cáo thành viên tham gia làm du

lich Trong nhiéu khu di tich va nhiều buổi lễ của họ, người lạ khơng được

phép tham dự Dù khách du lịch thất vọng nhưng dân bản địa khơng đồng

thuận với đu khách nếu đĩ là nguyên tắc Ví dụ, đu khách cĩ khi phải ăn

những chiếc bánh mỳ cèn đính lơng tuần lộc, ngủ trên sản xi mang va

phuong liện tắm rửa thơ sơ hay đơi khi lại thay thd din mae quần soĩc, áo

so mi cdc tay thay vi dong khố, Bởi dẫu cĩ cĩ gắng hết sức thì giữa văn hố

cổ truyền và văn hố hiện đại vẫn phải cĩ những “khoảng nhộ”, (tức là đu

khách phái chấp nhận cĩ một khoảng cách giữa điều ma hạ mong đợi và

thực tế khi đi du:lịch

Tai Venice (Italia), cdc nhà làm dụ lịch khơng hoan nghênh những: “đu

khách một ngày” Những khách du lịch ở lại vài ngày mới thực sự lâm lợi cho

:kinh tế địa phương, Do:vậy, họ tim moi cach để níu chân loại du khách này

¿Bằng việc xây dựng một cơ sở hạ tầng về cơng nghệ thơng tin chi dan ti mi

tác khir di tích, các hoạt động văn hố trong thành phố và giúp: khách đặt chỗ

trước Họ cho phat hanh mét tim "thé Venice” do dich vụ nhằm dem lai cho

du khach ở lại lầu những lợi ích mà người khác khơng được hưởng như:

quyền được cit npang đồng người đang xếp hàng chờ đợi, giám giá vé thăm

bao tang, vé tau xe đi lại, ấn tống tai nha hang, mua hang tai các siêu thi lon

và cĩ được những thơng tỉn về các sự kiện đặc biệt, Du khách nảo ở lại

Venice it nhất mt dém tại một khách sạn đã giữ chỗ trước sẽ được cấp miễn

phí tắm thẻ này Venice nĩi riêng và Italia nĩi chung đùng hệ thơng thong tin

từ ALATA (tổ chức quy tụ các thành phố của Ttaliay dé quan lý và phân bố các luồng du khách, chỉ rõ cho du khách kha năng giữ chỗ trước của từng thành phố Hệ thống thơng tin sẽ giúp họ đặt khách sạn rất hiệu quả Qua mạng, các cơ quan văn hố và đu lịch của Venice duoc két néi Venice da xây dựng thành cơng phương án phát triển du lịch văn hố bền vững, biến nơi đây

thành thủ phủ của một vùng đơ thị chuyên làm dịch vụ cho các doanh nghiệp

(từ xử lý dữ kiện dén thiết kế phần mềm và tài chính) trong ngành du lịch văn hố (như sản xuất các nhạc phẩm và kịch), trong nghiên cứu khoa học, làm dịch vụ cho các hội nghị Venicc cũng dã xây dựng mạng lưới giao thơng vận

tải tốc độ cao để nối Venice (vốn là một hịn đảo tương đổi khĩ ra vào) với phan con lại của khu vực Các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch

dang hồn tất đự án biến Venice thành thủ phủ của cơng nghệ cao và xử lý dữ

kiện Qua đĩ, sẽ khắc phục được sự cách biệt về vị trí địa lý của Venice thơng qua khả năng tiếp cận bằng điện từ Chính quyền ở Venice rất quán triệt quan diém ring, Venice ton tại khéng chỉ vì lý do du lịch thuần tuý, mà hơn hết phải gìn giữ một nền văn hố sống động và tiêng cĩ của ving dat nay,

Những Kear va Kasbah (nha cé va lang cổ) cha Maroc [a san pham du lịch văn hố ấn tượng nhất trong hành trình mà khách du lịch muốn được thưởng ngoạn Các tồ nhà cĩ cơng sự nằm cheo lco trên vách núi, được lảm

từ đất trộn rơm rất thu hút du khách say mê kiến trúc khác lạ, tính độc đáo

trong việc tổ chức khơng gian xã hội: Những ngơi nhà dank cho “mdr gia đình” này nằm sâu trong ngơi làng cĩ cơng sự với duy nhất một lỗi ra vào, mang kiến trúc phịng thủ, cĩ 4 tháp canh ở 4 gĩc nhà Nhà được xây 2 hoặc

3 tầng, cĩ sân thượng, mái bằng, dựa trên những xả bằng thân cây cọ Tầng

trên của các ngơi nhà được trang trí tất rực rỡ, Ý thức được những ngơi nhà,

ngơi làng này được làm từ vật liệu xây đựng khĩ chịu đựng nổi sự tàn phá của thời gian và biến đổi của thời tiết; Maroc đã tiến hành ting cường an ninh và giáo dục ý thức cho du khách khi tham quan một cách quyết liệt Họ

tờ th

Trang 16

để gia có toà nhà cổ bằng đất của họ Là một tuyệt tác thực sự vỀ kiên trúc

và phong cảnh thiên nhiên, dược công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới

năm 1987, Aitben Haddou là làng cổ đầu tiên được hướng chương trinh ©

ăn hoá

quốc gia bảo tồn cdc Kasbah tai Maroc, bdi 1

Maroe, Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP), UNESC O và

Tô chức I2u lịch thê €UNWTO), Hạ biết rõ lỗi trùng tu cỗ điển sẽ tỏ ra

ít hiệu quả nên vận động dan làng sống định cư Tạ a By, | báo: dưỡng mỗi

ngày, giải quyết dứt điểm đường vào làng

lũ, cung cẤp các thiết bị năng lượng mat tdi, »

giúp người dân yên tâm về cuộc sống, chuyên chú vào bao tổn nhà

fig làm sạch và tiên hành bảo tồn khu di tích, lập sơ đồ kiến trúc các ngô

nba trong làng, lập đồ án tổng quái lát pạch những con đường nhỏ, gia cố bờ

sông, xây cầu nhỏ thuận cho việc ra vào làng ngay cả khi lũ lụt khôi |

phục và làm mới một số đường bành lang có mái che, mặt tiên một số nhà,

dén thờ Hội giáo và những toà nhà được trang hoàng lộng lẫy Nhà chức:

trách Maroc tạm thời dùng việc coi các Ksar và Kasbah là san phẩm đu lịch

văn hoá địa phương, vì những di tich hay quá mỏng manh và quý giả, khế

chịu đựng được kiêu du lịch đại chúng 6 Š ạt Dân làng làm du lịch một cách

giản dị, khiêm tổn và có chừng mnực Họ làm phim về khu đi tích này, xây

đựng một cơ sở hạ ang chi gồm 25 cửa hàng tạp hoa ban san phẩm lười

niệm, 4 em cả phê có phục vụ ăn uống đơn gián và nghỉ trọ, 2 khách san,

nhỏ bé, tiếp dén chimg 400 khach/ngay Công việc trùng tu dé phục vụ du

lịch văn hoá bên trong các nhà — làng cô vẫn được tiếp tục từ từ Dân làng

đang học cách tự tổ chức tốt hơn Hiệp hội Ait Aissa (vi văn hoá và phát

triển) dược thành lập để theo đối sát sao công việc trùng tu và tham dự các

cuộc hợp về van đề này Đây cũng được cơi là một tâm gương để nhiễu làng A

cổ của các quốc gia khác học tập, trong đó có Việt Nam

Từ một sáng kiến của nước Pháp, mệt dự án gọi vấn đã ra đời nhằm

trùng tu và xây dựng nhiều lâu đài miễn Trung châu Âu từ sông Danubc đến

biển Baltie thành những khách sạn sang trọng để phục vụ du lịch văn hoá;

Số lượng lâu đài chừng 30 đến 40 dinh thu, nim doc theo sng Danube tai

bén nude Hungary, Slovakia, Séc va Ba Lan Đây vừa được coi là công vi

trùng tu di san văn hoá, vừa là nguồn thu nhập của du lịch văn hoá các nước

Trụng Âu này Việc nâng cấp các lâu đài được coi la một bộ phận của:

26

¿_a nên họ xin cả tải trợ của Nhà nước và ‹

chương trình đầu tư và phát triển đu lịch văn hoá sẽ gúp phần kêu gọi tải t TO

cho công việc trùng tu Dự án thành công dã đem lại cho các lau dai lịch sử

mội hoạt động sinh lợi Những người phụ trách dy án và tổ chức đu lịch

hoá đã làm tốt việc khai thác các đi sản văn huá này về mặt thương a oma không làm tổn hại giá trị lịch sử và văn hoá của chúng Tại bốn nước

Trung Âu này, những ˆ 'Öâu đài ~ khách san” đầu tiên đã được xây dựng gần

thank phổ, nổi tiếp đô sẽ phát triển tới cả những vùng xa xôi để thu hút

| - khách du lịch Họ gặp nhau ở ý tưởng cơi các công trình kỷ niệm là điểm dụ

- lịch hấp dẫn của mỗi quốc gia Do đó, họ coi Việc trùng ru chúng như là sự

đầu tư về cơ sở hạ tầng, ngang hàng với việc xây dựng sân bay, đường sa Bởi hiểm khi thu nhập từ du lịch văn hoá có thể bà lại dược chỉ phí về trùng

tực phép vay ngân hàng dải hạn,

;#uốt thập niên vừa qua, Ngân bàng Thể giới và Hội đồng châu Âu đã đồng ý dua ning dy an di sản vào một số chương trình của họ Ở cả bến nước nói trên, chỉ phí trùng ?u được nhà nước cho vay với lãi suất thấp và công

„việt này được nhà nước bảo trợ và khuyến khích, Một số tỗ chức tư nhân

:.cũng tải trợ việc sắp xếp lại các lâu đải, thuê hoa sĩ Anh, Pháp và kiến trúc

sư địa phương cùng tham gia tân trang nội thất, tuyển mộ tững nhà quản

lý, phụ trách, nhân viên có năng lực r đem lại hoạt động hiệu quả cho

„khách sạn, phục vụ du lịch văn hoá với một phong cách độc đáo và mang

màu sắc địa phương rõ nét Các nhà điều hành trùng tu và tổ chức du lịch có trách nhiệm bảo vệ khu đi tích trong thời gian nhất định, sau đó nhượng lại

việc kinh doanh ấy cho chủ nhân khu di tích (có thê

là tư nhân, có thể là

› nhà nước)

Nhu vay, ‘Trung Âu đã tìm ra một hướng hoạt động mới cho các lầu đài —

di sản văn hoá phong phú của khu vực Đó sẽ là nơi trưng bày những kho tảng quý giá của quốc gia, lam bao tàng mini, là nơi biếu điễn nghệ thuật, hoa nhac cỗ diễn, là khách sạn nghỉ ngơi của khách du lịch van hoa thay vi biến chúng thành nơi săn bắn của tầng lớp có đặc quyển, ký túc xá, rung tâm người tàn tật, nha cưỡng lão, bệnh viên, nơi cấm trại, trang trại của nhà nước hay nhà nuôi trẻ mồ cối, Một số lâu đài được cải tạo thành trung tâm

văn hoá, kết nối với các nhà thờ gần đó và các khu rùng bao quanh lâu đài tao thành những điểm đến của du lịch văn hoá rất hấp dẫn Các đạo luật về những công trinh kiến (rúc lịch sử dã được thông qua từ năm 1988, và từ đó đến nay, ngân sách phân bé cho nó không ngừng tăng lên Nhà nước hiểu rõ

47

Trang 17

việc phục hồi các đi sản văn hoá sẽ phục vụ hữu ích cho quảng bá văn ho

qué gia, phat triển du lịch văn hoá, góp phần nêu cao tính da dang của va

hoá châu Âu và là một phương thức hữu ich dé tăng cường kinh tê, đồng?

thời ánh cho đi sản rơi vào tinh trang hoang tan va dé nat Các di sản lâu)

dải dược tu bé mat tiền, mái, tranh tường, trần, định kỳ đã trở thành niề

hãnh điện về một quá khứ văn hoá kiến trúc tuyệt vời của châu Âu

Trên 20 năm cho dẫn nay, Chính phú Tây Ban Nha và lãnh đạo khu tự

sở hạ tầng mới và các toà nhà hiện đại Chính quyền họp công khai xin ý kiến nhân dân và đưa ra quyết khu trung (âm lịch sử là bất khả xâm phạm Các hoạt dộng đều nhằm bảo vệ không chỉ bề mặt và cấu trúc công tình từ thé kỷ XVH, XVIH mà còn cả bến trong các ngôi nhà Nguồn tai trợ nảy được nhà nước và tz nhân củng phối hợp chỉ trả Kế cả muốn thay một voi nude, chủ các ngỗi nhà cỗ cũng chỉ được phép lựa chọn trong số bến hay năm kiểu thiết kế Mỗi ngày, tại đây tổ chức được hơn 10 hoạt dộng văn trị Galicia (Tây Bắc lây Ban Nha) đã để ra một chương trình triển khai đ hoá (bản tròn, dạ hội, hội nghị, thuyết trình, hoả nhạc } Toản bộ khu tự trị

lich văn hoá đây tham vọng cho khu tự trị, đó là giao thông xoay quanh) - này là một ngôi vườn lớn với những cây ô lu bằng đá - điều ma du khách

thành phố Compostela và đường đến Santiago Tám cộng đồng tự trị có con không gặp ở bất kỳ đâu, Nhìn xa, thành phố này gợi cảm xúc cho đu khách

đường này đi qua đã đầu tư kinh phí dáng kế nhằm vạch lộ trình cho khách” ˆ piu bién cd tràn vào đất liền, như đang ở mảnh đất huyền thoại Cùng với

hành hương bảo vệ các lăng tâm, đền dải lịch sử nằm dọc tuyến đường nà) clam thanh phố khác được công nhận là Thành phd Van hoa chau Âu bao

Họ rải nhựa các con đường mà khách bộ hành đi qua và hiện đại hoá các) gồm: Praha (Séc), Reykjavik (Iceland), Avignon (Phap), Bergen (Na Uy), nhà nghĩ Nhiều tô chức hoạt động văn hoá và du lịch tư nhân cũng ủng hộ? Helsinki (Phần Lan) Cracow (Ba Lan), Bologna (llalia), Bruxelles (Ri),

hoạt động này Họ thiết kê ra Pelegrin (biéu trưng của may mắn) cho khu tử) - Saniiago de Compostela 14 mét (rung tâm đu lịch văn hoá có thương hiệu, là trị, các chiến dịch quảng bá, triên lãm lưu động về điểm đến của du lịch văn một gợi ý hữu ích cho các nước khi xây đựng định hướng phát triển loại

hoá tại Santiago được thực hiện ở Mexico, Munich, Sao Paulo, Ncw York} hình du lịch văn hoá này : : _ :

Bruxelles, London, Santiago de Chile, Dublin, Paris, Toulouse, Bordeau:

Những toà nha bing granite kiểu kiến trúc baroc và tân cổ điển của trung

tâm lịch sử Santiago dc Compostela (dược công nhận là Di sản Văn hoá Thể

Tại một số nước thuộc Địa Trung Hải, chính phủ xin ý kiến và tận dụng trí tuệ tập thể” của các nhà tư vẫn xuất sắc vé du lịch và văn hoá với ước

giới) trở thành “nguyên liệu” văn hoá của chiến dịch quảng bá du lịch văn” mone phat mies ¬ là ae a hit fe ie shave

hod nay Có chín con dường khác nhau đỗ về trung tâm hành hương rất lớn? Xây đựng những “tượng quốc đu lic +h” tren bai cát đọc th ° bờ hie ou

nay cia Tay Ban Nha Du khach toi day nếu hoàn tất (hủ tục đí bộ hoặc đị gia và dặi tên dự án du lịch văn hoá của họ là “Bem uh neo vy be

ngựa Ít nhất 100km boặc đi xe đạp 150km với tam lòng tự nguyện và mộ sống ” Du khách được sống dưới ánh nắng chan hoà, dạo chơi sẻ ne tt ee

dạo thanh tỉnh sẽ được phong tặng danh hiệu “người hành hương ” Nhiều thang trong một cửa hàng ăn hay bán đỗ lưu niệm của địa he ni ies

đại hội liên hoan ca múa nhạc, triển lãm, trình điển ánh sáng và âm thanh tại nghỉ ngơi của khách du lịch có khi rt don giản, chỉ là vải tiếc lên cà, lẹc

dây đã biến một trung tâm hành hương lớn thành một địa điểm du lich van) tà biển Họ quan niệm chất lượng dịch vụ chỉ là một vấn đề ——

hoá cực kỳ thu hút, từ các khoản dầu tư của nhà nước và tự nhân, thed nhất là tìm ra được phương tiện biểu hiện heen Vị của thôi a a ae

nguyén the "cùng làm du lịch văn hoá, đôi bên đều có loi” Thanh pho ti cuộc sống Các câu lạc bộ giải trí dược xây Am và có ee cố "` v

có cơ hội lý tưởng đề thực hiện các chương trình du lịch văn hoá higu qua) chine dia phương, dem lại thu nhập và việc BÀ cho ho “Tà khinh được

côt1õi là đu lịch tâm linh ` thưởng thức cả chua Tunisia, thịt cừu nướng của Maroc do người Becber

