(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020(Đề tài nghiên cứu khoa học) Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ tại Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020
Trang 11
BỘ Y TẾ BỆNH VIỆN PHONG - DA LIỄU TRUNG ƢƠNG QUY HÒA
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH
VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THEO KHÁNG SINH ĐỒ TẠI BỆNH VIỆN PHONG - DA LIỄU TRUNG ƢƠNG QUY HÒA NĂM
Trang 22
BỘ Y TẾ BỆNH VIỆN PHONG - DA LIỄU TRUNG ƢƠNG QUY HÒA
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH
VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THEO KHÁNG SINH ĐỒ TẠI BỆNH VIỆN PHONG - DA LIỄU TRUNG ƢƠNG QUY HÒA NĂM
2020
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ CHUYÊN NGÀNH: DƢỢC LÂM SÀNG
Mã số:………
Chủ nhiệm đề tài: Võ Văn Trường
Nhóm nghiên cứu: Lương Văn Hội
Lê Thị Quỳnh Dung
Trang 33
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng sinh đã được đưa vào sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 20, nhưng cho đến nay, sử dụng kháng sinh hợp lý vẫn đang là một thách thức lớn của toàn thế giới, thuật ngữ “ đề kháng kháng sinh”đã trở nên quen thuộc trong điều trị nhiễm khuẩn Nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới và Việt Nam cho thấy đã xuất hiện nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc và tỷ lệ kháng đang tăng dần theo thời gian [10], [16]
Hiện nay, kháng thuốc không phải là vấn đề mới, nhưng đã trở nên nguy hiểm, cấp bách, đòi hỏi phải có sự nỗ lực tổng hợp nhằm giúp nhân loại tránh khỏi nguy cơ quay trở lại thời kỳ chưa có kháng sinh Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) nhận định, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên phụ thuộc kháng sinh và yêu cầu toàn cầu có trách nhiệm bảo vệ nguồn thuốc kháng sinh quý giá cho thế hệ sau [8] [13]
Đề kháng kháng sinh là một mối đe dọa phát triển và sức khỏe toàn cầu đang tiếp tục leo thang, TCYTTG ước tính có hơn 50% kháng sinh ở nhiều quốc gia được sử dụng không phù hợp như chỉ định kháng sinh để điều trị nhiễm vi-rút hoặc
sử dụng kháng sinh sai (phổ rộng hơn), do đó góp phần vào việc lan truyền đề kháng kháng sinh[15][16]
Xu hướng kháng lại các thuốc kháng sinh thường dùng, làm cho thuốc đó không còn tác dụng trên lâm sàng, không còn tác dụng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh Khi đó thuốc kháng sinh đang dùng điều trị cho người bệnh không tiêu diệt được vi khuẩn gây bệnh Ngay cả khi chúng ta sử dụng kháng sinh với nồng độ cao, thời gian kéo dài Những vi khuẩn kháng thuốc sẽ nhân lên nhanh chóng, lây lan, gây bệnh trước sự bất lực của các Bác sỹ [6]
Kháng sinh là một nhóm thuốc quan trọng và được sử dụng rộng rãi trong điều trị Sự ra đời của kháng sinh đã cứu sống hàng triệu người đánh dấu một kỷ nguyên mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Ngoài ra, kháng sinh còn
Trang 44
được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt, chăn nuôi .Tuy nhiên, cũng do việc sử dụng rộng rãi, kéo dài, chưa hợp lý nên tình trạng kháng kháng sinh của các vi sinh vật ngày một tăng Mức độ kháng thuốc ngày càng trầm trọng làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, nguy cơ tử vong cao, thời gian điều trị kéo dài, chi phí điều trị tăng cao, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh và cộng đồng [9]
Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hoà những năm gần đây đã có nhiều phát triển về trang thiết bị y tế kỹ thuật cao, phương tiện chẩn đoán và điều trị hiện đại không những cho bệnh nhân Phong – Da liễu mà đã và đang từng bước
