1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tham gia của cộng đồng, các nhà tài trợ quốc tế trong công cuộc giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

7 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 311,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Sự tham gia của cộng đồng, các nhà tài trợ quốc tế trong công cuộc giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam trình bày khái quát về sự tham gia của cộng đồng các nhà tài trợ trong công cuộc giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, thay đổi trong sự tham gia của cộng đồng địa phương với giảm nghèo dân tộc thiểu số,... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG, CÁC NHÀ TÀI TRỢ QUỐC TẾ TRONG CÔNG CUỘC GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT

NAM

Gavan McCann, Chủ tịch nhóm Dân tộc thiểu số , Phó Đại Sứ, Trưởng phòng Phát triển, Irish Aid

Khái quát về sự tham gia của cộng đồng các nhà tài trợ trong công cuộc giảm nghèo cho đồng bào DTTS

1 Dù đã đạt được những tiến bộ trong giảm

nghèo ở cấp quốc gia, đưa Việt Nam lên hàng

một trong những nước đang phát triển dẫn đầu

về thành tích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và

giảm nghèo, phần đông DTTS ở Việt Nam vẫn

còn nghèo Trong khi chỉ khoảng 13% dân tộc

Kinh là nghèo vào năm 2010 thì có đến 63%

DTTS là nghèo Chỉ chiếm 14,6% tổng dân số

nhưng DTTS chiếm đến gần 50% tổng dân số

nghèo năm 2010 (xem hình dưới đây) Đáng lo

ngại hơn, khoảng cách giữa nhóm đa số và

thiểu số (đo lường theo thu nhập và nhiều khía cạnh khác của mức sống) có xu hướng tăng theo thời gian và tốc độ giảm nghèo cho DTTS cũng đã chậm dần Chính vì vậy, hỗ trợ giảm nghèo cho DTTS đã luôn là một ưu tiên trong chiến lược hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế (DP) cho công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam Một cách chung nhất, sự tham gia của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vào giảm nghèo cho DTTS ở Việt Nam có thể chia thành bốn giai đoạn dưới đây

Nguồn: tính toán từ các cuộc Khảo sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) giai đoạn

1992-2010, sử dụng chuẩn nghèo NHTG-TCCK

Ghi chú: CT135 là Chương trình 135; 30a là ký hiệu của Chương trình 30a; CTMTQGGN là Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Giảm nghèo bền vững, ‘CT135-3’ là cách ký hiệu ngắn gọn trong báo cáo này của CT135 giai đoạn 2013-2015 và 2016-2020 hiện nay; CPRGS là Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo; VDPF là Quan hệ Đối tác Phát triển Việt Nam, thay thế cho Nhóm Tham vấn các nhà tài trợ

2012 2014 2015

30A

NTP SPR 2012-15 P135-‘3’