- Khu tự trị Galicia va Santiago de Compostela luôn luôn bao ton qu nấu và được sưởi ấm dưới ảnh nắng của Tây Bạn Nha Với một iobr đu lịch

thể kiên trúc đây ân lượng của họ, lâm điểm là nhà thờ Thành phổ rất tÔf văn hoá từ 8 đến 15 ngày, rất khó khăn khi giúp du khách hiểu được thực sự

trọng quy hoạch phát triển đô thị, Họ bảo vệ tất cả các ngôi nhà cô ba về mội đất nước, nhưng cũng đủ giúp họ được thưởng thức phần nào hương

quanh quần thể kiến trúc thành phố, kết hợp hài hoà khu phố cỗ với các sốt vị của đất nước Đó là mục đích của hoạt động du lịch của chính quyền ving

ae

Trang 18

Địa Trung Hải, Các câu lạc bộ giải trí này không được phép can thiệp quả

sấu vào văn hoá của địa phương, luôn ý thức được sức chứa du khách vào

những ngày lễ hội địa phương, ngăn chặn kịp thời các nguy cơ “thuỷ triều

du lịch”, Những người lãnh đạo các câu lạc bộ này cố pắng phát hiện những

điểm du lịch văn hoá mới, ở những nơi xa xôi, héo lánh, có vẻ đẹp thần bí

để làm du lịch văn hoá Sau đó, họ liên hệ với các chính phủ vùng Di

Trung Hai dua diện và nước sinh hoạt én, xây đựng sân bay, đường số với

nguyên tác “có thể thực sự phát triển mội cảnh quan mà không lu? hoại ý

nó." (Gilbert Trigano) Họ đã làm du lịch văn hoá rất xuất sắc tại Cancun:7

(Mexico), Agadir (Maroc), Jerba (Tunisia) từ những vùng đất hoàn toàn

trước đó không làm du lịch Họ chủ trương không xây nhà cao tầng, không:

sử dụng bê tông trong xây dựng, trồng rất nhiều cây, hoa và quy hoạch vườn

tược theo thiết kế của chính phủ Ở những nơi này, các chính phủ rất cổ

nguyên tắc khi dưa ra những đạo luật nhằm đóng khung ngành du lịch, buộc

nó tuân thủ, tôn trọng văn hoá địa phương

Irong thập ký 60 của thế ký XX, Bali (Indonesia) không có một khách

du lich nao Ong Jawaharlal Nehru, Tha tuéng đầu tiên của Ấn Độ độc lập,

gọi Bali là “bình mình của thé giới, Vốn Indonesia không thiện cảm với

du khách nước ngoài Idonesia chỉ trở thành địa chí du lịch quốc tế quan

trọng khi những khách sạn lớn được xây dựng, các công ty hang khong mo

các chuyến bay déu dan Danh tiếng của hòn đảo Bali cũng dan dan Jan rộng 7

tới quảng đại quần chúng, bởi Bali đã góp phần quan trọng vào thành công

của cách mạng xanh ở Indonesia, đưa sản lượng nêng nghiệp tăng lên gấp

đôi Bali đặc biệt được ca ngợi trong công nghiệp may mặc Ngành hoạt:

động này thu hút du khách bốn phương với thương hiệu “may cất tại Bali”

Các băng hình được sản xuất tại Hollywood đã quảng bá rộng rãi hòn dao:

này Tiến bộ không nhất thiết làm tổn hại văn hoá Bali là một ví dụ về vider

làm đu lịch văn hoá tốt Du lịch văn hoá đem đến những thành quả tích cực

cho Bali Dau tiên, nghệ thuật biểu diễn truyền thống được thức tỉnh Thực

tế là có it sản phẩm nghệ thuật chất lượng bán ngoài thị trường nhưng Bali

coi đấy là nền tang rộng rãi để sản xuất với quy mô hạn chế hơn những tác

phẩm nghệ thuật tỉnh xảo, chất lượng cao Các nghệ sĩ múa khi xưa biểu

điễn cho quý tộc cung đình, nay không còn không gian ay nữa, ma thay thé

pang san khẩu tại các khách san Nhưng quan trọng nhất là họ được hát,

được nhảy múa, được làm nghề, Mhu cầu cao của du khách nước ngoai

:miiốn chiêm ngưỡng nghệ thuật truyền thống của họ đã giúp họ có điều kiện

phục hỗi nghệ thuật truyền thống

Bali có n

số cẩm nang hướng dẫn du lịch đạt mức độ xuất sắc Sách

không chỉ liệt kê đơn thuần các khách sạn, quán ăn và những lời khuyên

thực hành mà đã đem đến cho du khách dầy đủ thông tin về múa, nhạc, lễ hội, kiên trúc, âm thực, phong tục địa phương, một cách chất lọc, đầy đủ

và giúp họ có kỹ năng hoà nhập nhanh với đân cư địa phương Bali đã đầu

1ừ.kinh phí và năng lực trí tuệ vào soạn thảo các cuốn chỉ dẫn du lịch này, cho rằng một cuốn sách hướng dẫn du lịch phải chứa dựng nhiều điều hơn một cuốn số tay chỉ dẫn các điều thực tế cần làm Sách hướng dẫn cụ thể về

tôn giáo địa phương cho khách du lịch để giảm thiểu rủi ro có thé xây ra do

vạ đập văn hoá, tâm quan trọng của tục hành hương, phong cách sống của

các mu viện Thành công của Bali về du lịch văn hoá xuất phát từ rất nhiều

nguyên nhân, ong đó có lý đo là đã cho ra dời một cắm nang du lịch văn hoá chuyên nghiệp, giúp du khách tiết kiệm tiền bạc, tránh dược sự lúng

túng, tại nan và rủi ro, làm cho chuyển di của ho an toàn và phong phú Sách

hướng dẫn du lịch dạy du khách biết cách gắn bó đu lịch và văn hoá lại với nhau một cách hài hoà tại Bali (Indonesia)

Van hoa Lao chi thi: “PAdi lam nhiều việc để duy tri, phat triển và truyễn

dat cho giới trẻ những hình thải ph vật thể của nên di sản như vũ, nhục, thơ

ca, mia ri Am nhac cb truyền vẫn rất ‹ ng động, nhảy múa dung khỏi sắc Du lịch văn hoá là nhân tổ thúc đây tình hình này”,

Trang 19

âm hại môi trường văn hoá, Dù vậy tôi sống cỗ truyền của Luang Prabang

ii rât.duyên dáng và quyến rũ đối với khách du lich ưa quan sát Trên sông,

Mekong, ¢ doan gần thành phố, thuyền gắn máy ồn ào không được phép

chạy mà phải neo đậu 6 xa Các hoại động tôn giáo ở chùa, phụ nữ dệt cửi ở

chân nhà sản, thợ kim hoàn mài đề trang sức, các cụ bà sắp xếp lễ vật dâng

lên chùa, là những cảnh tượng của đời sống thường nhật đã cuốn hút du

khách nước ngoài Vào địp lễ hội tôn giáo hay, sắc tộc, đặc biệt lễ hội đầu :

năm mới của Lào vào giữa tháng 4, du khách đến rất đông Diễu hành, nhảy

múa, rước Phật Phra Bang — vị than che chở cho thành phố diễn ra trọng thê

và tươi vụi Cùng với hội hè, nhiều buổi lễ trơng các gia đỉnh ở dây cũng

khá thu hút, họ mời cả du khách văng lai dến nhà với thái độ chân tình và

hiếu khách Người Lào giản dị, hiền lành và thực bụng — cũng là nét bản sắc

1rong tính cách nhân dân luôn được khách đu lịch cá ngợi

“Từ năm 1990 đến nay, Lào đã trùng tu hoàng cung và những ngôi chùa

đẹp nhất thành phố, Dẫn dẫn, họ thấy rằng, vẻ dẹp của Luang Prabang là

tổng thể: không chỉ là kiến trúc chùa chiền mả còn là những toà nhà bao

quanh và thiên nhiên ở đây, vườn cây, công viên, hoa lá Họ kẻ biển quy

định phạm vi khu vực bảo vệ thành phô cổ, thực hiện đự án xử lý nước thải

phát triển đô thị có quy hoạch, khởi sự các hoạt động kinh tế hiện đại chỉ

trong giới hạn là khu sân vận dộng mới phía dưới thành phê cổ

Thành phố đã có hơn 600 toà nhà được xếp hạng Bản thân thành phế là

Đi sản Văn hoá Thê giới năm 1995 Nhà cửa được phục chế trên tỉnh thần

tôn trọng kiểu dáng truyền thống Thành phố cho trùng tu và xây dựng lại

theo thiết kế cỡ nhiều Koutis, nơi ở của các nhà sự — kiến trúc tiêu biểu của

Luang Prabang Những ngôi chùa đẹp đã được tân trang lại Hình ảnh

thường thấy trong chùa là các chú

những gia đình nghèo dến chùa ở để theo học phổ thông nhờ sự tai tre cha Ỹ

các tín đồ

“tổ chức đóng vai trò chủ chốt trong việc khôi phục thành công di sản

kiến trúc của Ïuang Prabang có tên gọi là "Ngôi nhà dí sản”, quy tụ nhiề

Bộ trong Chính phủ và nhận được viện trợ của miột số rước khác Đường

phố và bờ sông Mlckong, cùng các chỉ lưu của nó đã được tổ chúc này ưu

tiên khởi phục Những ngõ hém dẫn tới toà nhà Lung Khamlck được làm

hoa hip dẫn của cố dé Lao Người dân ở đây thường đến tổ chúc "Ngồi nhà

đi sản” 48 xin tư vấn và giúp đỡ khi xây dựng, sửa chữa, mở rộn nhà trong khu vực dược bảo vệ dễ đảm báo là các đự án phải hai hoa với kiêu đáng chung của thành phố, không dự án xây dựng nào được tiến hành n bu không dược tổ chức nảy phê duyệt Ở dây thực hiện cá dự ấn giúp các nà

sư chú trọng bảo tổn tính xác thực của đi sản tôn giáo, phục hồi một số kỹ

thuật truyền thông riêng của giới su sãi như hoạ hình trên: giấy nến, sơn mài,

thếp vàng, chạm khắc hoa tiét tn giáo Dự án này được tài 1rợ của Chính

phủ Na Uy

Chính phủ Luang Prabang luôn đựa vào dân chúng, tôn trọng ý kiến phân dân và quan (âm tới lợi ích của họ khi bảo tồn đi sản Họ đánh thuế

vào các hoạt dộng đu lịch vấn hoá ở mức độ vừa phải nhằm tạo nguẫn vốn

trợ cấp cho việc sử đụng những vật liệu xây dựng cổ truyền bởi chỉ phí cho vật liệu nảy khá đặt tiền Nhờ sự hỗ trợ của Liên minh châu Âu, UNESCO

và Chính pha Phap, Luang Prabang đã thực hiện phân tích các loại vật liệu

cổ bị quên lãng (vữa trát, vôi, đất nhải rơm, ) tại các phòng thí nghiệm nước ngoài Họ cũng giúp dố đô Lào thiết lập sự hop tac “phi tap irung hod” giữa Luang Prabang với Chimon thành phố miền Trưng nước Pháp — trong một dự án cùng nhau làm đu lịch văn hoá từ di sản chẽ ô ông để lại

Lãnh đạo và dân chúng hai thành phổ nhận thức quán triệt được di sản văn

hoá vốn rất mỏng manh và phải có ý thức cao độ về giá trị của chúng khi khai thác, phục vụ du lịch Họ cùng nhau soạn thảo những văn bản pháp qu hữu liệu cho lộ trình bảo tồn di sản Lãnh đạo thành phế Luang Praban: ne một thái dộ tốt và tích cực đối với di sản Và điều lớn nhất mà luan Prabang được đánh giá cao khi bảo vệ di san văn hoá và làm du lịch văn hoá hiệu quả, đem về nguồn lợi đáng kế cho kinh tế cố đô Lào là lòng tốt và tính hảo hiệp của người đân thành phố này Mọi kinh nghiệm quý giá của các nước bạn đều trở thành tắm gương vả bài học cho việc tiến hành, thiết kế, kinh doanh và tổ chức du lịch văn hoá ở nước ta Ké cả sự thành công bay thất bại của các nước đi trước chúng †a về đu lịch sẽ giúp Việt Nam thực hiện thành công hơn những chương trình du lịch văn hoá tại nơi vốn được cá

ngợi là có một bề dày văn minh —.văn hiến lâu đời

33

Trang 20

2 Kinh nghiém phat trién du lich van hoa & Viét Nam

2.4, Du lịch văn hoá được xem là hướng phát triển của ngành dụ lịch -

Việt Nam, phù hợp với bối cảnh nước ta Các diém du lịch văn hoá ở Việ

Nam chủ yếu khai thác các di tích lịch sử, di tích văn hoá, kiến trúc, nghị

thuật biểu diễn truyền thống, khu vực tế chức lễ hội, làng nghề và âm thực

truyền thông Du lịch văn hoá Việt Nam lôi cuốn du khách quốc tế đặc biệt

ở các bản làng tộc người thiểu số, các khu đi sản văn hoá thể giới và các |

hoạt động du lịch văn hoá mang tính chất vùng - miễn (Du lịch Diện Biên, #

Con đường Di sản miền Trung, Lễ hội Đất phương Nam, Festival Huế )

Được sự đầu tư từ các tổ chức quốc tế, từ Nhà nước, các đi tích cấp

quốc gia và các khu dĩ sản thê giới được quan tâm nhiéu hon Ha tang vat

chất cho du lịch được xây dựng và nâng cấp Công tác trùng tu tôn tạo di

tích được thực hiệu Cổ dô Huế, Hội An, Mỹ Sơn, Văn Miếu - Quốc Tử ;

Giám, Lăng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, được cơi là những địa chỉ đồ trọng 4

các tour du lịch văn hoá đến Việt Nam của du khách trong và ngoài nước Š

Một số làng nghề truyền thông được chắn hưng, phục hồi như: gồm Bát

Trảng, thêu Quất Động, lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hô, ; nhiều lễ hội như:

hội đến Hùng, hội chủa Hương, hội Lim, hội Chọi trâu, rất thu hút khách

du lịch Một số làng bản của đồng bào dân tộc thiểu số đã có hoạt động du

lịch văn hoá tạo tiếng vang như bản Đôn (Đắk Lak), ban Lac (Mai Chau),

ban Pác Ngôi (Ba Bế), bản Tả Phìn, bản Hỗ (Sa Pa),

2.2, Đã có các tour đu lịch văn hoá chuyên để, chủ yêu là đưa dụ khách

đến tham gia và tham quan lễ hội Những tour kết hợp dược nhiều hoạt

động như vừa tham dự lễ hội, vừa tham quản, tìm hiểu lỗi sống, phong tục

dan cư thiểu số, cách thức tổ chức du lịch cộng đồng, nghiên cửu đi tích:

lịch sử — văn hoá còn ít, các sân phẩm đu lịch văn hoá này chưa lôi cuỗn dủ

khách vả cũng giới han déi tượng tham gia Một s it tour du lịch vin hod

đã có thương hiệu như: “Có? đường xanh Tây Nguyên”,

Việt Nam"

Đề tăng cường việc giới thiệu hình ảnh dất nước, tăng thu nhập du lịch

và kéo đài thời gian lưu trú của du khách, các tour du lịch văn hoá đã được

kết hợp với nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, sinh thái,

'5 Vũ “Thể Bình, Một số vấn đề về du lịch văn hoá ở Việt Nam (trong Một con đường tiấp

cận di sán), Cục Di săn Văn hoá, 2008, 1.160 167

tour phong phú, linh hoạt, đáp ứng nguyện vọng nhiễu dối tượng khách nên

GO sur thu htt cao, Tat nhiên, việc kết hợp du lịch văn hoá chất lượng cao với

khai thác các điểm du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch thật Hợp lý là

không đơn giản Irong những tour du lich tổng hợp như vậy, Bởi lẽ, tài nguyên lễ hội mang tính mùa vụ, Các tài nguyên khác nhau có thời gian

khai thác khác nhau Tour dụ lịch văn hoá chất lượng cao đòi hỏi HDV phải

có trí thức và sự hiểu biết xã hội rộng rõi, ngoại ngữ tốt, nghiệp vụ day dan

Như vậy, khi chú trọng phát triển cả hai loại hình tour (chuyên đề và tổng hợp) là chúng 1a đang phát triển du lịch văn hoá với mục tiêu bằn vững, vính

5 đanh bản sắc văn hoá Việt Nam và mang lại lợi ích kinh tế

2.3 Các sự kiện du lịch (festival du lịch, lễ hội du lịch liên hoan du lịch, năm du lịch, ) và các sự kiện văn hoá (tuần văn hoá, liên hoan sân khẩu nhỏ và vừa, ca nhạc, phim, ) suốt thời gian qua được tổ chức khắp cá

nước Các sự kiện du lịch liên quan đến văn hoá đều được bai ngành văn hoá và du lịch kết hợp với nhau, bước đầu đem đến nhiều kết quả đáng

khích lệ, nhiễu biến chi yên tích cực như: tăng lượng khách nội địa đi chuyên giữa các vừng miễn, lượng khách đu lịch quốc tê đến Việt Nam, văn hoá của các xóm làng, đô thị, vùng miền dược tôn vình và quảng bá tới người đi du lịch, khôi phục và gin giữ lối sống, phong tục tap quan, lễ hội,

am thud, các di tích lịch sử văn hoá, nghệ thuật biểu diễn truyền thống

Festival Huế, Lễ hội Pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng được tổ chức định kỳ, Lễ

hội Văn hoá Âm thực Thế giới tại Vũng Tàu năm 2010, là những thực tế

sinh động thể hiện rõ ước vọng chung của cả hai ngành văn hoá và đu lịch là đáp ứng nhu cầu tìm hiểu văn hoá Vi tệt Nam của du khách, nâng cao lòng tự hào về đất nước của nhân dân Bên cạnh đó, cũng vẫn còn một số tồn tại trong sự phối hợp này tại một số điểm đi tích, một số địa phương về quản lý

đã tích Lớn nhất là quan niệm: “ăn hoá xáu, du lịch phá” làm ảnh hưởng đếp hình ảnh quốc gia, gây tâm lý chưa tốt cho khách du lich

2.4, Du lich vin hoá là xu thế mới của phát triển du lịch Việt Nam đã được xác định tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Dong A - Thái Bình Dương, tại Huế tháng 6/2010 với trên 150 đại điện các nước khu vực châu Á tham

di Cac tour du lich van hoá hướng tới việc xây đựng nội dung phù hợp với thị trường khách trọng điểm là Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu và Bắc Mỹ

Xây dựng các sản phẩm du lịch văn hoá chất lượng cao như tour chuyên đề:

Văn hoá sông nước đồng bằng sông Cửu Long, về với miền Tây Nam Bộ,

35

Trang 21

cur chuyên để di

du lịch miệt vườn Nam Độ, văn hoá miễn núi phía Bắ

lễ hội, làng nghề xuyên Việt Chấn hưng các làng nghề thủ công

tay ồn thống, các sân phẩm du lịch văn hoá phải đáp ứng được như cầu mua

sắm của khách du lịch Du khách phải được tham quan và tham gia vào

một hoặc vài công đoạn cơ bản của quá trình sản xudl ra san phẩm do, tao

cảm xúc và bắc cầu để du khách hiểu được tâm hồn và tài nghệ của người

Việt Nam

Tiện nay, Việt Nam đã và đang tiếp tục thực hiện dự án báo tồn và phát

huy giá trị Khu di tích Chú tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, xây đựng

khu di tích thành một sản phẩm dụ lịch văn hoá hoàn chinh gém'*

sản,

~— Có các mặt hàng lưu niệm phù hợp với tính chất của đi tích Biên soạn

các Ấn phẩm giới thiệu về đi tích

~ Xây dựng tuyển điểm du lịch đặc thà kết nối hệ thống di tích va Bao

tảng Hồ Chí Minh trên cả nước, tạo ra sản phẩm du lich moi: nghiên cứu,

ông và nhân cách Chủ tịch Hồ Chỉ Minh

hợc tập từ tưởng, đạo đức, lỗi ị

— Đảo tạo HDV thấu hiểu từ tưởng Hồ Chí Minh, có nghiệp vụ bảo tảng ;

tốt, piúp du khách tiếp cận các giả trị văn hoá trong các di tích và kỷ vật về

Chủ tịch Hà Chí Minh trong khu di tích

Cuỗi cùng, Việt Nam đã xếp hạng được gần 3.000 di tích cấp Quốc gia |

phục vụ du lịch văn hoá, UNBSCO đã công nhận các di sán văn hoá Việt 2

Nam là Di sản Văn hoá Thế giới: Cô đồ Huế, Hoàng thành Thăng Long,

Khu di tích Mỹ Sơn, Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian Văn hoá Công -

chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù, Hội Giỏng, Di sản văn hoá Việt 7

Tam không chỉ được tôn vinh má quá du lịch, được giới thiệu rộng rãi ở 3

trong nước và rước ngoài

Với việc xác lập cáo cơ chế, chế tài phù hợp, Nhà nước và nhân dân

cùng tham gia vào sự nghiệp chống xuống cấp các di tích lịch sử văn hoá;

hé trợ phát triển bảo tảng, Các đi tích lịch sử văn hoá trong nước, các bảo

tảng, các Di sản Văn hoá Thế giới tại Việt Nam đã, đang và sẽ trở thành

những dịa chỉ cụ thể của nguồn lực phát triển kinh tế và du lịch, đặc biệt là

" Dang Van Bai, Fé van dé Bao vé va phat muy gid tri cita cic di tích lưu niệm dánh nhân -}

(trong Äfô! con đường tiếp tận dĩ sản văn hoá, tập 4), Cục Di sản Văn hoá, 2008, tr.128

Câu hỏi ôn tập và bài tập trắc nghiệrn

deo Tinh bày một số kinh nghiệm phát triển du lịch văn hoa trén thế giới, Trinh bày một số kinh aghiệm] thực tiễn phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nai

Kinh nghiệm làm du lịch văn hoá thành công ở các quốc gia khá:

c nhau đối với

a) Bai học tốt khi phát triển dụ lịch văn hoá

b) Chiến lược đứng khi phát triển dụ lịch văn hoá

c) Ước mơ đẹp khi phát triển du lịch văn hoá

d) Là những gợi ý có tính chất tham khảo, %

47

Trang 22

Các kỹ năng cơ bản khi nhận điện và khai thác

các giá trị văn hoá

1, “Chất bột" để “gội nên AO” cho du lịch văn hoá phát triển bền vững

la dựa vào bai đạng tài nguyên nhân văn vật thể và nhân văn phi vật thể,

trong đó:

| Tài nguyên nhân van vat thé

~ Di sản văn hoá thé giới vật | — Di sản văn hoá thé giới truyền miệng và phi vật

thé thé

~— Di tích lịch sử văn hoá, danh ¡ — Các lễ hội truyền thẳng ị

thắng cấp quốc gia và da | - Nghề và làng nghề thủ công truyền thẳng |

|

Tài nguyên nhân vẫn phi vật thể |

|

~— Gác cỗ vật và bảo vật quốc | _ Văn hoá âm thực

gia — Thơ ca và văn học

~ Gác công trình đương đại — Văn hoá ứng xử, phong tục, tập quán

— Văn hoá các tộc người

Các phát minh, sáng kiến khoa học Ị

~— Các hoạt đông văn hoá, thể thao, kính tế, xã hội

có tính sự kiện

2 Kỹ năng cơ bản khi nhận điện và khai thác các giá trị văn hoá vật thể

và phi vật thê của đi sân để phục vụ du lịch văn hoá:

2.1 Nhận diện

~ Xác định không gian của di sản văn hoá vật thể và phi vat thé (quốc A

gia, vùng, miễn, rỉnh, phương hướng, toạ độ, )

— Xác định thời gian của di sân văn hoá vật thể và phi vật thể (xuất xứ,

~ Xác định các yếu tế tương tác (chủ yếu trong di sản văn hoá phi vật tha)

bao gồm: (1) Nhà cung ứng du lich, (2) Chinh quyén dia phương, (3) Dân cự

địa phương và (4) Khách du lịch Trong đó:

» Vai tro chủ quan của khách đu lịch (họ cần gì, muỗn gì? ),

~ Vai trò khách quan của khách du lịch (ba yếu tố tương tác: nhả cưng ứng du lịch, chính quyền địa phương và dân cư địa phương muốn nì, cần al

ở khách du lịch?), + Vai trò kỳ vọng và được kỳ vọng của người đân địa phương (người đân cần gì, muễn gì từ hoạt động du lich? Du lịch dựa vào cộng đồng dan cur

như thế nào?)

2.2 Khai thác

Xác định các công đoạn du khách co thé tham gìa vào hoạt động dụ

lịch tại điểm có di sản vật thể (đình, chùa, dền miễu, ) và điểm có di sản

phi vật thê (lễ hội, làng nghề, trình diễn âm thực, )

- Xác định giá trị “vật chất” của đi sản vật thể (vật liệu tạo/tác, kỹ thuật

lấp, nghệ thuật trang trí, tạo hình, chạm trỗ, ) và di san phi vật thé

(nguyên vật liệu nấu ăn, các nhạc cụ, đạo cụ phục vụ nghệ thuật biểu điễn, )

— Xác định giá trị “tinh shdn” cha di san vật thê (yêu tổ tâm linh, huyền thoại, giai thoại, sự tích, các yêu td “chim”, “nhod” do bién động thời gian, những điều bí ân ) và của đi sản phi vật thể (bí quyết nấu ăn, niêm luật thơ

ca, cách thức thực hiện sản phẩm thủ công truyền thông )

~ Xác định vai trò ý nghĩa thực tiễn của di sản văn hoá vật thể và phi

vật thê ây đối với nên văn hoá dân tộc

- Xác định những nội đụng và hình thức cụ thể của đi sản văn hoá vật thé va phi vật thể

Mọi cách phân chia dều mang tính tương đối Đôi khi chung ta có thể

nhận điện và khai thác những giá trị văn hoá phì vật thể rại những đi sản văn hoá vật thế như định, chùa, đền, miếu, Đôi kbi trong các hương ước, luật tục, chúng ta lại tìm thấy những cứ liệu để bổ sung sự hiểu biết, nhận điện

và khai thắc các giá trị văn hoa vat thé Hay nhìn bằng “com mắi xanh” để

y được phép khai thác phục vụ du lịch,

39

Trang 23

thấy ánh sáng lấp lánh của những di sản ngàn đời chúng ta dang nắm giữ,

giới tiện cho du khách tìm hiểu, quan sat và khám phá để thêm hiểu, thêm

văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam

Câu hói ôn tập và bài tập trắc nghiệm

4 Cách hiểu về kỹ năng nhận diện không gian và thời gian của đi sản văn hoá

2 Cách hiểu về kỹ năng xác định các yêu tô tương tác Cho vị dụ cụ thê Nhận điện và khai thác các giá trị văn hoá vật thể

3, Cách hiểu về kỹ năng xác định các công đoạn du khách có thể quan sải hoặc | Lo ——Í

tham gia Cho vi dy cu thé

4, Cách hiểu về kỹ năng xác định giá trị vật chất va tinh thản của di sản Cho ví

dụ cụ thế

5 Kỹ năng xác định yếu tế vật thể hay phi vật thể cúa di sản văn hoá phục vụ du

lịch văn hoá đựa tiên:

a) Không gian của di sản

b) Thời gian của di sản

©) Cách thức đưa di sản vào nội dung của chương trình du lịch

d) Cả 3 đều sai

Lấy đình, chùa, đến làm ba đối tượng tiêu biển nhằm thực hiện cụ thể việc nhận diện và khai thác này, các bước tiến hành cho từnp loại đi sản văn hoá vật thể nói trên được cụ thế hoá như sau:

1, Bình làng Bắc Bộ

1.1 Kỹ năng nhận điện 1.1.1 Xác định không gian (xem tình 1, phụ lục 1) Khi xây đựng một công tình kiến trúc truyền thống cần chọn được

hướng tốt, trong đó hướng nam, đông nam được cha ông ta nhận định là hướng lý tưởng nhất Song có khá nhiều đình làng không theo hướng chuẩn

này mà thoo địa thế cụ thể của làng, chiều hướng của sông, núi, chiền con

nước như đình Chèm, đình Đông Ngạc (Hà Nội) lại nhìn về hưởng bắc vì đây là hướng nhìn ra sông Hồng Một HDV cần xác định được hướn g chính của ngôi đình đề giới thiệu cho du khách nét khác biệt này cũng như có những giải thích phù hợp: Việc nhận diện một ngôi đình không quay về hướng nam hay hướng đồng nam truyền thống mà có những địa thế đặc biệt

sẽ đem lại cho du khách những trải nghiệm mới lạ, kích thích trí tò mò và

ham muốn khám phá fìm hiểu những điều khác thường ngay từ phút đần tiên tiếp cận với di sản

2 Ệ — Sau đình làng gọi là ñậu án hay hậu chẩm — cần cao, bền và vững

chấc, trên thực tế thưởng là núi, gò, thân đấi cao,

Trang 24

~ Hai bên đình làng: Bên trải đình làng gọi là bên tả (Thanh long)

‘Thank long cao vạn trượng, trên thực tế là cây cao, núi cao, Bên phải định

làng gọi.]a bên hữu (Bạch hỗ} - Bạch hỗ tuyệt đốt không đhợc ngắng đầu,

trên thực tế là gò thấp hay cánh đồng,

Khi đứa khách tham quan đình, HDV cần nhận diện được ngoại quan

tổng thể để chỉ rõ cho du khách những vị tri mang tinh then chết của ngôi

đình, bởi địa thế ngoại quan của đình làng được hiểu là một phần quyết định

vận mệnh của làng Trong đời sống, người đân thường tránh né phạm hướng

đình như không để hướng cửa, mỗ mả ngược hướng dinh làng, tránh hướng

dầu đao, đầu hồi đỉnh đâm vào của Dịa thế của đình quyết định và chỉ phối

phong thuỷ cho cả làng

Sau khi nhận diện ngoại quan cúa đình, cần xác định mặt bảng của ngôi

dinh dược bố trí theo hình thức nào Từ thế kỷ XVI, với các đình Tây Đăng,

Chu Quyến (Ha N@i), c6 mat bing hinh chit “Nadi” Sang thé ky XVII

dén thé ky XTX, do nbu cầu sử dụng, thờ tự ngày một biến đổi, đề đáp ứng

phu cầu của làng, thoả mãn vai trò của mình, đình làng có bố cục mặt bằng

hình chuôi vỗ, chữ 'M/”, chữ "7m", chữ "ương ”,

4.1.2 Xác định thời gian

Xác định chính xác nguồn gốc đình làng là một việc khó Theo các tư ¡liệu

cô thì từ “đinh” đã xuất hiện vào dầu công lịch Xa hơn nữa, hình ánh ngôi

nha chung trén trông đồng Ngọc Lũ thời Hùng Vương có thé gợi cho chúng,

Ta một hướng suy nghĩ về nguồn pốc đình làng có liên quan đến hình ánh này

‘thé ky XVI — XVID, xã hội Đại Việt trượt đải trên con đốc khủng

u sắc, văn hoá dân gian phát triển mạnh mẽ, đó

hoảng, mâu thuẫn xã hội

chính là nguyên nhân ra đời hàng loạt loại hình nghệ thuật giàu tính dan ẵ

gian, trong dó có đình làng

Trên cơ sở các di tích hiện tổn, ngôi đình làng với kiến trúc gỗ như hiện

nay có niên đại thời Mạc là sớm nhất như: đình Tây Đằng (Hà Nội), định

Thuy Phiêu (Ba Vì, Hà Nội), đình Lễ Hạnh (Bắc Giang), đình Phù Lưu (Bắc

Ninh

trước tải liệu hoặc tham khảo bản giới thiệu về lịch sử tại di tích dễ cung cấp

cho du khách những thông tin về thời gian khởi công, xây dựng dình cũng '

như các thời điểm trùng tu Từ đó có thể vận dụng kỹ năng "z& bụi thời

gian” hay "ngược dòng lịch sử” mà kê câu chuyện thần thoại về lịch sử xây

dựng đỉnh hay bóc tách từng lớp văn hoá của mỗi thời kỳ thê hiện trong

nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật, trang trí tại đình làng

Khi xây dựng một ngôi đình, cần thực hiện một số nghi thức quan trọng sau:

— Lé Phat méc Nghĩa gốc là chð/ cấy, tượng trưng cho việc don mat bằng để làm đình Thường là lễ thành hoàng, cúng thổ thần, tổ sư của phường thợ, cúng chúng sinh để bố cáo việc xây dựng đình làng

- Lễ Động thổ: Là lễ để bắt đầu dựng đình Đây là ngày quan trọng của

tả làng với các thánh viên tham dự như: các vị chức địch chính quyền, các

cụ tiên chỉ, thợ ca, phường thợ, sư sãi, dân làng,

~ LỄ Thụ trụ: LỄ bảo công với thành hoàng và thế địa về việc đựng cột cái, một khâu khởi đầu cho việc dựng bộ khung đình

— kê Thượng lương: Lễ này đặt cây nóc lên nóc đình, ghi rõ ngày, tháng, nấm, miện hiệu đời vua nào hoàn thành đình lang Đây là lễ quan trọng nhất

và phải chon được thời khắc boàng đạo

= Lễ Khánh thành: Người ta làm lễ vào đình, cúng thành hoàng làng bản

thô, lam *7é an thé” hay 18 “diéw hod long mạch" để bỗ báo cho thé dia, thần kỳ (người giúp việc cho thé dia), chúng sinh và thập phương biết đình

đã hoàn công

HDV cần có kiến thức về các nghỉ lễ này để có thể giới thiệu khái quát

cño du khách như một hình thức cưng cấp thông tin, hoặc cỏ thé phân tich sâu trong những tour du lịch chuyên biệt, khi mả du khách đặc biệt quan tâm tới các vẫn đề liên quan đến tín ngưỡng, tâm linh, nghỉ lễ thờ cúng, luật tục,

1.2 Kỹ năng khai thác 4.2.1 Xác định khả năng quan sát và tham gia của du khách

Định làng có chức năng của một công trình công cộng, có vai trò trung tâm văn hoá của làng xã, là hồn vc của một làng bởi sự tích hợp da chức năng của đình làng, TIDV cần xác định những chức năng khác nhau này của mỗi ngôi đình dé giới thiệu cho du khách, đặt đu khách vào trong tương

quan vị trí như một người dân của làng đề thâu hiểu và cảm nhận hết giá trị

và công dụng của ngồi đình;

~ Chúc năng tín ngưỡng: thu hút tâm lính con người, từ đó đình làng trở

thánh trung tầm của văn hoá lảng xã, là biểu tượng cao đẹp nhất trong tâm

thức cư đân làng xã Bắc Bộ Đình làng thờ thành hoảng làng, xuất xứ có thể

khác nhau do hoàn cảnh cụ thể của mỗi làng nhưng vị thần ấy gồm:

Trang 25

+ Tie nhiên thầm: thần sông, thần núi, thần đất, thuy thin, than cây

Nhân th

cắc vị có công khai khẩn đất hoang, mở làng, lập ấp Các nhân thần như: Bồ

Gái Đại Vương (dinh Triều Khúc, Hà NộU, Đào Lang Vương (đình Chu

Quyển), Linh Lang Đại Vương (đình Yên Xá, Hà Nội), và các vị tổ nghề

như Thánh Vũ An (đình Triều Khúc, Hà Nội) Sau này các triểu đại sau có

sắc phong một số vị thành hoàng là thượng đẳng thần

- ông tổ nphễ, anh hùng chẳng ngoại xâm, chống thiển tại,

+ Mậi thân: những con vật chết vào giờ thiêng, những công cụ nghề

ng dược thờ như thành hoàng,

nghiệp

Các cấp của thành hoàng chia làm ba cấp từ cao xuống thấp là: Thượng

dang than, Trung đẳng thân, [lạ đảng thân Thành hoàng không chỉ là một

mà có khi là nhiều vị được cùng thờ ở một thời điểm hay được đời sau phối

hợp thờ để tưởng nhớ công on Thanh hoàng làng là vị vua tỉnh thân, vị thần

hệ mệnh của làng Những câu chuyện thần thoại về các vị thành hoàng làng

chính là tâm điểm của bài thuyết minh, tô đậm mâu sắc huyền bí và gợi lên

ở du khách sự hấp dẫn, tò mò bởi những điều khác lạ, diệu kỳ HDV cũng

cân hướng dẫn để đu khách thực hiện nghỉ lễ thờ cúng và cầu khắn pha hop

với mỗi vị thành hoàng làng khi đến tham quan đình làng

~ Chức nững hành chính: Đình làng là trụ sứ hành chính của làng, giải

quyết các công việc chưng của làng như họp làng, nơi các chức địch làm

việc, thu thuế, bắt phu, thông báo, tập trung chẳng giặc, chẳng thiên tai,

Giờ đây, đưa du khách đến đình làng, HDV có thể tận dụng không gian đình

lang dé thực hiện một số hoạt động nhóm hoặc ngoại khoá chung cho cả

đoàn khách như họp mặt, gặp gỡ, trao đối, bàn bạc, giao tiếp với dân địa

phương, để du khách phần nào cảm nhận tính chất ngồi nhà chung của

đình làng

— Chức năng văn hoá: Dinh làng là nơi diễn ra nhiều sinh hoạt văn hoá

của làng như dién chèo, hát xoan, lễ hội, ; điễn ra các tập tục như vinh quy,

phạt vạ, Khi xây dựng chương trình du lịch văn hoá, các công ty lữ hành

có thê chọn đỉnh làng làm nơi thực hiện một số hoạt động lập thể của đoàn

khách như ăn trưa, thưởng thức âm thực địa phương, xem trình diễn nghệ

Thuật truyền thông: chẻu, hát xoan, múa rTôi, tại đình làng, Nếu thời gian

tham quan của du khách trùng với lịch tô chức lễ hội của dink làng, du

khách có thể quan sát các nghi lễ cũng như tham gia các hoạt dộng chung

của các lễ hội này, chẳng hạn như:

Các tục kéo co, đánh cờ, chọi gà, bắt vịt, bơi chải và các trò diễn đân

gian khác xung quanh lễ hội,

Trong Hường hợp thời gian tham quan không trùng với lịch tổ chức lễ hội, HDV cần sử dụng kỹ năng kế chuyện để tái biện phan nao khang khi lễ hội của làng, giúp du khách được sống trong không khí nảo nhiệt và đầy hấp dẫn dó

1.2.2 Xác định giá trị "vật chất” và “tỉnh thân” của định làng

(xem hình 2 phụ lục 1l)

Các giá trị cân nhận ciện và khai thác — | Lưu ý đối với HDV

HDV cần chỉ rõ hệ thếng

khung cột cho du khách quan

sát, giới thiệu các đặc trưng

cơ bản cũng nhự tình nang

kiến trúc, kết câu của mỗi bộ

Là mội hệ thống phức tạp bao gồm:

Hệ cột: Côt chỉnh là cột cải, cột nhô là cột

quân, cột ngoài hiên là cột hiền, cột ớ trên

mà không chẳng xướng nên gọi là cột trốn

Kết câu cột đình rất bên vững với “đâu cán

Hệ cân, chân quân cờ”, phân với kỹ thuật lồng ghép ôn

khung ' Hệ khung: Gôm quá giang chạy ngang | định và có thẻ thảo lắp, thay

Sột mái, nổi hai cột cái với nhau, các thánh | thể khí trùng tụ

Hệ mái đình có nhiều giả thuyết như hình con thuyén

úp — mội dạng biến thế của

mái nhà sản, hay nhà rông

của các dân tộc thiểu sé

phần khác như: xả thương, xà hạ, xã

nách, câu đầu, pon rường, đấu Việt, ké,

bay, bay hiễn,

Hệ mái: Bộ mãi đình làng với 2 mái chính,

hai mái hồi, tỷ lệ 2/3 so với tổng chiều cao

Con trào phong (hay còn gọi là con kim)

thường có ở hai đầu nóc:

Con lân thưởng bám ớ dọc mái chạy xuống

bến đầu đao, mình tròn, bờm bay ra sau, trên

Các người thường trang trí các vân xoáy, từ thời

thành _ | Nguyễn thì được ghép bằng mảnh gốm xanh

phân | Đâu đao: theo mô thức Leng quai, Phuong

HDV cần chỉ rõ các chỉ tiết này

cho du khách quan sát cũng

như giải thích ý nghĩa "nh :

thần" sâu xa ẫn chứa bên

trong mỗi chỉ tiết,

Theo quan niệm dân gian

trảo phang thuộc họ lân, tỷ

của mm là rồng quay lại châu cling chim | hưu, toan nghệ nó có sở

mãi phượng đang hướng: mỏ lên như đang | thích gọi gió Lân đại diện đỉnh mớm mồi cho sắm, chớp,

Phải chăng các hình tượng

trên liên quan đến tục câu mùa, cầu mưa của người Việt,

ở Bắc Bộ? |

Dưới đầu đao, nơi gắn hai đầu hai tàu mái là

một lưỡi cây, dưới lưỡi cây là một hình trạng

trí kiến trúc có hình dạng giống bông lúa

Trang 26

nhau, cách nhau khoảng 10 - 18cm Khi hội

hop, dan fang phân ngôi thứ ngồi theo các cấp của sản đình

Gian giữa cô ban thờ thánh, phía ngoài là tòng nước Theo quan niệm dân gian, nơi

này là nơi các linh hồn của thể giới âm chui lên giao tiếp với dương thê nên không được

thoại về đình

~ Thưởng Ihức nghệ thuật

diễn xưởng truyền thông như

hát chèo cửa đình, hát xoan,

múa rỗi,

HDV có thể hưởng dẫn dụ khách cách nhận biết và quan sat phần “lông nước” lĩnh

thiêng của ngôi đỉnh

Đà tài thân thoại, linh thú:

— Rồng ở đầu du: với kỹ thuật chạm lộng,

rồng vươn về trước, tỏc va bom bay ra sau, _ biên đầu du vốn là một phần của kiển trúc thành một chỉ tiết trang trí thú vị, rồng vốn là

uy quyền nhà vua bỗng thành phúc than

Long vương (xem hình 7, phụ lục 1)

— Réng 6, Phuong ỗ: Với tự duy như tranh Đông Hô: tranh lợn đàn, gà đàn chắng hạn, ròng ổ, phượng ổ xuất hiện khá độc đáo phá

đi cách nhìn của ta vến thấy rồng đi theo

cặp, chẳu mất nguyệt hay rồng phượng đùa

giỡn Ở đây, rồng mẹ và lũ rồng con,

phượng mẹ va đân phượng con nghịch ngợm, nững nju

~— Hinh ảnh những giống vật khác cũng được trang trí khá phổ biển: hồ, voi, hươu, ngựa, voi, thach sung, chudt, lợn, đêu được diễn

tá trong những tu ti h động

Đề tài sinh hoạt đời sông với các bức côn

chạm khắc nỗi bật như đánh cờ ở Chu

Quyên, me ganh con & Tay Đằng, đầu vật ở

Phù Lưu, bơi trải ở Hương Ganh, cảnh uống rượu ở Thổ Tang, cánh đi sẵn, hội làng ở Ngọc Canh, trai gái lắm ao sen ở Đình Bảng được chạm khắc một cách tinh té va

đẩy nghệ thuật trên những hình thù méo,

lệch, dải ngoang hay ngắn ngúi cho thấy bản tay tài hoa vô song của các bac thay cham

i Ì khắc dân gian

HDV can chi va phan biet sự

khác nhau của các kỹ thuật

chạm lộng, chạm kênh bong,

chạm nông, đã làm nên những

giả trị tuyệt vời ấn chữa trong

mỗi tác phẩm nghệ thuật trang trỉ

tại đình tàng dưới bản tay tải hoa

của người thợ dân gian

HDV giúp khách phân biệt và

quan sát sự khác nhau về hĩnh tượng rồng trong các dạng thức

Khác nhau như đứng một mình,

kết hợp với các hoa văn tự

nhiên, kết hợp với các linh thú khác, kết hợp thành một đàn rộng mẹ rằng con,

HDV cân hiểu rõ được ý nghĩa

của mỗi hỉnh tượng trang trí này

điều vẫn diến ra ngàn đời

Đã tài liên quan đễn lực lượng tự nhiên

hư bức Long vân khánh hội, Long an van,

| Phuong an van @ đình Lễ Hạnh (Bắc

Giang), đình Hương Canh (Vĩnh Phúc), đình

Hiến (Hưng Yên), Phương múa ờ định Đình

Bảng (Bắc Ninh), đỉnh Mộ Trạch (Hải

Các hình tượng liên quan

đến tục cầu mưa của người

Việt được đề cập với tự cách những hình tượng hãng xuyên trong trang trí truyền

| trồng lúa nước | HOV sử dụng kiến thức nảy,

để có sự đổi sánh đổi với Ì

trang trí mỹ thuật Phật giáo

của chùa Bắc Bộ, |

mai, lan, cúc, trúc hoặc tùng, cúc, trúc,

tài Phật giáo xuất hiện không nhiều

Thich Ca liên hoa ở đình Phủ Lưu (Bắc

Có thể lấy một đình làng diễn hình làm ví dụ cho việo ứng dụng kỹ năng

khai thác gid trị văn hoá của văn hoá vật thể để phục vụ du lịch, cụ thể ở đây là đình Chu Quyến,

[ñ- Ngoại

quan

Ì Cột đình

L_ khá lớn tạo nên mái tt

Hình chữ °NhẬP” (~), hai gian ba chải, cụng thờ nằm ở gian giữa

Có những ưu thê của khoa Kham dụ (Địa lý) nên Chu Chảng là vùng nhất;

cận thị nhị cận giang với chợ Chàng lớn nhất xứ Đoài, cụ thẳnlà: Minh đường (phía trước) là hồ Thuỷ Quân, xung quanh là một cánh đồng rộng

phẳng và sáng Hậu án (phia sau) dụa vào làng, cốt lẫy an bền làm thể ỷ

đốc, Thanh Long (bên phải) là sông Hồng cuộn chảy, tạo thành thế Thanh

Long vạn trượng Bạch Hỗ (phía trái} ngoi trông xa có núi Ba Vì làm thế |

Bạch Hỗ ngồi Tứ phương (bỗn hưởng) mình bạch, long mạch ngoảnh

châu, thực là thê phong thuỷ lợi cho an cư iac nghỉ |

Hệ thống cột ở đỉnh Chu Quyến có chu vị khoảng hơn am Gam 48 cét,

6 hàng dọc và 8 hàng ngang Trong đó có 4 cội cái, 20 cội quân và 24

cột hiên Các cột lớn được cầu tạo theo kiểu "Đầu cán cân, chân quân

cờ", cảng lên cao thì cảng thoái nhỏ lại Cột cái to hai người ôm mới xuổ

Các cột quân nhỏ hơn không nhiều Chiều cao của các cột ngoài tháp, tỷ

lệ giữa các cột cái ở giữa và cội ngoài cùng này có sự chênh lệch nhau

Trang 27

Mai dinh

nh có bộ mái xoở rộng, nêu chía toàn thề chiêu cao của đỉnh làm 4 phần thì mái đình chiếm 3 phần Mái đình vừa rộng vừa thấp, phù hợp

với công năng sử dụng của dình là nơi fụ họp đông người và lại pỉ hù hợp

với khi nậu Bắc Bộ nhiều bão Mái đình lợp ngói mũi hải Các đầu đao

dài có độ dốc thoai thoải kéo dài uốn cong, gắn bốn con lân (Lân là linh

vật trong tử linh mà qua tạo hình có yếu tố của tứ pháp nhự mây, mưa,

sắm, chớp) Diễm mái trang trí hình hoa phanh bằng gốm thường thấy Ở các di tích thời Nguyễn

thành từng lop theo hinh chữ: U chạy vòng quanh 2 gian chính hai bến

Gấp thấp nhát là giữa các cột cái cao hon mat chút là giữa các cột cải

và cột quân, cắp cao nhất là vòng ngoài từ cột quân ra cột hiên Mỗ lỗi cắp sản chênh nhau chừng 15cm Sự cao thấp của sản đình để các chỉ họ

theo vai về thứ bậc mà ngôi theo quy đỉnh họ tộc mỗi khi cổ hội hè, đỉnh

đám, việc làng

Quanh sàn đình là dãy lan cán thấp mang tính trang trí nhưng thực ra là

lôi kiên trúc của nhà sản Lan can có hinh con tiện thường xuất hiện ớ các kiến trúc Nguyễn, phù hợp với thời điểm trùng tụ đình Chu Quyến

vào năm Tự Đức thứ IV (Tự Đức đệ tứ tuế thứ niên hưng công trùng tạo) ghi trên văn bia

đất chui lên đự lễ nên không lát gạch mà dễ nên đất, khu vực nảy nhận

ảnh sáng tự nhiên là để thông thiên Đây là ché ma tréi dat giao hoà nên

nó có vị trí quan trọng trong đình làng Nửa còn lại là ban thờ cũng với khu cửa võng

4 Trang iri Sử dụng nghệ thuật chạm khắc phủ điều, được thế hiện ở tất cả các bộ

phân từ các cột gỗ chợ đến các vị kèo, ván gỗ, ván hiện, Đây là một hệ thống mô phóng lại cuộc sông của con người xã hội thời xưa, thể hiện nhiều nội dụng khác nhau như rồng phượng, sinh hoạt con người, mãnh

thú, gia súc, cây cô, hoa la (xem hình 4, phụ lực 1)

Cửa võng

ban thờ

thánh

Bổ cục thảo hình vuông với kết cầu 3 tặng, nhiêu môtfp trang trí mô tả về

tằng trên nRư Tiên cuối phượng, Lưỡng Long châu mặi trời, Rồng ngậm

ngọc, chạm khắc ẫn hiện trong những cụm mây lửa, xen cùng hình hoa lá '

tất rõ rệt j

biến thể, biêu hiện cầu mưa, cầu nước của †ư duy nông nghiện 'Tạo hình nhận vật và hoa lã rất gắn với con người thực theo lỗi dân gian, vừa mang tự cách vũ trụ vừa có tính chất phúc thân

Đầu dự

Hình đâu rồng với độ dải khoảng gần 1m Nhìn chung các đầu ròng

giống nhau về hình đảng nhưng khác nhau về chỉ tiết trang trí Đầu rồng cham lng, rau và bờm bay ngược về đẳng sau, ức và chân đạp vươn ra trước làm cho rỗng nhự đang vượt thoát ra từ cội đình, cho vòm mái có

hướng cao vút lên một cách thanh thoát, Mặt ròng dữ tợn nhưng không i

đe doạ, rồng không còn của riêng hoảng cung nữa mà là Long Vương,

than làm mưa, truyền tái ý nghĩa câu mưa thuận gió hoà

Tổng số là 24 chiếc, trang trí với nhiêu đề tài khác nhau như thục vật và

linh vật Khác với các bỗ cục hình học ở đầu Bảy trên các định cô niên,

dai thé ky XVII trở về sau, nghệ nhãn sử dụng bè mặt của đầu bay lam mặt bằng trang trí Lỗi thể hiện trên các mặt bằng méo mó này là đặc trưng của nghệ thuật đỉnh làng Hoa văn ni trội là hình lá 3 chẽ ở dau bảy hiên đâm ngược lên

của cư dân'Š2 :

Thanh xa

Những hình ảnh quen thuộc của cuộc sống (đảnh cờ, đua thuyền, múa |

i hat, ) qua sự Sáng tạo đã trở thành tác phẩm nghệ thuật với vẻ đẹp

dé tài binh dị, gần gũi và thế hiện những nguyện vọng, mong ước của người

Cham khắc tục cầu mựa của cư dân nông nghiệp lúa nước, không còn là hình tượng

_" riềng của triêu đình, vua quan (Long ~ gắn với than mura Lan — có tao

hình nhắc ta nghĩ vê chép, gió và mây Quy ~ gắn với thuỷ thần và

Phượng có sự cách điệu từ con gà báo hiệu nhịp vận động của Mặt

Trời, ) Gác bức chạm nỗi bật như Rồng lửa, Rồng ô, Rồng chấu,

Phượng Õ

tinh thú

L

Chạm khắc ¡ Đề tài này thường thấy là voi, hỗ được thể hiện dữ tợn nhưng lại co dang

mãnh thú và | vẻ con người thuẫn phục — là ước vọng chỉnh phục thế giới tự nhiên của

gia súc người dân, hoặc trâu cày, ngựa cuõi là các mẫu hình đời thưởng, ngợi ca

công lao bạn nông của trâu hay tình nghĩa của loài ngựa

Có thể nói, đình làng ra đời đã bồi đắp cho văn hoá Việt thêm giàu có

Dinh lang trong không gian làng xã đã trở thành biểu tượng của người Việt

với những giá trị lâm linh, văn hoá, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, trang trí

Tiếp cận với đình làng là tiếp cận một khía cạnh cốt lõi về bản sắc văn hoá

V lệL Nam nhằm khai thác những giá trị ấy phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu và nghiên cứu của du khách trong nước và quốc tế

® Thxo quan điểm của PGS.TS Trần Lâm Biển

49

Trang 28

2 Chùa Bắc Bộ

Z.1 Kỹ năng nhận diện

2.1.1 Xác định không gian

Khi xây dựng chùa, Việt Nam chịu ảnh hưởng thuật phong thuỷ của

Trung Quốc, luôn chọn thể đất thích hợp với thiên nhiên làm cho cảnh trí

thêm thuận đẹp thông thường người ta chọn khoảng đất bên trái rộng,

trống hoặc có sông ngòi, ao hồ; bên phải đất cao đầy; trước mặt có minh

dường hoặc hồ rộng trồng sen, xây thuỷ đình hoặc vườn chùa tạo cảnh sắc

thiên nhiên như núi đá, cầu,

Một số chùa đã lợi dụng luôn dịa thể để tạo nên những công trình đẹp

như chùa Hương — Hà Nội, Yên Tử ~ Quảng Ninh, với một tổng thể công

trình kiến trúc phối hợp hài hoà cùng thiên nhiên kị ến khách thập phương

hành hương tới đây đều cảm thấy Phật giáo đã dẫn dắt thế nhân thoát dẳn

nơi trần tục và đến gần với cõi Niết bàn

Tam quan là kién trúc cổng có bá cửa, nằm phía trước công chùa, bao

gầm Trung quan ở giữa, bên trái là Không quan (cửa Không), bên phải là ‘

Giả quan (cửa Theo kinh Bát nhã ba la mật đa: Không và Sắc là

quan hệ hai chiều, chúng không phải là hai mà là nhất thể: Sắc bất đị

Không, Không bắt dị Sắc nhưng Sắc tất thị Không, Không tất thị Sắc

Kinh Phật nói rằng: Ly 1 cái lông thô chia làm 7 lần (cơn số phiếm chỉ

không đếm được, chỉ sự nhiều vô lượng) được hồng trần, đem hằng trần

chia tiếp được vi trần, đem vi trấn chia tiếp dược hạt Sắc biến té Hướng

(thực chat la Hat co ban), do duyén ma ty lại thành các vật chất khác

nhau: Không — bạt cơ bân/ Sắc — vật chất, Tư tưởng nảy phù hợp với

thuyết Hạt cơ bán và thuyết Bảo toàn năng lượng (Fất chất không tự Ã

nhiên xinh ra, không tự nhiên mất đi, chỉ chuyển từ đạng đãy sang dạng |

khác), Chiếc cổng lớn Tam quan này đôi khì được thay thế bằng một gác 7

chuông (chùa Trăm Gian Hà Nội), hoặc đơn giản chỉ là bến cột trụ;

cũng có khi lại có cả bến cệt trụ, cA Tam quan tạo thành hai, ba lần công

như ở chùa Láng, Hà Nội (&%em hình 6, phụ luc 1)