mở rộng điều trị các bệnh Đa khoa cho khu vực Miền trung - Tây nguyên Hiện nay, đã thu hút đông đảo không những người bênh Da liễu đến khám và điều trị
mà còn cả bệnh nhân đa khoa, các chuyên khoa lẻ đến khám bệnh và điều trị Vì vậy vấn đề sử dụng kháng sinh để điều trị dự phòng cho bệnh nhân là điều không tránh khỏi
Về tình hình chi khám chữa bệnh BHYT năm 2017, Kiểm toán Nhà nước đã xuất toán 168,177 tỉ đồng do thanh toán BHYT không đúng, trong đó thanh toán chi phí dịch vụ kỹ thuật sai gần 111 tỉ đồng, thanh toán chi phí thuốc không đúng quy định 5 tỉ đồng, thanh toán chi phí vật tư y tế sai 3 tỉ đồng
Tại Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hoà, liên tục xuất toán BHYT từ năm 2016, 2017 là trên 17 triệu, năm 2018 là 450 triệu, năm 2019 là 120 triệu (nguồn TCKT Bệnh viện Phong – Da liễu trung ương Quy Hoà)
Với mong muốn đánh giá thực tế sử dụng kháng sinh tại bệnh viện, từ đó có biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh, tránh BHYT xuất toán chúng tôi tiến hành đề tài Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và tuân thủ điều trị theo kháng sinh đồ ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Phong –
Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2020 nhằm mục tiêu:
Trang 66
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Vi khuẩn
1.1 Đặc điểm chung
Kích thước nhỏ bé: đo bằng micron: 1/1000mm
Hấp thu nhiều, chuyển hóa nhanh: Lactobacillus trong một giờ có thể phân giải một lượng đường lactose nặng gấp 1000-10.000 lần khối lượng của chúng Sinh trưởng nhanh- phát triển mạnh: E.coli/24h/108 – 109 tế bào/ml thể dịch
Thích ứng mạnh và dễ biến dị: Thích ứng qua hàng triệu năm tiến hóa nhờ lượng Enzyme cao chiếm 10% lượng protein / VSV
Phân bố rộng- chủng loại nhiều:
- Có khắp mọi nơi: đất, nước, không khí, vật dụng, cơ thể người, các sinh vật khác
- Nhiều chủng loại: >100.000 loài Hiện nay chỉ mới phát hiện ra 1/10
1.2 Các sản phẩm dược dụng có nguồn gốc vi sinh vật
Thuốc kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc do hóa học tổng hợp hay bán tổng hợp mà ngay ở nồng độ thấp đã có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi sinh vật một cách đặc hiệu
1.2.1 Các loại kháng sinh:
- Penicillin (từ nấm penicillium notatum hay chrysogenum)
- Streptomycin (từ nấm streptomyces)
- Cloramphenicol (từ nấm streptomyces venezuelae)
1.2.2 Chất thay thế huyết tương:
Dextran (do vi khuẩn Leuconostoc dextranicus)
1.2.3 Các acid hũu cơ, acid amin, các Vitamin:
- Acid lactic nhờ vi khuẩn Lactobacillus delbrueckii lên men đường lactose hay glucose
- Acid glucuronic: Nhờ vi khuẩn Gluconobacter suboxydans oxy hóa Glucose
Trang 77
- Vitamin B2: Từ nấm Eremothecium ashbyii
- Vitamin B12: Từ Propionibacterum freudenreichii
1.3 Enzyme và thuốc là vi khuẩn:
1.3.1 Enzyme
- Streptokinase, streptodornase: Từ liên cầu khuẩn (làm tan cục máu đông)
- Protease, Amylase: do Bacillus subtilis
1.3.2 Các sản phẩm từ công nghệ tái tổ hợp DNA:
- Vaccin phòng bệnh do virus viêm gan B: Dùng Saccharomyces cerevissiae
- Interferon, hormone tăng trưởng (Human growth hormone), lymphokin, interleukin
1.4 Các thuốc là vi khuẩn:
- Biolactyl, Antibio, L-bio… (Lactobacillus acidophilus )
- Bidisubtil (Bacillus subtilis ), Colisubtil (Ecoli + Bsubtilis )
- Utra-Levure ( Sacharomycess bou lardii)
1.5 Hình thái vi khuẩn
1.5.1 Hình dạng vi khuẩn:
- Hình cầu: Tụ cầu Liên cầu, Song cầu, Tứ cầu
- Hình que: Trực khuẩn Lao, Trực khuẩn than, Trực khuẩn uốn ván
- Hình xoắn: Phẩy khuẩn tả, Xoắn khuẩn giang mai
1.5.2 Cấu tạo vi khuẩn:
- Thành tế bào = Vách tế bào
Thành phần Tỷ lệ % của VK Gr(+) Tỷ lệ % của VK Gr(-)