P135-I P135-II

Tuyên bố Khung Hà nội

Stage 1 Stage 2 Stage 3

Stage 4 VDBF CPRGS

Trang 2

Thay đổi trong sự tham gia của cộng đồng DP với giảm nghèo DTTS

2 Giai đoạn 1 (khoảng 1990-1998) bắt đầu

với khoảng 86% DTTS nghèo trong khi tỷ lệ

nghèo trung bình toàn quốc là 58% (năm

1993) Đây cũng là giai đoạn đầu của công

cuộc Đổi mới và vì vậy rất nhiều DP hoặc bắt

đầu hoặc nối lại quan hệ hỗ trợ cho Việt Nam

Do (i) trọng tâm của hỗ trợ là chuyển đổi sáng

nền kinh tế thị trường và (ii) tỷ lệ nghèo chung

toàn quốc đang ở mức rất cao nên không có hỗ

trợ đặc thù riêng cho DTTS Vào đầu giai đoạn

này, mới chỉ có 18% người nghèo là DTTS Cả

giai đoạn này chứng kiến hỗ trợ ngày càng

tăng của các DP, chủ yếu theo những hình thức

hỗ trợ ODA truyền thống, nhất là các dự án

riêng biệt Các cơ quan Liên Hợp Quốc là

những DP quan trọng trong giai đoạn này với

nhiều hỗ trợ khác nhau Đồng thời nhiều tổ

chức INGO cũng bắt đầu mở rộng hoạt động

tại Việt Nam

3 Giai đoạn 2 (khoảng 1999-2005) bắt đầu

với Chương trình 135 giai đoạn 1, Chương

trình MTQG Giảm nghèo đầu tiên nhằm đẩy

nhanh tốc độ giảm nghèo cho đồng bào DTTS

Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm

nghèo được Chính phủ thông qua vào 2002 với

sự hỗ trợ của các DP Chiến lược này trở thành

một khung quan trọng để Chính phủ và DP

hợp tác trong công cuộc giảm nghèo Với

chương trình Hỗ trợ Tín dụng cho Giảm nghèo

ở Việt Nam do NHTG dẫn đầu với sự tham gia

của ngày các nhiều các nhà tài trợ, hỗ trợ ngân

sách bắt đầu trở thành một hình thức hỗ trợ

quan trọng, dù các DP vẫn duy trì những hỗ trợ

theo hình thức ODA truyền thống (như Dự án

CBRIP, NMPRP-1 của NHTG, Dự án phát

triển CSHT nông thôn Miền Trung của ADB,

các Dự án của IFAD và nhiều cơ quan UN

khác) Trong giai đoạn 2 này, đã có nhiều cơ

chế thực hiện và thực hành tốt trong giảm

nghèo được các DP giới thiệu và thí điểm Một

ví dụ phải kể đến là Dự án Chia sẻ của Thụy

điển, trên cơ sở kế thừa những thí điểm được

thực hiện bởi một số DP trước đó, hỗ trợ lập kế

hoạch có sự tham gia và cơ chế cơ sở làm chủ

đầu tư (trong giai đoạn đầu là thôn bản, sau đó

là cả thôn bản và xã) Do có nhiều nhà tài trợ quan tâm đến thúc đẩy giảm nghèo và hình thức hỗ trợ lại chưa thống nhất nên viện trợ phát triển trong giai đoạn này trở nên ngày càng phân tán, thậm chí là manh mún Chính vì vậy, giai đoạn này kết thúc với Tuyên bố Khung Hà nội (HCS), theo đó Chính phủ và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế cam kết đẩy mạnh sự hài hòa trong các can thiệp giảm nghèo ở cả cấp quốc gia và cấp vùng/ngành

4 Giai đoạn 3 (khoảng 2006-2010) là giai

đoạn chứng kiến sự hợp tác giữa cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế với Chính phủ Việt Nam theo tinh thần của Tuyên bố Khung Hà nội Hỗ trợ ngân sách mục tiêu, hỗ trợ chương trình, hỗ trợ theo ngành trở thành những hình thức hỗ trợ chính, mặc dù một số nhà tài trợ trong khi đó vẫn duy trì song song cách thức can thiệp ODA truyền thống Tình trạng đồng bào DTTS có xu hướng bị ‘bỏ lại phía sau’ và chênh lệch về mức sống giữa nhóm đa số với nhóm thiểu số ngày càng tăng làm cho vấn đề giảm nghèo cho DTTS trở thành một thách thức quan trọng đối với các nỗ lực giảm nghèo Chương trình 135-II là một chương trình lớn nhận được sự ủng hộ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Chương trình bắt đầu đi vào thực hiện từ năm 2006 và có 7 nhà tài trợ tham gia hỗ trợ Một Cơ chế Đối tác được thảo luận

và hình thành để làm cơ sở cho quan hệ hợp tác giữa Chính phủ và các nhà tài trợ Trong khuôn khổ Cơ chế Đối tác đó, lập kế hoạch có

sự tham gia, xã làm chủ đầu tư, cơ chế huy động ngân sách cho công tác VH&BT đã được khuyến khích như là cơ chế thực hiện của Chương trình Ngoài Chương trình 135-II, hầu hết các đối tác phát triển đều khuyến khích thực hiện lập kế hoạch có sự tham gia trong các can thiệp giảm nghèo Mô hình Quỹ Phát triển xã (CDF) được thí điểm ở nhiều nơi, ví

dụ như bởi Dự án Cung cấp Dịch vụ Công cho Phát triển nông thôn (PS ARD) của Thụy sỹ (SDC và Helvetas) tại Hòa Bình và Cao Bằng,