Qua tam quan thường bắt gặp h sen có vai trò giải quyết van về nước

hay vi khí hậu trong khuôn viên chùa, ngoài ra nó còn được coi là cửa ngõ

của cối 7w” phủ, nói lên sự mong cầu hồng ân của Phật pháp thấm nhuần ị

xuống cối thuỷ Hồ sen có hình tròn, nói lên tính trạm viên, tròn đầy của bản

tâm con người khi đến Phat dai

50

Ỹ é

4

S nguồn gốc từ kiến trúc toà phù để (Stupa) của Phật giáo Ăn Đệ

- chạy đản nhiễu quanh tháp Tháp thường vươn theo chiều

cing là một tán lọng hoặc búp sen,

Tiếp đến, ở sân trước hay bên chính điện có bảo tháp xây bằng đá hoặc

bằng gạch, đây là một bộ phận quan trọng trong kiến trúc Phật giáo, Tháp có

, được sử

dụng như vật tiêu biểu chính và là công trình trung tâm của ngôi chùa, Từ

ï những toà tháp nguyên thuỷ Ấn Dộ, khi sang các nước Á Đông cũng như

Việt Nam đã biến thành những toà bảo tháp được dựng lên không chí để làm

ky niệm mà còn lưu giữ xá lợi hoặc các di vật bình bát, tích trượng, áo mũ, kinh s „ được coi là những vật thờ tôn kính của đạo Phật

Đa số tháp được xây dựng ở một vị trí riêng biệt, tiện chơ việc hành lã

a 1 „ không phát triển chiều ngang, rộng nơi chân bệ, chiều cao chia làm nhiều tầng theo số

lẻ, có những vành mái ngắn nhô ra để nhân rõ từng tầng của chiều cao, lrên

it Theo sé lượng các tầng của tháp thì có

thể phân loại thành: tháp 3 tầng là tháp Tổ chủa; tháp 5 tầng là tháp La hán;

tháp 7 tang là tháp Bồ tát, tháp 9, 13 tang thé Phat (vem hình &, phụ lục 1)

HDV khi tiếp cận dối tượng tham quan cần quan sát nhanh để có thể giới thiệu cho du khách tổng thể ngoại quan của chùa và giải thích ý nghĩa của các thành phần liên quan dến kiến trúc chùa như hồ sen, tam quan, bảo tháp, đồng thời có thể so sánh với ngoại quan của một số ngôi chủa lân cận hoặc một số ngôi chùa nỗi tiếng khác

Tiếp đó, IIDV cần xác định mặt bằng của ngôi chủa được bố trí theo hình thức nào dựa trên tài liệu đã chuẩn bị trước hoặc các bản đồ hướng dẫn tại đôi tượng tham quan Trong một số trường hợp, mặc dù đã chuẩn bị trước tải liệu song có thể có sự khác biệt với thực dịa du tài liệu sách vớ chưa được cập nhật với các lần trùng tu mới của chùa Phần lớn các ngôi

chùa có hình thức “nội Công ngoại Quác " (E8) hoặc các hình thức khác như:

~ Chit “Pink” (1): Bên ngoài rộng 3 gian, 7 gian,

(Nam Dinh)

~ Chi “Cong” (1); Hay ndi Cong ngoai Quéc (rong chữ Công, ngoài

là chữ Điền), điển hình là chùa Dâu — Dắc Ninh) Cũng có chùa "nội Dinh ngoại Quác", như chùa Láng (Hà Nội)

whe chia Tie Mac

° CC) chữ “Tam” (=) nhu chia Tay Phuong (114 Nội), chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Keo (Thái Bình), bao gồm một tổng thể nhiêu công trình dơn lẻ, có hành lang bao quanh hoặc tường vây quây kin,

31

Trang 29

Niêu bổ cục ngôi chùa theo kiêu “nội Cổng ngoại Quốc” là hình thúc

phd biến hơn cả thì nhìn chung kiến trúc chùa bao gồm: một điện thờ hình

chữ “Công ” CE), một dãy hành lang bao quanh ba mặt và một sân rộng

'Khu trừng tâm là điện thờ Phật của chùa, thông thường bao gồm ba ngôi

nhà nằm kế tiếp nhau :

— Tiên đường: là căn nhà ngoài, nơi các Phật tứ tụ tập dâng hương, lễ

cầu Phật Hai bên có thờ các tượng Đức Ông, hai pho Hộ pháp

— Thiéu hương: nơi đết hương, đành cho Phật tử lễ bái

~ Thượng điện: gọi là Tam Báo của chùa, gồm nhiều tượng Phật dặt trên

các bệ xây từ thấp tới cao, tượng trưng cho sự tu hành và đắc đạo của đức

Phật dang thoi biểu hiện các triết lý của đạo Phật

Ngoài khu trung tâm nói trên, trong kiến trúc chùa còn có thể có một

đấy hành lang, ở trong cùng thường là nơi đặt bàn thờ và tượng các vị La

Hán, Lịch đại Tổ sư hoặc phối hợp cùng hành lang hai bên làm nơi nghỉ cho

khách thập phương

Kết thúc kiến trúc khu chùa là một day nhà Tổ (nơi sinh hoạt của các trụ

+, cũng có khi khu này riêng biệt ở kế bên khu chùa)

2.1.2 Xác định thời gian

Trước khi có sự du nhập của văn hoá Ấn — Hoa vào lưu vực sông Nhị

Hà thì Văn Tang Âu Lạc đã ôm chứa trong minh mét nên văn mình Lạc

Việt với những phát minh đẳng thau, những thành tựu đáng tw hao trong thể

giới cổ đại

Những năm dầu Công nguyên, Phật giáo du nhập tới Giao Châu, hình

thành nên một trung tâm Dâu trong bêi cảnh văn hoá Luy Lâu (Bắc Ninh)

Nếu khi nói đến văn hoá Luy Lâu là nói đến Nho giáo với trường học chữ

Nho đầu tiên do Sĩ Nhiếp lập nên, thì khi nói đến Irung tâm Dâu là chúng ta

đang nói đến nội trung tâm Phật giáo Giao Châu, một trong bạ trung tâm

Phật giáo lớn nhất châu Á thời cỗ đại với khoảng 20 ngôi chùa tháp, trong

đó nổi bật là chùa Pháp Vân, phú Thuận Thành, Bắc Ninh (Thế kỷ H sau

Công nguyên) Mơi đây có thể coi là đình trạm của Phật giáo trên dường

du nhận từ Trung Hoa vào, là nơi tiếp nhận và phát huy văn hoá, kiến trúc,

mỹ thuật Phật giáo từ phương Bắc tới Bởi vậy, cho đến ngày nay, Bắc

Ninh vẫn là vùng đất đặc biệt có nhiều đấu tích của kiến trúc và mỹ thuật

đến chép là hình nhọn Tháp chia làm 5 tầng, thêm một bệ cao ở bên đưới

và một chóp đài nhọn ở bên trên Giữa mỗi mặt tháp gần như hình vuông, ở

mỗi tang 1a m6t khém hinh chit nhat, bén trong ngw toa mét hình tượng

Phật Mỗi cạnh tháp, mỗi tầng đều có gờ nổi lên tựa nhự trụ vuông dữ đà ngang cho mỗi tầng mái

Sang giai đoạn sau, kiến trúc chủa tháp là cơ sở tự viện và cũng là

nơi để truyền bá Phật pháp Irong chùa chủ yến là thờ Phật “zêz Phật, hậu Tổ" — phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ Song một số chùa ở Việt

Nam, ngoài thờ Phật còn thờ thần (chùa Thầy — Hà Nội, chùa Láng — Hà

Nội thờ ngài Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông), thờ Tam giáo (Phật — Lão ~ Khong)

Theo tiến trình lịch sử, có thể khái quát như sau:

~ Thời Lý, Phật giáo phát triển nên ngôi chùa Việt có vị trí khá quan

trọng trong đời sông xã hội nói chung và trong mỹ thuật thời này nói riêng

Có ba thê thức cơ bản là: ‘

L Quốc tự ~ hành cung được xây dựng với hai mục đích rõ rệt là chùa thờ Phật và nơi vua sử đụng làm hành cưng nên quy mô chùa bao gềm Phật điện, hai bên và phía sau là các khu kiến trúc khác như nhà †ăng, thư viện, hành củng của vua và các nhà liên quan khác Thời nảy chưa nhiều tượng nên quy mô Phật điện không lớn Qua tư liệu lịch sử và khảo sát thực dịa, các pho tượng dều đặt trong tháp nên tháp thời này có vai trò của Phật diện chứ không đơn thuần là tháp mộ sư như thời gian sau, và đều gọi chung là tháp Phật như: tháp Long Đợi (Hà Nam), xây vuông, cao 13 tầng, lòng tháp đặt tượng Như Lai Đa Bảo; thấp “Đại Thắng Tư Thiên Hảo tháp” (Bảo

Thiên, Ha Nội) có tự cách nhu dai chién thing với 12 tầng; tháp Chương

Sơn; tháp Tường Long; tháp Phật Tích Những tháp này đến nay my chỉ còn nên móng nhưng đã gợi ý về những ngôi tháp mang tính chất Phải điện

+ Quốc ty (chùa đo triều đình bảo trợ xây dựng): Những chủa tiêu biểu

cho loại kiến trúc này là chùa Bà Tắm (Gia Lam, Hà Nội), chùa lương

Lãng (Ilưng Yên) Dặc thủ của kiến trúc này lả có mặt bằng khá rộng Qua

hai cấp tới Phật đường là một toà nhà có mặt bằng gần vuông Trung tâm Phật đường thường có một bệ lớn để đặt tượng Phật

5305

Trang 30

~ Đầm tự (chùa đo đân xây dựng): Hình thức ngồi chùa đơn giản, quy

mô, nhỏ, chỉ đủ phục vụ việc lễ bai thường nhật của dân, việc tu hành của

nha su hay các công việc nhà Phật trong phạm vi một vùng dân cư nhất

định Chùa loại này thường được hiển là am (Hương Hải am) Ngôi chùa là

Trần

Có thể nói kiến trúc chùa thời Lý có dạng chùa tháp (Stapa — Bảo Tháp),

luôn có tháp đá làm trọng tâm của bổ cục chùa, là nơi nối kết các tang trời,

Khi hành lễ, người ta di theo chiều ngược kim dồng hồ quanh tháp dễ cân

sinh lực của vũ trụ (chiều sinh)

Chùa thời Lý chỉ thờ một tượng Đức Phật, chẳng hạn như Tượng Phật

mình vàng cao sáu thước (chùa Phật Tích - Bắc Ninh), tượng Như Lai Đa

Bảo ở chùa Long Đọi (Hà Nam), tượng Đức Phật (chùa Hương Nghiêm —

‘Thanh Hoá), tượng Phật Như Lai mình vàng (chùa Linh Xứng — Thanh

Hoả) Tượng Dúc Phật thờ ở thời Lý thường được hiểu là vị Bản su Thích

Ca Mau Ni hay Dite Nhu Lai Da Bảo nên chùa thời này được bài trí một

tượng Bản sư và đặt trong tháp Tượng Phật giáo thời Lý có cải vẻ mơ

mang, phi phẩm mà tượng các thời kỳ sau khó có thể có được nhưng

2 va nighiém túc theo kinh điển

thể hiện rõ chức năng của mình, quy chui

Đại thừa

~ Thời Trần (thế kỹ XIH — XIV): Phái Trúc Lâm phát triển khá mạnh,

Giai đoạn đầu, các ngôi chùa thường nhận được sự bảo hộ của chính quyền,

là nơi đàm đạo của các nhà tu, vương tôn, trí thức và Phật tử Với tính thân

phóng khoảng và "vô chấp", Phật giáo thời Trần có xu hướng nhập thế Đó

là một trong nhiều giả thiết để nghĩ rằng tượng Phật thời Trần, tới nay, chưa

†ìm được một pho nào và chùa thời Trân cũng ít có quy mô lớn như đại đanh

lam thời Lý Những ngôi chùa thời Trần như chùa Thái Lạc (Hưng Yên),

chùa Bồi Khê (Hà Nội) chỉ còn lại bệ đá là đi tích thời Trần và toà thượng

điện hiện nay làm theo kiểu chủa thời Tý,

~ Thời Lê sơ (thé ky XV): Ngôi chùa ở thời này dến nay còn rất ít đầu

vết, hay đúng hơn, trên thực tế chưa có tài liệu nào xác nhận được nên khó

có thể tái đựng mô hình chùa thời này

Thời Lê Mạc (thê kỳ XVD: Là thời kỳ nền mỹ thuật giàu tính dần

gian thắng thế Sự phát triển của nên kinh tế thương mại ở thời kỳ này đã tác

;¡ động khá lớn vào ngôi chùa Việt, Ngôi chùa Việt có mô thức trăm gian ra

đời, kiến trúc dàn trải, chia nhiều gian, mặt băng hình nội công, ngoại quốc;

Nhiều loại tượng Phật xuất hiện dã làm thay đổi Phật điện của chùa thời

= nay, trở thành một tiểu Niết Bần nơi cõi thế, dù chuyển tải nhiều ÿ nghĩa của

sự dạo nhưng vẫn thấm đẫm tình đời

Tượng thời Lê Mac có nhiều thế loại và số lượng tượng Phật giáo

trong chùa gia tăng như: 7z thế ram thiên Phật, Thích Ca Mâm Ni toa

thiền, Quan âm Nam Hải, Thích Ca sơ sinh hay tượng Ngọc Hoàng Thượng đề Tắt cả những tượng kể trên không tập trung trong một ngôi chùa mà tân mạn ở nhiều địa điểm Như bộ tuong Tum thé tam thiên Phát ð chùa Trà Phương (Hải Phòng), chùa Lệ Mật (Hà Nội) và một số chùa khác; tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn ö chùa Da Tôn (Hà Nội), chùa Hội Hạ, chùa Thượng lrưng (Phú Thọ), ; tượng Thích Ca toa thién & chia La Khé (HA Nộp; tượng Agọc Hoàng ở chùa Ngô Sơn (Hà Thich Ca so sinh & chùa Bản Yên Nhân và chùa Bong Duong (lung Yên); 7ượng Hớu ở chùa

Bối Khê (Hà Nội), chùa Nhân Trai và một số chùa tại quê hương nhà Mạc

(Hải Phòng), Do sự gia tăng nhiều thể loại và số lượng tượng Phậi việc bài trí tượng Phật giáo trong chùa Việt thời này không thông nhất theo

một mô hình nào

~— Thời Lê Trung Hưng thế ký XVH): Phan do nd

pháp hãi ly thế gian pháp”, phần do hoàn cảnh chiến tranh của xã hội

đương thời, lại thêm sự có mặt của hai Phật phái Tào Động và Lâm Tế vào Đại Việt được chính quyền ủng hộ nên ngôi cbùa Việt được xây dụng nhiều hơn Sự tham gia vào công việc xây chùa của các bà hoàng, công chúa, quận công, đã tạo cho nhiều ngôi chùa có một quy mô mới khang trang, rộng rãi

và nhiễu thành phần kiển trúc ít nhiều mang dấu vết kiến trúc cung đỉnh

Cuối thể kỹ XI, ở nhiều ngôi chùa có tháp quay đạng Cửu phẩm liên hoa

như ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Đồng Neo (Hải Dương),

Những tượng đã có từ thời trước thì đến thời nay đã dược hoàn thiện và

dat đỉnh cao như thé loại tượng Quan âm Nam Hải, tượng Quan âm thiên

thì thiên nhãn, trọng Tam thế tạm thiên Phát chùa Bút Tháp Những thể

loại tượng như bộ tượng Di Đà Tam iôn (Quan âm Bồ tát, Đại ‘thé chi Bé

tát và Phật A Di Da) ở chùa Thầy, bộ tượng Hoa Nghiêm Tam thánh (Thích

Ca, Van thi: Ba iat, Phổ hiển Bồ táo ở chùa Bút Tháp (hiện nay còn lại hai pho: Văn thủ Bễ tát, Phổ hiền Ba 241), bd Thich Ca so sinh và bốn vi BO lát

j5

Trang 31

là: 4t: Bà tái, Ngữ Bồ tái, Sách Bồ tái, Quiên Bồ tái hiện còn ở chùa Bút

Tháp đã có phong cách mới Đặc biệt zượng Hiệu, tượng 7Ø của các chùa

thời này đi sâu vào nghệ thuật tả chân dung, Qua thực tế điền đã các lượng

vä'hộ tượng hiện còn, có thể tạm định hình Phật điện thoi nay gần với Phật

Bên phải Chính giữa Phật điện Ị Bên trái

BỘ TƯỢNG Dĩ ĐÁ TAM TÔN

Đại Thế chứ Đỗ tat | Phật A Dĩ Đà | Quan âm Bỏ tái

Đề Thích | Phat Thich Ca Pham Thién

hoặc Tứ Bồ tát Sơ sinh hoặc Tứ Bồ tát?