Peptidoglycan
- Màng tế bào chất
Trang 8- Ăn màu tím Gentiane (Violet De Gentiane)
- Dung dịch Lugol giữ màu
Vi khuẩn Gr (-)
- Không ăn màu tím Gentiane
- Nhuộm phản màu: Ăn màu hồng với Fuchsine hoặc Safranin O
+ Rickettsia prowazekii (Bệnh sốt phát ban)
+ R.orientalis (Gây bệnh Tsutsugamushi)
+ R.mooseri (Gây bệnh sốt phát ban địa phương)
Clamydia:
- Kích thước rất nhỏ qua lọc, Gram (+)
- Ký sinh trên tế bào sinh vật nhân thực
- Chlamydia trachomatis (Gây bệnh đau mắt hột cho người)
2 Kháng sinh, huyền thoại và thực tế
Định nghĩa kháng sinh:
Là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc do hóa học tổng hợp hay bán tổng hợp mà ngay ở nồng độ thấp đã có có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi sinh vật một cách đặc hiệu [11]
Trang 99
Trước khi kháng sinh được tìm thấy và sử dụng ngoại khoa và phẫu thuật thường gặp rất nhiều biến chứng, tử vong và tàn phế do bị nhiễm trùng qua vết thương [15,16,17]
Sự tìm thấy kháng sinh là một cuộc cách mạng trong Y học nói chung và trong ngoại khoa nói riêng Sau khi tìm thấy sulfamides, Alexander Fleming đã tìm thấy penicilline năm 1928 Từ đó, nhiều kháng sinh khác được tìm ra và sản xuất [17]
Nhờ kháng sinh, Ngoại khoa đã đạt được những bước tiến vĩ đại, đã phục vụ tốt cho sự sinh tồn của sinh vật trên địa cầu Phẫu thuật, nhờ có kháng sinh mới thực hiện có kết quả và mới bảo đảm thành công Tiếc thay, thời đại hoàng kim đó
đã qua, ngày nay nhiều vi khuẩn đã kháng với kháng sinh Kháng sinh không còn
là liều thuốc vạn năng như khi mới tìm thấy Tuy nhiên, kháng sinh là thuốc không thể thiếu trong ngoại khoa để phòng ngừa và để diệt vi trùng khi đã bị nhiễm[1,2,3]
Nhờ dày công nghiên cứu, trước sự phản công của vi khuẩn, các nhà khoa học
đã tìm ra ngày càng nhiều kháng sinh hữu hiệu hơn, có thể tiêu diệt được nhiều loại
vi khuẩn kháng thuốc Chúng ta đang ở trong thời kỳ chiến tranh với vi khuẩn để tồn tại Kháng sinh được chia làm 2 nhóm điều trị là kìm khuẩn và diệt khuẩn[19]
- Kìm khuẩn là: Thuốc có tác dụng kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn để hủy
hoại và giết chết vi khuẩn Thuốc kìm khuẩn không có tác dụng trên các tế bào vi khuẩn ở trạng thái nghỉ, nồng độ kháng sinh luôn phải được duy trì ở mức đủ ức chế sự phát triển của vi khuẩn tại chỗ ổ nhiễm khuẩn Người bệnh khỏi bệnh khi hệ miễn dịch cơ thể đủ khả năng loại trừ vi khuẩn đã bị ức chế ra khỏi cơ thể [4]
- Diệt khuẩn: Gây rối loạn không hồi phục chức năng tế bào vi khuẩn làm vi
khuẩn chết và chỉ có tác dụng diệt khuẩn khi vi khuẩn nhân lên động năng diệt khuẩn phù thuộc vào nồng độ của thuốc [4]
- Hiện nay, Cephalosporines thế hệ thứ 4, Aminoglycosides, Quinolone đều đã
bị kháng từ 25 đến 50% Các kháng sinh tốt như Vancomycine cũng đã bị một số
Trang 1010
cầu khuẩn coi thường Các kháng sinh đắt tiền như Tazocin, Imipenem, Ertapenem, Timentin, Sulperazon, Apexim cũng có vài nhóm vi khuẩn chống lại, đặc biệt là Metronidazole là kháng sinh thường cho là rất tốt đối với vi khuẩn hiếm khí thì một số bệnh viện cảnh báo, thuốc này đã bị một số vi khuẩn hiếm khí đề kháng [4]
3 Cơ chế tác dụng của kháng sinh, tình hình vi khuẩn kháng kháng sinh trên thế giới và trong nước
3.1 Cơ chế tác dụng của kháng sinh
Trang 11Chọn liều kháng sinh theo nguyên tắc dược động học và dược lực học Chỉ
số PK/PD của kháng sinh do đặc tính có liên quan đến nồng độ thuốc trong máu, theo đó kháng sinh có hai kiểu tác dụng chính:
Kháng sinh phụ thuộc nồng độ (Cmax/MIC):
Kiểu diệt khuẩn phụ thuộc nồng độ (Concentration-dependent bactericidal activity): Với loại này, tốc độ và mức độ diệt khuẩn phụ thuộc vào độ lớn của nồng