Trang 3

và Dự án Giảm nghèo Núi Phía Bắc giai đoạn

2 (NMPRP-2) của NHTG Mô hình hỗ trợ trọn

gói, thôn bản/xã làm chủ đầu tư được thực hiện

tại nhiều địa phương, trong đó có các xã thuộc

Chương trình Hỗ trợ thực hiện (ISP) của Úc tại

Quảng Ngãi, Dự án VOICE của Irish Aid ở

Bắc Kạn Ngoài ra, các vấn đề khác trong giảm

nghèo như quản trị địa phương, vai trò của các

tổ chức xã hội dân sự, kết nối người nghèo với

thị trường, nâng cao năng lực cho người dân và

cộng đồng cũng là những vấn đề rất được các

tổ chức phi chính phủ quan tâm và thúc đẩy (ví

dụ như Oxfam, SNV, Helvetas, Plan…) Giai

đoạn này cũng chứng kiến sự gia tăng đáng kể

số các chính sách, chương trình giảm nghèo

của Chính phủ Mặc dù vậy, tốc độ giảm nghèo

DTTS có xu hướng chững lại

5 Giai đoạn 4 (2011-nay) đánh dấu bởi sự

kết thúc của CT135-II và bắt đầu chu kỳ kế

hoạch 5 năm 2011-2015; quan trọng nhất là

việc Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập

trung bình Trở thành quốc gia thu nhập trung

bình, việc suy giảm các nguồn tài trợ đối với

giảm nghèo là một xu hướng được dự đoán

trước; đồng thời, Chính phủ cũng sẽ phải

nguồn lực từ trong nước cho các nỗ lực giảm

nghèo nhiều hơn so với trước đây Trong bối

cảnh đó, nhiều nhà tài trợ đã điều chỉnh để đưa

ra chiến lược rút lui trong khi nhiều nhà tài trợ

khác chuyển đối cách thức hỗ trợ theo phương

châm “từ viện trợ đến hợp tác cùng có lợi”

Mặc dù có những thay đổi lớn về bối cảnh

nhưng một số nhà tài trợ (EU, Irish Aid, SDC,

UNDP) trên cơ sở những kết quả tích cực đạt

được trong khuôn khổ quan hệ đối tác của

CT135-II vẫn sẵn sàng hỗ trợ cho giai đoạn

tiếp theo của CT135 Đã có một quá trình tham

vấn chặt chẽ giữa cộng đồng các nhà tài trợ

quốc tế với Chính phủ, đặc biệt là CEMA và

MOLISA, trong quá trình xây dựng văn kiện CT135 và CTMTQGGN giai đoạn mới Cộng đồng các nhà tài trợ hy vọng rằng những cơ chế thực hiện và thực hành tốt đã được thí điểm thành công, chứng tỏ được hiệu quả trong giai đoạn trước sẽ được tiếp tục kế thừa Tuy nhiên, bối cảnh những năm đầu tiên của giai đoạn mới là khá phức tạp Phải đến tận tháng 10/2012, CTMTQG GN 2012-2015 mới được thông qua Sáu tháng sau đó Thủ Tướng Chính phủ có quyết định phê duyệt CT135 giai đoạn 2013-2015 và 2016-2020 Do đó, nhiều nhà tài trợ dự định hỗ trợ cho một giai đoạn mới của CT135 (như EU và SDC) không thể chờ đợi được đến thời điểm Chương trình này ra đời

Do đó, nguồn lực này được chuyển sang các hình thức hỗ trợ khác (Chương trình Hỗ trợ ngành Y tế của EU; Dự án Cung cấp Dịch vu công cho phát triển nông nghiệp của SDC và Helvetas) Chỉ còn Irish Aid là nhà tài trợ duy nhất tiếp tục quan hệ đối tác với CEMA để thực hiện một giai đoạn chuyển tiếp của CT135 trong 2011 và 2012 thông qua cung cấp các nguồn lực cho các công trình CSHT quy

mô nhỏ được lập kế hoạch và giám sát thực hiện bởi cộng đồng Đồng thời, cùng với UNDP, Irish Aid hỗ trợ cho Dự án Chương trình và Chính sách Giảm nghèo (PRPP) để thúc đẩy đối thoại chính sách và hỗ trợ thực hiện CTMTQGGN Đáng lưu ý là rất nhiều những thực hành tốt và những cơ chế sáng tạo