- Thời Lê Mại: Dù có xáo trộn chính trị nhưng đà phát triển của Đại

Việt vẫn khá tốt Các trung tâm kinh tế lớn được thành lập từ thời Mạc nay

phát triển khá mạnh, đất đai dược mở rộng hơn, hình thành những đợt đi đân

về phía Nam Ngôi chùa Việt không có thay dỗi về kiến trúc, mặt bằng hinh

” Phật diện thời nay cũng có sự thay đổi do xuất hiện

, nhưng

“nội công ngoại quốc

thê loại tượng mới như iượng Di Lặc, Kim Cương, Tổ kế đăng,

nhìn chung hệ thống cơ bản thì không thay đổi nhiều

~ Thời Tây Sơn: Có hai ngôi chùa điển hình là Kim Liên và Tây Phương

(Hà Nội), đều có mặt bằng chữ /øm, chia thành chủa Hạ, Trung, Thượng,

giữa các toà nhà này có khoảng không gian thoảng, đặt bể nước, nhờ vậy

giải quyết vẫn đề ví khí hậu khá tất Nỗi bật trong nghệ thuật trang trí các chủa

“này là hoa sen, lần dầu tiên chiếc đấu Việt chịu lực thay đổi từ hình vuông

sáng đạng tròn và được hoá thân thành bông sen Chạm khắc hoa sen được

Sử dụng để trang trí cho kiến trúc chùa cũng đã được khai thác nhưng chi thoi nay moi dal tới “đỉnh cao của nghệ thuật (xe hình 9 —- hình 22, phụ lục 1)

Sơ đồ 2.2: Bai tri tượng trong chùa Việt thời Tây Sơn

Thập điện Lớp thứ nhất toà thượng điện) Thập điện Diễm | BỘ TƯỢNG TAM THẺ TAM THIÊN PHẠT Điểm |

VƯƠTI a Tố Hiện tại Quá khử oo Vi lai _~ i

Lép thir hai (toa tiền đường)

BO TUONG DI DA TAM TON Đại Thế chí Bộ tát | Phật A Di Đà | Quan âm Bồ tát

Lớp thứ ba

BỘ TƯỢNG THÍCH CA TAM TÔN

A Nan Ba ton gid Thích Ca _ | Ma Ha Ca Diệp

tuyết smn | tôn giả | 3

chùa Bộ Dà (Phật Dà thiền tự, Bắc Giang), với hai nguồn kinh phí xây

chùa là từ triểu đình chủ cấp và dan đóng góp Bên cạnh sự phát triển của chủa thì điện Mẫu cũng phát triển nhằm thoả mãn nhụ cầu tâm lĩnh của con

ích Độc Thân, toàng Ti) Câu, Bạch Tình Thu):

? ầm các vị Xích Thanh Hoá, Định Trì Tai, Cứ Hiền; Dái Lực Thân,

Trang 32

og sinh Tượng ¢ a tụ chữa, từ 46 sé dymg ki nding “guay ngteoe thời gian” đối dính xác về mặt thời gian các chủ tiết đánh dấu thời điểm ý jp, vin bia Ng6i chia Wiet Om chéa nhing đi vật ấy nhưng không biệt I ghúng mà hoà những giá trị ây trung từng nhịp thở của không gian và đời

Toba ch các bà văn hoá, dấu ấn kiến trúc mỹ thuật, của mỗi thời ky sông văn hoá tâm lình Viet - QC I

liÊh sử in đấu lên các yếu tế hiện tồn của đi tích, phân tích và chỉ rõ sự nà Trong ngôi chùa Viet, những nghĩ thúc Phật giáo được i6 chức kêt hợp

tome quan dối sánh của các thời ky nay để cung cấp thông tin sơ lược hoặc : với ke nghi cha dân tộc Các lễ hội Phật giáo dụng hoà với nhịp mùa màng

phân tích chuyên sâu tuỷ theo mức độ quan tâm của du khách ï của làng xã Các lễ hội làng, hội chùa ving Bac Hộ thường vào dịp mùa

Sơ đề 2.3: Bài trí tượng trong chùa Việt thời Nguyễn xuân và mùa thu, là địp công việc dông áng nhản hạ Le hội chùa theo nhịp

_— : mùa màng của làng, Lễ hội Phật giáo thường được điêu chính cho phù hợp

TAM THE TAM THIÊN PHẬT | Bên phải với tập quán như: Vu lan thắng hội là lễ hội quan trọng của Phật giáo, được

Bên trái Quan The “qo-chuc dua yao Kinh Vu lan 66n (UUambana) nham ctr vớt những người bị

Quan Thê âm T TT an nen „ tôi treo ngược ở địa ngục Người Việt có tục thờ cũng tỗ tiên nên đây là địp

toa son DI DA TAM aN | nhãn “con cháu báo ân sinh thành với tô tiên, Lễ này déng nhất giữa ý nghĩa Phật

_ | ae RD Da “ Lh ido voi daw hiểu của người Việt nên gọi chung là ngày Vu lan bảo hiểu Lễ

Quan thể âm Bồ tát š¡ Phật đân (múng 8 tháng 4 âm lịch) thường kết hợp với lễ hội Tứ Pháp, đó là

Thập ————————_—- tee sự giao thoa nhudn nhuy niữa Phật giáo và tín ngưỡng cần mưa, cầu mùa điên TUYẾT SƠN Diễm của người Việt Dan gian thường tin rắng, trong dịp lễ Phật đản, lễ tắm Phật vương A Nan Đã, Thịch Ca, Ca Diệp Vương có liên quan đên việc cầu mưa cho vụ lúa chiêm,

Qua các lễ hội này, có thể thấy một sợi đấy kết nối trong tâm (bù Việt

địa Pháp Hoa Lâm Bồ tát trai J : #loảng là đại sư, thánh tăng (chùa Keo, Thái Bình; chùa Láng, Hà Nội, ) với

_ Phật Di Lặc : '£¿ dục cầu mưa, cầu mùa, điễn xướng (quan họ, chèo, múa lục cúng, đản

Đại Diệu Tường Bồ tát phap Hộ Mông sơn thí thực, ) nham tán dương công lao Đức Phật, tế thánh, diễn ` l 2 ‘ ˆ l ny ah ahs oe

“Bài ij Cương tích Phật giáo, trong dỏ có các tích chèo cô khá thân thuộc với người Việt

Đề Cửu long Phạm như truyện Quan âm Thị Kinh, Chúa Ba đi tu, Mục Liên cứu me

Thích Thích Ca Thiên Ngôi chùa làng cô kiến trúc khá rộng nên ngoài chức năng chính của

Cụm Sơ sinh Cụm : mình còn kiêm cá vai trò trường học hay nơi chữa bệnh Ngôi chùa Việt,

ene _ - N pie og trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng, vừa có tính chất thụ động (theo mùa, Tăng pe bón Táo | “theo tin ngưỡng bàn địa, theo tư duy dân gian) vừa có vai trò trưng tâm

_ L———— trong lễ hội làng cũng như trong tâm thức người Việt, lại vừa hoà quyện

trong đời sống tâm lĩnh của làng xã Việt với hệ thông văn hoá tâm lĩnh là

Chia — Đình — Dền ~ Miếu, Vai trò của ngôi chùa Việt trong văn hoá làng

a 'Xã vừa giữ được giáo lý nhà Phật, làm rường cột cho nhụ cầu tâm linh, vừa

Sự hoà quyện của Phật giáo và các tín ngưỡng bản địa Việt đã tạo cho -hoa quyện cùng nhu cầu thiết yếu của con người Sự uyễn chuyên của ngôi

ngôi chùa Việt vùng Bắc Bộ một vé đẹp của tâm hôn Việt, Vẻ dẹp của ngôi hùa viet pita tính thể gian với tính xuất thế gian của giáo lý mà trong đó tư

chùa Việt có không gian sông của một thực the hiện tên, không giảng báo ƒ tường Phật pháp bất ly thế gian pháp dường như thắng thế Đây chính là

tầng, mặc dù cũng mang những di vật về điều khắc, kiến trúc, trang tri, van 4

58

2.2 Kf nang khai thac

2.2.1 Xác định khả năng quan sát và tham gia của du khách

B

Trang 33

“gem độc đáo của Phật giáo Việt Nam, văn hoá Việt Nam và từ đây có thé

nhận ra v‡ trí trọng tâm của ngôi chùa Việt trong làng xã người Việt thông

{qua lé hoi Phat gido dung hội với nghỉ lễ dân tộc

Ngôi chủa Việt không những là một kiến trúc tôn giáo biểu hiện cho

Phật giáo, tín ngưỡng Việt (thờ Mẫu, thờ thần) mà còn mang trong minh

Biết bao trầm tích của nghệ thuật cùng các giá trị văn hoá của người Việ

Do-dó, trong quá trình hướng dẫn du khách quan sát và tham gia vào các

nhi lễ thờ cúng tại chùa, cần lưu ý một số vẫn để sau day:

cần mặc quần áo đài, kín cổ, đi khẽ

áo may 6, quan sode, vay ngin, Ds

~ Vé trang phục: Khi vào chủa

Tránh mặc áo ngắn tay, áo sát nách,

với Phật tử thì phải mặc áo lễ

~ Về trình tự vào chùa:

— Với ý nghĩa đã trình bày ở trên cúa công Tam quan, khi đi qua cổng

Tam quan vào chùa nên di vào cửa Giá quan (bên phải) và đi ra bằng cửa

Không quan (bên trái) Cửa Trung quan chỉ đành cho Thiên tử, bậc cao tăng,

bậc khoa bảng đi vào chùa và khi ra cũng theo cửa này

+ Gặp sư trụ trì: Chùa do sư trụ trì cai quản, có sư chủa mới được g

gìn và đạo Phật mới được truyền 1ưu nên khi vào chùa theo lệ:

Nhập gia vấn chủ, nhập tự kiển sư

Vào nhà hoi chi, dén chùa gặp sư

Trước thắm trụ trì, sau lễ Tam bảo

Tuy nhiên, vào địp lễ hội, lễ trọng (như rằm, mùng một) khó có thể gặp |

sư trụ trì nên có thể bỏ qua nghỉ thức này

— Về xưng hô: Với nhà sư thì xưng là 4 Di Đà Phật, bạch Thây, vàn

xưng mình là Con Xưng hô như vậy có nghĩa là nhìn thấy tăng mà tưởng ì =

nhớ thay Thich Ca Mau Ni, minh xưng hô như vậy là đang xưng hô voi Dire: |

Thich Ca Nếu nhà sư đó là Thầy hưởng dẫn mình tu tap thì xưng hô là Thấy 7

mang nghĩa trên và mang nghĩa là ‘Thay day hoc đạo Khi thưa gửi gì với -

nhà sư thì đều chắp tay hình búp sen, :

— Về lễ vật gồm có lục cúng là hương, hoa, dang (nến), trà, quả, thực 4

Lễ Phật chí cần đồ lục cúng, không dâng tiền vàng, đề mặn, đồ mã, Tiên :

đặt trong chia cé nghia 1a tiền chỉ phí dầu đèn, huong hoa lễ Phật, tụ bố đí ˆ |

tích và nuôi chúng (ăng; không dặt tiễn lên ban thờ, đĩa lễ mà bỏ vào hòm

cồng đức ở ban chính Iliện nay, nhiều chùa để quá nhiều hòm công đức đo

> người dân trước khi lễ tại ban nào cũng rút tiền bỏ lên Nếu bỏ tiền lên ban Thật, gài vào tay, thân tượng Phật, thánh là bất kính, nhất là tiền lẻ, đò là

ên mới cũng không nên vì vừa trái với giáo lý Phật giáo vừa làm hao tên

ên tệ của Nhà nước Trào lưu dỗi tiền lẻ để đi lễ dầu năm là hiện tượng mê

+ Lễ tại Ban Đức Ông: đặt lễ lục cúng, , chap tay hinh búp sen, xin phép

vào lễ Phật (Đức Ông là người kiểm soát tâm thế của kẻ đến lễ chùa, chúng

: : sinh đến với Phat)

+ Phật điện: đặt lễ tại chính giữa Tam báo, chắp tay hình búp sen, có thể đứng hoặc quỷ, thành tâm cầu khẩn điều an lành

Sau đó đặt lễ (nêu cần) va lần lượt kính lễ tại Ban Tổ, Nhà Mẫu, Ban Yong,

- Pề cầu cảng: Nhà chùa chỉ cúng những nghỉ lễ Phật giáo như Phật

đản, Vụ lan, Mông sơn thí thực, Ngoài ra, có một số lễ cúng rước vơng lên

chùa nhằm thoả mãn đời sống tâm linh cho người đân Hiện nay, việc cúng sao giải hạn ở các chùa cũng không phải là giáo lý của Phật giáo Phật giáo cho rằng, mọi sự đều có luậi nhân quả nên không có việc giải hạn, Tục lệ này là ảnh hưởng từ Dạo giáo, không có trong Phật giáo Tín ngưỡng dân

gian phóng chiếu vào đạo Phật, nắp trong bóng nhà Phật, là sự cầu khẩn các

vi thần hộ trì của nhà Phật: Nam Tao, Bắc Đầu, Thập điện Diêm Vương

— Về pháp khí, gồm có:

+ Cô Phật: lá cờ chữ nhật, phép các mảnh khác màu: nói lên sự hoà hợp của nhiều cá thể, nhiều dân tộc, cùng nhau trong dạo pháp của Phật giáo

Phải chăng, thường có 10 mảnh tượng trưng cho Thập phương chúng sinh,

với 4 màu gọi là tứ đại, tượng trưng cho hoả, thuy, dia va phong?

+ Chuông: Có bai loại chuông là chuông treo và chuông gõ

Chuông treo: Hình ông, có quai treo, thường được trang trí bằng hình Tổng uốn mình, chia làm bến múi, cách nhau một vành đai, cỏ núm gõ, trên

thân chuông thường khắc các bài văn có nội dung liên + gran đến bản chùa,

hoặc kinh Phật goi 1a bai Minh chung

6]

Trang 34

Chudng 30: Miệng chuông ngửa lên trên, để chuông là vành khăn vải,

thường đặt cạnh mỡ gỗ, để trước Phật điện dành cho việc trí tụng kính của

các nhà tú hành và khách thập phương

+ À⁄Ø;: Nhiều kích cỡ, bằng gỗ, khoét rỗng lòng, dùng dé gõ khi tụng

Einh với hai loại là hình tròn và hình cá

| Mée: LA miéng 96 dùng để đánh hiệu lệnh của chùa

+ Khánh: thường dùng khi rước đồ linh thiêng hay thỉnh khi các vị cao

tăng đi lên Phật điện hành 18 hay lên bao toa thuyết pháp

+ Tích tượng cũng gọi là TrÍ tượng (cô nghĩa là người tụ hành nương

nhờ cây gậy này thêm tăng tiến và phát sinh trí tuệ) Trên đầu cây tích trượng

có làm 4 khâu, 12 vòng, tượng trưng cho Tứ Đề (Phật, Pháp, Tăng, Bảo) và

"Thập nhị nhần đuyển

Ngoài ra, còn nhiều pháp khí khác nữa như: Linh chứ, Kim cương chử,

trống, kèn, mà cáo vị tăng trong Mật tông thường dùng khi hành lễ HDV

có thê giải thích ý nghĩa của các pháp khí này đê cung cấp các thông tỉn hữu

ích cho đu khách, hướng dẫn du khách không có những hành vi bắt kính như

quay lưng lại điện thờ hay sử dụng tuỷ tiện các pháp khí (gõ chuông, mỡ, we

2.2.2 Xác định giá trị “vật chất” và “tỉnh thân” của ngôi chùa

Bắc Bộ

— Pề kiến trúc: Tương tự như những loại hình kiến trúc tín ngưỡng bản '?:

địa như đình, dén,

vật liệu địa phương khác tự khai thác nhữ ân, đá onp, gạch nung, đá hộc,

Hình thức kết cấu gỗ là phượng thức cổ truyền “vi — ké

rường, giá chiếng hoặc cải biên tuỷ theo quy mô to nhô của từng công frình

cụ thể, Cũng đo sử dụng các vật liệu và hình thức kết cầu nói trên nên đa số

các ngôi chia cổ, kế cả tháp cổ, qua thời giản thiên nhiên đã bị tàn phá hoặc

huỷ hoại còn lại tới ngày nay ít với đạng nguyên sơ, mà phần lớn dã được

trùng tu, sửa chữa nhiề lần chồng đè lên nhau các lớp lang van hoa

— Fề hệ mái: Mái chùa Việt Nam cô đặc điểm là nhìn từ xa đã nhận ra

những mái dao góc cao vúi, đù mái lợp ngói mũi hải đây nặng, tường không

cao, trông ngôi chùa chỉu sức hặng nể của mái nhưng nhờ có những đầu đao

nên vẫn có những nét lượn cong vươn lên tạo nên sự hải hoà vừa vững vàng“

Tau dao la đòn tay hình chữ nhật, bên trên có một mảnh ván mỏng gọi là

mái dỡ hàng ngói cuối cùng Mái chùa được làm theo kiến trúc vi — ke —

‘bay, vi có bảy góc niên không xoè ra quá rộng như mái chùa của Trung

S ‘Quéc, Nhat Ban, Triéu Tiên, (tiêu biểu như mái của chùa lây Phương??

— Nhận diện tượng Phật và bài trÍ lượng trong chùa hiện na) (xem thêm

s Bình 23 — 38):

Hf + Ban Đúc Ông ở bên trái, ăn mặc lỗi võ quan Dức Ông tên là Tụ Dạt

sập Cô độc, mua vườn của thái từ Kỷ Dã cho Đức Thích Ca Mâu Ni giảng

i

“Phật Kết quả là xây nên vườn Lộc uyễển (vườn Nai) - là nơi Dức Thích Ca giảng đạo và Tăng đoán học tập Chùa Thầy có bai tượng người ngồi ở ban : Đức Ông, phải chăng đó chính là thái tử Kỳ Đà và Tu Dạt Cấp Cô độc?