độ kháng sinh trong máu Aminoglycosid, fluoroquinolon, daptomycin, ketolid,
metronidazol, amphotericin B có kiểu diệt khuẩn này [1,3]
Kháng sinh phụ thuộc thời gian (T>MIC):
Kiểu diệt khuẩn phụ thuộc thời gian (Time-dependent bactericidal activity): Với loại này, tốc độ và mức độ diệt khuẩn phụ thuộc chủ yếu vào thời gian vi khuẩn tiếp xúc với kháng sinh, ít phụ thuộc vào độ lớn của nồng độ thuốc trong máu Khả năng diệt khuẩn đạt bão hòa khi nồng độ lớn hơn MIC khoảng 4 lần; khi tăng hơn nữa nồng độ, tốc độ và mức độ diệt khuẩn tăng không đáng kể Nhóm beta-lactam, macrolid, clindamycin, glycopeptid, tetracyclin, linezolid có kiểu diệt khuẩn thuộc nhóm này[1,3]
3.2 Tình hình vi khuẩn kháng kháng sinh trên thế giới và trong nước
3.2.1 Tình hình vi khuẩn kháng thuốc trên thế giới
Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, vấn đề kháng thuốc đã trở nên báo động Gánh nặng về chi phí điều trị do các bệnh nhiễm khuẩn gây ra khá lớn do việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới, đắt tiền
Trang 1212
Năm 2011, tình hình lao kháng thuốc đang xảy ra ở hầu hết các quốc gia Toàn cầu có khoảng 640.000 trường hợp lao đa kháng thuốc (MDR - TB), trong số
đó khoảng 9% là siêu kháng thuốc (XDR - TB) [1][4]
Ký sinh trùng sốt rét Falciparum kháng với Artemisinin đang nổi lên ở Đông Nam Á Đề kháng với thuốc chống sốt rét thế hệ trước đó như chloroquine và sulfadoxine-pyrimethamine là phổ biến ở hầu hết các nước lưu hành sốt rét [3]
Việc tiếp cận toàn cầu đối với các thuốc kháng vi rút để điều trị người bệnh HIV làm tăng nguy cơ kháng thuốc Sự kháng của vi rút đối với các thuốc này đang là mối đe dọa đối với loài người Khoảng 15% người bệnh được điều trị đã phải dùng đến các thuốc phác đồ bậc hai và bậc ba Chi phí các thuốc này gấp 100 lần so với các thuốc phác đồ bậc một Sự kháng thuốc của HIV tăng lên đặt ra một thách thức cần phải duy trì chương trình tiếp cận toàn cầu ở các nước có thu nhập thấp Các nước này cần phải tăng cường các dịch vụ y tế và cải tiến chất lượng chăm sóc người nhiễm HIV để giảm tối thiểu việc lan truyền vi rút kháng[5]
Số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2001 của
14 trung tâm từ 11 nước Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ kháng cao của vi khuẩn S
pneumoniae Trong số 685 chủng vi khuẩn S pneumoniae phân lập được từ người
bệnh, có 483 (52,4%) chủng không còn nhạy cảm với penicillin, 23% ở mức trung gian và 29,4% đã kháng với penicillin (MIC ≥ 2mg/l) Kết quả phân lập vi khuẩn cho thấy tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất (71,4%) tiếp theo là Hàn Quốc (54,8%), Hồng Kông (43,2%) và Đài Loan (38,6%) Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao, ở Việt Nam là 92,1%, Đài Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng Kông là 76,8% và Trung Quốc là 73,9% Số liệu từ nghiên cứu giám sát đa trung
tâm đã chứng minh rõ ràng về tốc độ và tỷ lệ kháng của S pneumoniae tại nhiều
nước châu Á, những nơi có tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất thế giới [33,34]
Theo số liệu nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện Hàn Quốc
cho thấy S aureus kháng Methicillin (MRSA) 64%; K pneumoniae kháng cephalosporin thế hệ 3 là 29%; E coli kháng fluoroquinolone 27%, P aeruginosa
Trang 1313
kháng 33%, Acinetobacter spp kháng 48%; P aeruginosa kháng amikacin 19%,
Acinetobacter spp kháng 37% E faecium kháng vancomycin và Acinetobacter spp kháng imipenem tăng lên dần Tỷ lệ kháng phát hiện tại các phòng xét nghiệm