+ Ban Thánh hiền ở bên phải, Thánh hiền là cách gợi dân gian, đây là

A Nan Đà dịch nghĩa là Hoan hỉ (anh họ của Đức Thích Ca Mâu Ni), via 1a

đệ tử thứ hai của Đức Thích Ca Mâu Ni vừa được mộnh danh là đệ nhất Đa vận Thánh giáo (Người nghe nhiều lời dạy của Đúc Thích Ca Mau Ni ahdit trong (ang dodn), la ngudi có công kết tập kinh điên của Phật, Trong một lần khất thực, ngài gặp một người phụ nữ yêu mình say đấm Ngài gắng gượng vượt qua và hỏi Phật Thích Ca, Phật Thích Ca liền nói hãy biến tình yêu đôi lửa thành tình yêu đạo Pháp, liền xin cho cô gái dó được xuất gia, từ

;dó xuất hiện hàng ni trong tu hành, Bên cạnh A Nan Đà có vị lực sĩ giúp

việc và con quỷ đói

+ Đại hùng Báo điện (Phái điện) ở chính giữa Nghĩa của Đại hùng: Thẳng nhân giả anh, Thắng kỷ giả hùng (thắng được mình mới là bậc dại hong - nơi thờ Phật Thích Ca gọi là Đại hùng Báo điện, nơi kết hợp của trí tuệ và từ tâm Phật giáo cho rằng, bản chất của con người là vô mình - nghia 14 ngu và độc ác: giém pha, không chịu được sự hơn người Chữa đốt

phải có trí tuệ, chữa ác phải có từ tâm ~ đó là hai liều thuốc của Phật giáo)

éu cung cap héi Thuong toa Thich Minh Hién, giảng sw imén MU thuat ve Kiến trúc

Phật giáo, Hạc viện Phar giáa Việt Nam.-

6

Trang 35

Lop thứ nhdt: Trên cùng là tượng Tam thế gồm 3 pho, bên trái là Hiện

tại ;hế, bên phải là Vi lai thể, ở giữa là Quá khú thế, hiện tại chỉ là một

khoảng pia dịnh, một khoảnh khắc cực ngắn mà kê khôn ngoan phải thụ

hướng khoảnh khš ấy - an nhiên trong từng khoảnh khắc thấy an lạc Tên

day du la Tam thé tam thiên Phái (ba nghìn vị Phật thời quá khứ hiện tai

tương lai) Trong đó, thiên (ngàn) là con sé phiém chỉ không đếm được

Lop tink 2: BO Di Dé Tam tôn (Di Dà ở giữa, Dại lực Đại Thể chỉ Bồ tắt

ở bên phải, Đại b¡ Quan Thé dm Bồ rát ð bên trái), bộ này còn gợi là Tây

phương/Hoa Nghiêm Tam thánh, trong đó: Phật 4 Di Đà thể hiện tính b

đại, tuyên ngôn của đạo Phật là từ tâm và trí tuệ, Qua 1 hế âm Bỏ tải là đại

từ, đại bí, đại hỷ, đại xá (Bốn tính thuộc từ tâm); Đại ?hé chí Bê tát là đi

bung, đại lực, đại trí, đại dũng (Bến tính thuộc trí tuệ) A Di Dã là vị Phật ở

‘Vay phương cực lạc, cỏ chức năng tiếp dẫn linh hồn nhưng vì ít xuống trà

gian nên phải nhờ tới hai vị Bồ tát của minh

Lớp thứ 3: Bộ tượng Thích Cu liên hoa ở giữa, Ca Điệp bên trái, A4 Nan Đà

— tức một Phật và hai thị giả ũ

bên phải

Lớp thứ 4: Tượng Tuyết Sơn (chùa Thầy, chùa Trăm gian, ch

Mia, ) được dưa lên thờ với ý nghĩa dạo Phật không tán đồng đường l

tu khô hạnh

Lớp thứ š: Bộ tượng Di Lặc, bên trải là Đại hạnh Phổ hiển Bồ tát (đức }

hạnh), bêt phải là Văn ¿hữ Sư lợi Bồ tái (trí tuệ): Di Lặc là người đã đoạn |

tuyệt dược lục đục thất tình; là vị Phật của tương lai đại hoà thượng, cầm túi

to, người làn thấp, có 13: đứa bé trong đó có 6 đúa tượng trưng cho lục dục )

(lục căn lỤục win tục duc:

Lớp thứ: 62 Töà Cứu lông ở giữa, bền trái là Dé Thien (Indra — Ngoc’ |

hoàng: vua của cối troi’sic gidi, cOi 66 hinh tudng) va bén phai la Dé Lhich:

(Brahma: vua của cõi trời dục giới, cõi không còn hình tướng nhưng vi

còn dục vọng, ham muỗn) Toà Cửu long được xây dung theo tich Thich Ca:

sơ sinh — một trong bến tích quan trọng trong đời Phật (đản sinh, xuất gia,

? Tương truyề c là Phật quá khứ, khi nhân gian loạn lạc, các vị Phật cứ 2 vj Thich EB

Ca và Di Lặc cùng ngồi thiền định, thiền tượng, của vị nào nở hoa trước sẽ xuống trần gian Hoa:

sen của Di Lặc nớ trước nhưng Thích ca đùng quyền ning chuyên hoa sen của Di lặc sang thiền”)

trượng của mình Vị thể Thích ca là Phật hiện tại mà Di Liặc là Phật tương lai, thái bình an lạc Ẳ

ễ quần áo den,

tử; và thêm hai bên toà đại điện là Thập điện Diêm Vương cai quản 10

- điện xét xử tội lễi của linh hỗn con người,

(Thi Kinh) phải chăng là sự phóng chiếu của Mẫu Thuỷ và Mẫn thoải từ

ăn hoá Việt, Người Việt đến với Rề tái không chỉ là đến với Phật giáo mà

lä đến với tỉnh mẹ che chở và yêu thương?

Quan âm thiên thủ thiên nhãn: Tay Phật hiện trong bàn tay mẹ, những bản

“tay noi vdi bàn tay, Các tượng Thô địa (canh giữ cửa chùa, nơi đại điện, Đại

), Giám trai (kiểm tra sự thanh tịnh của lễ Phật), các tượng 1

tượng Kim đồng, Ngọc nữ có chùa có, có chùa không

- PỄ một số ha văn biểu tượng trong trang trí chùa Bắc Bộ

Lá đề (S: Bohdy): Nghĩa của lá đề Bohay Ì

được hiểu là sự Giác ngộ nên lá dễ là biếu tượng cho tính Giác ngộ tròn đây của chư Ï Phật

Chữ vạn (S: Swaslike› Là hình mặt lrời trong ngữ hệ mặt trời, có ý nghĩa ca ngợi sự luân chuyến liên tục của ánh sang Phat

pháp

Bảo châu (S: Kalasha): Thao truyền thuyết

Phật giáo, bảo châu là một trong vương

quyền thất bảo (Capfarafna) của Chuyễn

Luân Vượng (Chakiavariin) — Sàu bảo khác

là: bảo luận, báo tượng, bảo mã, bảo hậu, báo tế, bảo soái Vốn là một biểu tượng cho

Sự giảu sang, nhưng trong Phật giáo, bảo châu chí sự phong phú tâm linh

Hoa sen (S: Padma): Có nhiều ÿ nghĩa tết

đẹp được gán cho loài hoa này Biểu tượng của sự thanh khiết Tượng trưng cho tiêm

năng đại đến Phật tinh của con người

Trang 36

Nearer eee eee

Song ngư (S: Suvarnamafsya) là hai con |

vàng chum dau, tuong trung cho Sử phong

nhiêu, vi cá sinh sản đông đúc

Vỏ đc (S: Sankha) đều được tin đồ Án giáo

và Phật giáo sử dụng trong lúc hành lễ hoặc

để gọi nhau đến cuộc hội Tượng trưng cho

uy danh vang vọng, vô lượng của Phật

pháp

Khải hoàn kỳ (S: Dhvaja} là ngọn cờ chiên

thẳng gồm một trục vải giống chiếc lọng, có

lẽ có nguồn góc từ một lá quân kỹ “Trong tử ngữ Phật giáo, nó biếu thị sự chiến thang

của Phật pháp, chiến thắng của trí tuệ trên

vô mình và ta ác",

Bảo bình (S: Kalasha) là biễu tượng cho Sự

phong phú tâm linh

trí ở một số bộ phận trong kiến trúc Phật

giáo, Biều thị cho lời dạy của Đức Phật Tâm

nan hoa biểu thị bát chính đạo, và hình tròn

tượng trưng tính trạm viên của Phật pháp

3.1.1 Xác định không gian (xem hình 23, phụ lực i)

Tục thờ Mẫu là một biểu biện của tín ngưỡng đân gian rất phể biến ở nước ta từ Bắc tới Nam, Theo quan niệm dân gian, có cá toa (phú) Thánh

'Mẫu: À4ẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoái, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, tượng

trưng cho Mẫu trên rừng, đưới biên, trên trời, dưới mặt đât,

— Trai dai tir thượng ngàn, khi con người đi vào rừng núi hiểm trở, gặp : nhiều thú đữ, nguy hiểm, họ cần đến sự chờ che của thần cai quản nủi

;ừng là Mẫu Thượng Ngàn cùng các vị thần thánh hẳu cận Thánh Mẫu

Doc theo các dòng sông lớn (sông Đà, sông Hồng, sông Thuong ), người dân sinh sống, Buôn bán lênh dénh trên sõng, mưa lũ, bạn hắn, nước dâng sóng đữ, đông bão, gặp nhiều rủi to trong cuộc sống mưu sinh của mình, họ phải cầu cửu đến các vị thần cai quản vùng sông nước — Mẫu Thoải và các vị thần hầu cận ‘

+ Thoai dan tir thượng ngân là vùng dồng băng màu mỡ, phì nhiều; trong cuộc sống nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi của người dân gap nhiéu Jo toan

về thời tiết vụ mùa, may rủi trong buôn bán hàng hoá, chỗ dựa tỉnh thần nhự

5 Mau Dia, Mau Thién, họ cầu đến các vi thần tinh soi x¢t cdc việc đời thường,

mà trong đó cao thượng nhất là Thánh Mẫu Thượng Thiên — Mẫu Liễu Hạnh

Từ cuộc sống đời thường của người dan trong không gian vùng thượng ngàn, vùng sông nước, vùng đồng bằng, luôn mong cẩu sự bình an, may man, hạnh phúc và thoát khỏi déi nghéo, khó khăn đã hình thành nên hệ thống đến thờ các vị Thánh Miẫu và các thần linh phù hợp với địa hình, phong tục sinh sống của người dân tại mỗi vùng,

‘Trung tam thờ Mẫu ở miền Bắc là Phủ Giầy (Nam Định) thờ công chúa Liễu Hạnh; ở miễn Trung (Lhừa Thiên — tuế) là diện Hòn Chén thờ Thánh Miẫu Thiên Yana; ở miễn Nam là nứi Bà Đen (Tây Ninh) thờ Linh Ÿơn

Thánh Mẫu Ngoài đền và phủ, tín ngưỡng Mẫu ngày nay đã xâm nhập vào

bác chùa và điện tại gia

Bắt cứ kiến trúc nào trong hệ thông tín ngưỡng tôn giáo đều có nét đặc trưng

tiêng biệt dễ nhận thấy như: Thiên Chúa giáo có kiến trúc nhà thờ phương Tây, làng thờ thành hoàng làng gắn liền với kiến trúc đình, Phật giáo có kiến trúc

thủa, còn nơi thờ Mẫu là các ngôi đền khang trang, lộng lẫy và thiêng liêng

67

Trang 37

m liền kiến trúc với mơi trường thiên nhiên, dưa thién nhién va

they men MAIS

* ncé sw huyén bí lại là một:

trong kiến tric An trong mơi trường thiên r

cĩ thế cảm nhận sự thanh thản trong khơng gian thiêng Hêng, đến với thánh

chẩn để cầu xin sức lchỏe, tài lộc, may man C6 thé thay rằng, sự tương phan,

đổi lập giữa thân thánh thiêng liếng với con người nơi trần tục lại tạo nên

ng của kiến trúc đền, phủ thờ Mẫu

một nét r1

Kiến trúc đền, phủ thờ Mẫn thường dược xây dựng đưới dang quần thể |

các khu di tích, chứ rất ít khi là một cơng trình dơn độc Ví đ tiền thờ Mẫu

Thượng Ngàn ở tắc Lệ bao gầm đền chính và bai đền khảo là đền Chầu Bé,

đền Dèo Kéng cách nhau khoảng gần mot cay số Đến tại § suối Mỡ ngồi đến

chính cịn cĩ các hang dộng Sơn Trang lộng lẫy cùng khơng gian rừng nui,

i, suỗi thác, kết hợp thành kiến trúc độc đáo sơn thuỷ hữu tình, thân

mừ áo Từ những hệ thếng kiến trúc nêu trên của các khu di tích đến thử

thiêu nhiên và khơng gian thiếng liêng cùng hội tụ

Ué thống thờ Mẫu khá phức Tập, cầu kỳ với nhiều đối tượng thờ củng)

khác nhau, do đĩ [IDV cần phải nhận diện và phân biệt vị trí của rừng bạn, :

thờ để cĩ thê thơng tin và chỉ dẫn cho du khách: ao

“4 Cung 7 Thánh Miẫn Tam toa với Tượng Thánh Niễu Tam tồ

| Thanh Mau Thanh Mau Thanh Mau a

| Thử tự thử hai thứ nhất thứ ba

Đệ Nhị Đệ nhất Đệ tam ị

a , Son trang Tiên thiên 'Thoải phủ :

ị Thánh Mẫu Thánh Mẫu

Mẫu Mẫu Thượng Thiên Mẫu

2 aad Thượng Ngàn (là sự hỗn dung của Thoải Phú 2

| Tên gọi tắt Miều Thiên, Mẫu Địa và

| pez Cai quan Cai quan va sang tao ra Cai quan

Men cal quan vũng rừng núi | vO try, iri va dit La ngdi | ving song nuréc cao rhất trong Tam tồ

_ Thiên thần Thiên thần, Nhân thần Thiên thần

Ngơi thân + (Mẫu Liễu nằm trong Tứ

[ bắt tử của người Việt)

2 Ban Te Pha céng déng voi Tượng Tứ phủ lên quan

Quan Đệ Quan Đệ Quan Đệ Quan BS Quan Đệ

Tên gọi on Tam Nhị Giám Nhất Tứ Kham | Ngũ Tuân

thiên

Mặc sắc phục phán quan, thêu Lân Khốc bào, đội mũ ơ sa, that

Van io ngọc đới, đi hia, một lay cảm hốt ngà, dáng ngơi trên ngai ý

xanh cây Trừ tà Gai quản Diệt bọn Gai quản Cai quan

Chức năng sái quỷ Thượng 1à quan „ Địa phủ Địa phủ

Ngàn lệng quyên Đặc điểm Gio 3 Gio 2 Giờ 1 Gio 4 Gio mét

nhận diện ngon tay ngỏn tay ngĩn lay ngĩn tay ban tay

Cối giới Thậi phủ Nhạc phủ Thiên phủ Địa phủ 'Thoải phú |

3 Tứ phủ châu Bà: Cĩ chức nang giúp viée cho Thanh mau Tam tod va Ter phủ

cơng đồng, cai quản các hàng Tiên ở các cõi giới, dại diện cho tứ phủ (Thiên phủ, Dịa phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ) nhưng đân nay thì số lượng chằu Bà được sáng

tao lên đến 12 bà

Châu Độ Tam | -Châu Độ Nhị | Châu Đệ Nhất | Châu Đệ Tứ

Tên gọi quản cai quản cai quan cai quan cai

Thoải phủ Nhạc phủ Thiên phủ Địa phủ

Muat xw Mẫu Thoải của Mẫu của Mẫu Mẫu Địa

Thượng Ngân Thượng Thiên i

xiên khơng gọi là Tứ phủ quan Hoang nữa mà dân thường gọi theo lỗi gần gũi là

Ngồi ra, cịn cĩ: Chau Bé Bắclệ (Lang Sơn), Châu Lục Hữu Lũng (Lang Son), Chau

Mudi Dong Mé (Lang Son), Chau That Tiên La (Thai Binh), Chau NgG Suỗi Lan (Lang

Son), Châu Cửu Bim Sơn (Thanh Hố) — các chầu Bà cĩ xuất xử là người dân tộc

thiểu số nên trên y phục trên tượng hay trên y phục hằu đồng đều thể hiện y phục của

các dan tộc thiểu số

[4 Tứ phù quan Hồng: đều cĩ xuất xứ thiên thần, lã thái từ con Vua cha Bát Hải

Long vương Do tính chất địa phương hay thời cuộc mà Tứ phú quan Hồng được gắn xuất xu la các vị tưởng tải, mang tính rihân thần hơn là thiên thần, vi thé

các ơng Hồng Đặc điểm thường là người văn võ tồn tải, thanh nhã, y phục là

ao thanh cát, đĩng khăn xếp, đi hài, tay cầm quạt, dáng thư nhàn Cĩ mười ơng

Hồng nhưng thường cĩ ba ơng Hồng hay giao dịch với người trần gian là: Ơng

Bơ, Ơng Bảy, Ơng Mười

68

69

Trang 38

[~ Ông Hoang Bo, Ong Hoang Bay, Ông Hoàng Mười, 9 Bạn thờ Ï Là bạn thờ Trân Hưng Đạo được phối thờ với tín ngưỡng Mẫu như

cai quản vùng cai quản vùng biên ái, cai quản vung bắn Trân triều cô Quỳnh, cô Quế

í sông nước, là tướng đánh tận | thuỷ, xuấi thân là văn | 10 Ban thờ _ | Thờ những vị thần cai quản phạm vi của ngôi đền, giam sai khô

ắt thã An san bà cae 2 3 nhzÄ 2 à họ 1 a ‘a , giam sát khôn,

Xuất thân hấu cận bên Mau Thodi giỏi cả thuỷ chiến và bộ bình lược, tỉnh cách phong quan có nhiều mưu | ông Cai bản _ | cho ma là quý quái vào quấy phá nghỉ lễ hay lễ vật của nhà đến và

cảnh (bán trừng trị những kẻ ngỗ nghịch bảng bổ đến thần linh Có trang phục

| lưu, vẫn hay chữ tot đền) của một võ tướng gai phong

i i Mặc áo thanh cát, thêu chữ thọ triện 31 Ban thờ | Thờ Bà Chúa bản đân cò nhiệm vụ là giám sat, soi xét việc sắm lễ,

Yphục Sắc trắng | Sắc tìm Sắc vàng bà Chia ban lên hương của Các lin do tham gia hành lễ trong đền Bả mặc ảo của