của E coli và K pneumoniae đối với cephalosporin thế hệ 3 và P aeruginosa đối
với Imipenem cao hơn trong bệnh viện [4,27,28]
Các thuốc kháng sinh điều trị hiệu quả bệnh lỵ do Shigella trước đây đã bị
kháng, vì vậy hiện nay TCYTTG đang khuyến cáo dùng ciprofloxacin Tuy nhiên
tỷ lệ kháng ciprofloxacin tăng lên nhanh chóng đã làm giảm cả độ an toàn và hiệu quả điều trị, đặc biệt là đối với trẻ em [14,28,29]
AMR đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong điều trị bệnh lậu (gây ra
bởi N gonorrhoeae), thậm chí liên quan đến cả cephalosporin uống (phương thuốc
cuối trong điều trị) và ngày càng gia tăng trên toàn thế giới Nhiễm khuẩn do lậu cầu không thể điều trị được sẽ dẫn đến tăng tỷ lệ bệnh và tử vong, do đó làm đảo ngược lại các thành tựu đã đạt được trong chương trình kiểm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục Việc kiểm soát các loại bệnh này đã và đang chịu sự tác động bất lợi của sự phát triển và lan rộng của tình trạng kháng thuốc
Cơ chế kháng mới, như beta-lactamase NDM-1, đã nổi lên trong số các trực khuẩn gram âm Điều này có thể làm mất hiệu quả của các kháng sinh mạnh - thường là chỉ định cuối cùng để chống lại các chủng vi khuẩn đa kháng [4,19]
3.2.2 Tình hình vi khuẩn kháng thuốc tại Việt Nam
Các vi khuẩn thường gặp trong bệnh viện ở Việt Nam theo báo cáo của ASTS (Chương trình giám sát tính kháng thuốc) của nước ta năm 2006 bao gồm các vi khuẩn: E.coli, trực khuẩn mủ xanh, Klebsiella, A.baumannii, tụ cầu vàng Tại các bệnh viện lớn như Bạch mai, Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Quân Đội
108, Bệnh viện Trung ương Huế… các vi khuẩn nêu trên có tỷ lệ kháng rất cao với các kháng sinh thường dùng, cụ thể là với E.coli các kháng sinh hay sử dụng để điều trị là gentamicin và cefotaxim đã bị kháng lần lượt là 51% và 50,3% Tụ cầu
vàng kháng methiciline là 41,7%, đây chính là các chủng MRSA (2010) [4]
Trang 1414
Đặc biệt với Acinetobacter baumannii, một căn nguyên nhiễn trùng bệnh viện hàng đầu hiện nay thì tỷ lệ kháng kháng sinh đã ở mức báo động đỏ cụ thể là với hơn 3000 chủng A baumannii phân lập được tại 7 bệnh viện lớn, đại diện cho
3 miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam Kết quả cho thấy vi khuẩn này đã có tỷ lệ kháng cao với hầu hết các kháng sinh thông thường dùng trong bệnh viện (tỷ lệ kháng trên 70% ở 13 trên tổng số 15 loại kháng sinh được thử nghiệm) Trong đó
tỷ lệ kháng với nhóm carbapenem với 2 đại diện imipenem và meropenem lần lượt là: 76,5% và 81,3% Nhóm cephalosporin kháng trên 80%, trong đó kháng 83,9% với cefepim, 86,7% với ceftazidin, 88% với cefotaxim, 93,1% với ceftriaxone (2013)[1,7,8,10]
Theo số liệu báo cáo của 15 bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện đa khoa tỉnh
ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh,… về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh giai đoạn 2008 - 2009 cho thấy: năm 2009, 30 - 70% vi khuẩn gram âm đã kháng với cephalosporin thế hệ 3 và thế hệ 4, gần 40-60% kháng với
aminoglycosid và fluoroquinolon Gần 40% chủng vi khuẩn Acinetobacter giảm
nhạy cảm với imipenem [4,11,12]
4 Các nhóm kháng sinh thường sử dụng tại bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hoà
1 Nhóm Penicilin
Trang 1515
Cơ chế tác dụng:
- Acyl hóa các D-alanin transpeptidase, làm cho quá trình sinh tổng hợp peptidoglycan của vi khuẩn không thực hiện
- Hoạt hóa enzym tự phân giải murein hydroxylase, làm tăng phân hủy vách tế bào
vi khuẩn dẫn đến vi khuẩn bị tiêu diệt.[1,2]
Đánh giá tác dụng của kháng sinh penicilin Theo đơn vị quốc tế:
• 1 IU = tác dụng của 0,6 g Pen G natri trên một chủng mẫu tụ cầu