> = - - dén quý tộc, đâu vấn tóc, chít khăn Ì

Đền thờ ở Lãnh Giang Hảy ở Bảo Hà Mười ở Bên Thuỷ (Nghệ 3.1.2 Xác định thời gian

Tứ phú chằu Bà nhưng có một số

người trân gian như cô Đôi, cô Bơ, cô Chín, gô Bé

5 Bạn Tứ phủ Thánh Gô: Có mười hai cô tiên nữ hầu cận Thánh Mẫu Tam toà và

cô là được biết đến vi hay giáng đồng, giao dịch với

Te : Cô Đôi Cé Bo Cô Chín Cô Bé

en ae! Thượng Ngân | Thoai Phd | Thuong Ngan | Thuong Ngan

Xuất thân Thị nữ Mẫu Thị nữ Thị nữ Mẫu Thị nữ chau

At thai 3 5

„ Thuong Ngan Mẫu Thoải Thượng Ngàn | Thượng Ngàn

Tay soi đuốc, ¡ Tay chèo đò, | Áo khăn hồng, | Khăn xanh áo

deo gui, diéu mặc áo dải có tài xem bói, | lục, đeo giỏ hoa, |

Điệu bộ, bộ như hái trắng, cô giỏi | tính đa sâu đa | đi hải xanh, hay

_ A h măng, mặc áo ' chế thuốc cửu | cảm, thường mua hai hoa,

tính các người Mán, người múa quạt, nói | nhảy nhót cười

hoa cai dau tiếng Mường, | tươi tốn, tỉnh nhỉ

tĩnh vụi tươi tiếng Mán nhảnh Đền thờ Cam Đường Han Sen Đền Sòng Son Bắc Lệ

(Lao Cai), (Thanh Hoa) (Thanh Hoa) (Lang Sony

| 8 Tử phủ Thánh Cậu: Xuất xứ các Cậu không rõ ràng, dân gian chỉ biết cậu Bé Bơ,

cậu Bé Thượng Ngàn hay cậu Ngọng là những cậu bé khi giáng đồng thường cảm

gây, đeo tay nải, thích múa lân, gõ trông, nói lft lo, ngọng nghịu

đồng hoặc ban Mẫu

L7 Quan Ngũ dinh: Năm ông Hỗ trần các phương Đông, Tây, Nam, Bắc với nhiệm vụ

trông coi cai quản địa phận thờ Tam toà, thường ban thờ này ở dưới ban Tứ phủ công

Thứ tự Ông Hồ Ông Hỗ Ông Hồ Ông Hồ Ông Hỗ

Trang Đẻ Vàng Xanh cây Đen

« Phuong Phuong Trung Phuong Phuong

Ngũ phương Tây Nam ương Đông Bắc

| Ngũ hành Kim, Hod ¡— Thể Mộc Thuy

¡ 8 Ông Lét: Gdm hai ông Rắn được xếp lên xà nhà vươn từ điện thờ Thanh Mau Tam

toa ra ngoai

Tên gọi Rắn Xanh (Thanh Xa) Ran Trang (Bạch Xà)

j_ được coi là sử giả của Nhạc phủ ¡ được coi là sứ giả của Thoải phủ

Văn hoá Việt được tạo nên trên sự tiếp biển giữa văn hoá bản địa và

- ngoại lai Đó là sự tiếp biến với Trung Quốc ở phía Bắc, Chăm - Khơme ở phía Nam Cũng chính từ đặc điểm đó, nền văn hoá Việt có sự đan xen, tiếp biển, hài hoà giữa các tôn giáo như: Phật giáo, Dạo giáo, Nho giáo, Thiên Chúa giáo Trong dó, tin ngưỡng thờ Mẫu trong dân gian của người Việt

È văn giữ được nét đặc sắc của dân lộc

Xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước, văn hoá dân tộc Việt đã hinh

- thành nên hệ thông tín ngưỡng thờ Mẫu Đối tượng thờ cúng là Bà Mẹ được thân thánh hoá, xem như có sức mạnh siêu nhiên, có khả năng bạn phước mang lại sự tốt lành cho cá nhân, gia dình và cộng đồng làng xã Cơ sở xã hội của tạc thờ Miẫu là vai trỏ to lớn của nữ giới Việt Nam trái qua trường

kỳ của lịch sử dân tộc, trong gia đỉnh, ngoài xã hội, trong sản xuất và chiến đấu, trong dựng nước và giữ nước

Tin ngưỡng thờ Mẫu là một trong những tín ngưỡng đân gian nổi bật s#c của dân tộc Việt Nam, có nguồn pốc từ tín ngưỡng thờ các Nữ thần Nguồn gốc lịch sử của tín ngưỡng thờ Mẫu không chính thức được ghỉ lại rõ rằng bằng văn bản nào cả mà chỉ được truyền tục qua đời sống đân đã Hiện nay,

¿một số nghiên cứu cho rằng, tín ngưỡng thờ Miẫu có nguồn gốc từ thời

tiền sử, khí người Việt thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh đó dược

kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu hay các Nữ thần được tôn thờ qua

"nhiều đời

“Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng dễ bao hảm cả các

nữ anh hùng trong đân gian — những người phụ nữ có thật nỗi lên trong lịch

Sử với vai trò người bảo hộ hoặc trị bệnh Những nhân vật lịch sử này được

- kính trọng, tôn thờ và cuỗi củng được than thánh hoá để trở thành một trong,

các hiện thân của Thánh Mẫu Các vị thần trong đạo Miẫu phản ảnh các

BY

Trang 39

phẩm chất cúa một người Mẹ vừa thần thánh lại vừa con người Dạo Mã

không chủ trọng vào cuộc sống sau khi chết, nó quan tâm đến cuộc sống

hiện tại và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống

hạnh phúc và đầy đủ trên trần gian Trong tín ngưỡng dân dã của người Việt

Nam, việc tôn thờ Nữ thần, thờ Mẫu là một hiện tượng khá phô biến, có căn

cử lịch sử và xã hội sâu xa Tuy déu là sự tôn sting các thần linh nữ tính

nhưng giữa thờ Nữ thần với thờ Mẫu và Tam toà Thánh Mẫu không hoàn

toàn đồng nhật, Lừ rất lâu đời, ở nước ta, Nữ thần đã được nhân đân tôn

vinh và thờ cúng Các vị tiền có nguồn gốc thuần Việt, các vị thần được thờ

phần lớn đều là các Nữ thần Trong truyền thuyết, Nữ thần Mật Trời và Nữ

thần Mặt Trăng dã soi sáng và sưởi âm cho mặt đất, tạo lập nên vũ trụ

Huyền thoại vẻ bả Nữ Oa đội đá vá trời Các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ,

Pháp Lôi, Pháp Điện cai quản những hiện tượng thiên nhiên là: mây, gió,

sấm, chớp Sinh thành va đân tộc Việt Nam có Mẹ Âu Cơ, sinh ra một bọc -

trứng, nở thành tram người con Nhiều Nữ Ihân là các đánh tướng anh hùng ¿

ngoài trận mạc, là những nhân tài xây đựng đất nước nhữ: Hai Bà Trưng, Bà

Triệu, Nguyên Phi Ÿ Lan (thời Lý), Dương Vân Nga (thoi tiền Lê), Bài Thị ï

Xuân (hồi Tây Sơn), vợ Ba Để (thời chống Pháp), và còn nhiều người

phụ nữ bình thường có công chẳng giặc ngoại xâm đã dược tôn thành Nữ

thân để đời đời ghí nhớ ơn đức, Các vị Nữ thần từ bao đời nay được người ;

dan tôn làm Thánh, Thần, được các triều dinh phong kiến Việt Nam ban SẮC

phong trở thành các vị thần thành hoàng của nhiều làng như: Thánh Liễu

Hạnh là Thành hoàng làng Phố Cát (Thanh Ioá), Hai Bà Trưng là Thành ¿j

hoàng làng của người dân Mê Linh (Vĩnh Phúc), Linh Sơn MỊ Nương ở Bắc

Ninh, Nhiều Nữ thần được sắc phong là Thượng, đẳng thần

Đi sâu hơn vào đời sống của người nông dan trồng lúa nước thì đất và ¿

nước Ïà những điều kiện quan trọng hàng đầu Hai yếu tổ quan trọng đó đã -

nuôi sống cây hia dé tao ra théc gạo, duy trì cuộc sống con người Bởi thể,

từ lâu nay, người nông dan coi đất, nước và cây lúa như thân linh hay là

biểu tượng thiêng liêng và pần gũi như người Mẹ Trong các quy trình canh

tác, trồng trot từ lúc cày dat, gieo hạt, chăm bón cây lúa cho tới khi gặt

hái, đều được mở đầu bằng các nghỉ lễ trang trọng và thiêng liêng,

Tín ngưỡng thờ Mẫu chứa dựng những nhân tố về một hệ thống vũ trụ;

thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước đã

được thiêng liêng hoá mà Mẫu là biểu tượng cáo nhất Dó là sự tiếp thu

những ảnh hướng của phong tục thờ cing tổ tiền, một tín ngưỡng có vai trỏ quan trong hang dau trong tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam Tín ngưỡng

thờ Mẫn Việt Nam là một tín ngưỡng bán địa cùng với những ảnh hưởng

‘agoai lai từ Đạo giáo, tín ngưỡng lay việc tôn tho Mau lam thần với các

quyền năng sinh sôi, bảo trợ và che chớ cho con người Tĩn ngưỡng này đã được giới tính hoá mang hình mẫu của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ

nữ Việt Nam gửi sim những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành k rang buộc của xã hội Nho giáo phong kiến Các văn bản ghi chép về các thần link ban dau déu xudt phát từ thân thoại, huyền thoại,

truyện kế dân pian và đồng thời cũng có hiện tượng ngược lại là huyền thoại hoá, din gian hoá các văn bản thần tích, thần phả Hiện tượng đó về các Nữ

- thân, Thánh Mẫu cũng không nằm ngoài quy luậi chung này

Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thông hoá được

“tin ngưỡng thờ Mẫn Việt Nam trên cá phương điện đồng đại và lịch đại Về phương điện lịch đại, tía ngưỡng thờ Mẫu được hình thành và phái triển từ tục thờ Nữ thân và Mẫu thần bán địa, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trưng Hoa dê đạt đến đính cao là tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Tam phú,

Tử phủ Tới thế kỷ XVII — XVIH, khi Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đã được hình

¿thành và phát triển thì nó lại Tam phú, Tứ phủ hoá tục thờ Nữ thần

Tục thờ Mẫu Việt Nam quan trọng đến mức Miẫu Liễu Hạnh (Mẫu Dịa)

chiếm vị trí là một trong Tứ bắt tử của người Việt Huyền thoại về mẫu Liễu

“Hạnh xuất hiện với quê quán, thân phận như chứng minh về sự hiện bữu của

Thánh Mẫu Sau này, Mẫu Liễu Hạnh được đồng nhất với mẫu Thượng

: Thiên, Mẫu Dịa; và sau thời Mạc, ngôi Tam toà được hiểu là ba vị Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Sơn Trang, Mẫu Thoải Phủ

Hầu đồng và Hầu bóng là những thuật ngữ rất quen thuộc trong tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phú “Đổng” là một tủ

gốc Hán Việt, chỉ người con

“tai dưới mười lăm tuổi với tư chất trong trắng, ngây thơ, tự nhiên để thần : Tĩnh có thể nhập vào Dẫn dẫn sau này, người ta đùng các cô gái thay thể các

› thiêu miên Tuy phiên trong số các ông đồng, bà đồng, thịnh thoảng người ta

con, thấy các em nhỏ trên đưới mười lăm tuổi Hầu đồng tức là thần linh

“an trong thân xác đồng nhi 4 dy 1]du bong, trong dé tx “Bong” chi vi than

linh nào đó chiếu, nhập cái bóng hồn của mình vào ông đồng, bà đồng và

họ chỉ là người hầu bạ cái bóng thần linh khi có tiệc lễ Tam phủ, Tứ phủ

em hình 24, phụ lục 1)

Trang 40

2Gác nghiên cứu đã cho thấy có bai dòng Đẳng, đỏ là Đồng cốt thờ

Thánh Mẫu và Thanh Đồng thờ Vua Cha Bát Hải, Dức Thánh Trần Trong

dấn gian thi Cốt có nghĩa là Bà Cốt Tavornicr giải thích thêm tên gọi người

phù thuỷ ở Đăng Ngoài, biến âm Bà Cô tỉ (cô gái nhỏ) thành Bacoti, tức Bà

Cốt Cốt còn dược giải nghĩa là thân xác, xương cốt của con đồng mà thần

linh nhập vào Hay Cốt là từ "cất cách nhì đồng", tức những người nhỏ

tuổi, trong trắng, hồn nhiên ngây thơ”

Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, ngày nay trong tin ngưỡng dân

gian thờ Mẫu có sự hội nhập và đan xen các yếu tổ của tôn giáo nguyên thuỷ

cáo tôn giáo của xã hội có giai cấp và khu vực như Đạo

như Saman giáo để

giáo hay tôn giảo thê giới như Phật giáo

3.2 Kỹ năng khai thác

3.2.1 Xác định khả năng quan sát và tham gia của du khách

— Trình tự hành lễ:

Việc lễ tại đền khá phúc tạp, không don giản như lễ tại chùa hay đình

HDV cần nắm được trình tự này dễ hướng dẫn du khách quan sát hoặc tham

gia tuỳ theo mức độ quan tâm cũng như nhụ cầu của từng đoàn khách

Theo lệ thường, người ta lễ thần linh Thể Địa, thú dễn trước, còn gọi là

lễ trình Lễ này mang ý nghĩa là cáo thần linh Thế Địa nơi mình đến lễ

Tiếp nổi, lễ vật được sắp đặt, sửa sang nghiêm cân Khi đâng lễ phải

kính cân dùng hai tay dâng lễ vật lên các ban thờ, đặt cân thận lên ban thờ

chính từ trong ra ngoài

Chỉ sau khi dang lễ xong tại các ban thờ thì mới được thấp hương Khi

làm lễ, cẦn phải dang lễ theo thứ tự sắp xếp từ cao đến thấp, từ trong ra

ngoài, từ ban chính đến ban phụ:

Ban the - Hướng dẫn về lễ vật

1 Hậu Cung thờ Huong hoa, tra, thuốc, rượu, trái quả năm mâu, tiên vàng ngân

Thánh Mẫu Tam toà xuyến bằng mã, vàng thờ Mẫu màu đỏ chỉ mang tỉnh tượng trưng,

2 Ban: Tứ phủ Mâm lễ mận, xôi, gà vả hương hoa, trà thuốc, rượu, trái quả năm

: công đồng mâu, tiên vàng ngắn xuyến bằng mã, vàng Công đồng bồn màu

3 Ban thờ quan lớn | Bạn náy cần có ñ quả trứng vịt sống đặt trong đĩa muỗi và gạo,

Ngũ dinh (Ngũ Hỗ) | một miếng thịt mỗi được khía thành năm phản không rởi nhau

Ì hưởng là thịt lợn) để sống và cũng có thể thêm tiền vàng mã và :

tiên dương đặt lễ ị

>4 N96 Đức Thịnh, Đạo Mẫu ở Việt Nam, NXB Văn hod ~ Théng tin, 2002, tr.17

[a Ban Quan Hoang | Mam ặn, xôi, gã và hương hoa, trí trả thuốc, rượu, nu, trả qua nam |

màu, tiền vàng ngân xuyễn bang ma, vàng đại theo sắc áo các ông Hoàng mà cúng vàng treo màu đó

5 Bạn thờ Trân triều Mâm lễ mặn, xôi, gà, thịt lợn, giò chả, được làm cản “than nau

chin và hương hoa, trả, thuốc lào, rượu, trái qua năm màu tiên {Đức Thánh Trằn) vàng ngân xuyễn bằng mã, vàng nhà Tran mau Đại thiếc

6 Ban Chia chau | Gồm có bánh kẹo, trái qua đủ ngũ sắc, trầu cau, ¡, thuộc lá, chè,

Thượng Ngàn chai rượu nhỏ, hoa tươi, tiền âm chỉnh, tờ bạc ngân xuyên và đồi {Son trang) nên đỏ, hương thắp, tiên dượng lẻ, có thé 6 thém so tau chi

Hán hoặc chữ Quốc ngir, vo so mau xanh lá cây Khi có tiệc lớn

sám cỗ mặn gồm những đồ đặc sản Việt Nam như: 15 con Cua,

15 Ốc, 15 tôm, 15 cá và 18 quả ới, 15 chanh quả, Con số 18 j

này tương ứng với 15 vị được thờ tại ban Sơn Trang I Chúa, 2 vị Châu Bá, 12 Cô thị nữ Sơn trang theo hau

r 7 Ban Te Pho oo phn T

Oẳn, trai quá, hương hoa, hia, hài, nón, áo mữ hàng mã,

Thanh Co gương lược Ộ

8 Ban the Ba Huong hea, tiền vàng mã và trầu cau trái quả, bảnh kẹo, tiền

¡ Chúa ban dén vang ngan xuyén bang ma

9 Bạn thờ Ông Hương hoa, tiễn vàng má và trầu cau, trái quả, bánh kẹo Tiền

(hay bản đền)

- — — ——

— Thủ tự thấp hương tại các ban thờ theo nguyên tắc sau đây:

+ Ban thờ chính của điện, dền được đặt theo hàng dọc, gian chính giữa được thấp hương trước

; + Các bạn thờ hai bên được thấp hương sau khi đã thấp xong ở ban chính giữa Các ban ở ngoài sân hoặc gian thờ khác sẽ thắp hương tiếp theo, + Khi thắp hương thường đùng các số lẻ: 1 (số dương khởi), 3 (s6 đương sinh) Tuy nhiên, chỉ nên thắp I nén hương, tránh cho ởi tích bị xuống cấp, tượng và để thờ ám khói, phòng tránh hoả hoạn, Sau khi dâng hương, vái

ba vái rồi thính 3 hồi chuông và đọc bài văn khấn,

— Trình tự hạ lễ:

+ Kết thúc khẩn, lễ ở các ban thờ, trong khi đợi hết tuần hương, có thể

Ý việng thăm phong cảnh nơi thờ tự tại dó

- i Khi thắp hết một tuần hương, có thể thắp thêm một tuần hương nữa

Thấp hương xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ, sau dó hạ lễ của mình, hạ

tiên vàng mã đem ra nơi hoá vàng để hoá, cần hoá từng lễ một, từ lễ ban thờ

š chính đến ban thờ Cô, Cậu,

75

Ngày đăng: 12/05/2022, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w