đã được đề xuất bởi DP trên cơ sở kinh nghiệm triển khai thực hiện trong giai đoạn trước cuối cùng đã không được thể hiện rõ trong văn kiện chính thức của CTMTQGGN và CT135 mới Đây được xem như là một bước lùi trong thúc đẩy sáng tạo và thực hành tốt đối với giảm nghèo DTTS

Trang 4

Hỗ trợ của DP đối với giảm nghèo DTTS trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia thu nhập trung bình

6 Những thay đổi trong sự tham gia của các

DP trong giảm nghèo DTTS như nói trên diễn

ra trong điều kiện DTTS chỉ chiếm 14,6% tổng

dân số nhưng lại đóng góp đến gần ½ tổng dân

số nghèo, đồng thời đà giảm nghèo DTTS

cũng đã chững lại từ khoảng 2004 đến nay Đồ

thị bên cạnh (sử dụng dữ liệu từ các VHLSS)

cho thấy có khoảng cách đáng kể giữa DTTS

và nhóm đa số ở hầu hết các khía cạnh của

mức sống như tiếp cận điện lưới quốc gia, có

nhà xí hợp vệ sinh, có nước sạch sinh hoạt, tỷ

lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học tiểu học, và tỷ lệ suy

dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi

Nhưng dữ liệu đó chỉ ra rằng hỗ trợ giảm

nghèo DTTS cần phải được coi là một ưu tiên

hàng đầu trong các can thiệp giảm nghèo ở

Việt Nam Thực tế đó gợi ra ít nhất hai câu hỏi

quan trọng: (i) tại sao hầu hết các DP lại rút lui

khỏi hình thức hỗ trợ ngân sách đã đạt được

nhiều kết quả tích cực trong CT135-II? Và liệu

rằng sự thay đổi trong cách thức hỗ trợ của DP

với giảm nghèo DTTS có phù hợp với bối cảnh

mới như hiện nay?

7 Đối với câu hỏi thứ nhất, nghiên cứu này

chỉ ra rằng việc các DP rút lui khỏi hình thức

hỗ trợ ngân sách để chuyển sang những hình

thức hỗ trợ ‘truyền thống’ hơn là vì nhiều lý do

rất đáng lưu ý như dưới đây:

8 Một lý do được công nhận rộng rãi là rất

khó để các DP có thể điều chỉnh nguồn lực của

mình để hỗ trợ cho một hệ thống rất nhiều các

chính sách và chương trình giảm nghèo hiện

nay của Chính phủ có liên quan đến DTTS

Kết quả rà soát chính thức của MOLISA để

báo cáo Chính phủ cho thấy Việt Nam hiện có

khoảng 78 chính sách và chương trình giảm

nghèo, trong đó DTTS hầu như đều được xác

định là đối tượng ưu tiên Điều đó dẫn đến sự

chồng chéo và phân tán chính sách ở góc độ rất

đáng kể trong khi Việt Nam chưa có các cơ

chế đảm bảo điều phối hiệu quả sự phối hợp

giữa các bộ ngành liên quan trong thực hiện

giảm nghèo Sự chồng chéo và phân tán đó đã

dẫn đến gánh nặng lớn cho tổ chức thực hiện

các chính sách và chương trình giảm nghèo ở cấp cơ sở Quan trọng hơn, sự tồn tại của số lượng lớn các chính sách và chương trình, bao phủ một phạm vi rộng những khía cạnh của đời sống, đã vô hình chung tạo ra một tâm lý ỷ lại và giảm động lực thoát nghèo đối với nhiều

hộ DTTS Sự trùng lắp và phân tán này đã được cộng đồng DP thảo luận với Chính phủ

từ nhiều năm trước nhưng rõ ràng là chưa có những kết quả cụ thể trong việc sắp xếp lại hệ thống các chính sách và chương trình giảm nghèo

9 Các chương trình và chính sách giảm nghèo DTTS hiện tại có một số bất cập về cách tiếp cận Trước hết, việc nhấn mạnh vào phát triển CSHT làm cho những can thiệp này không khác nhiều so với những khoản đầu tư phát triển CSHT nông thôn Theo tính toán sơ

bộ, có đến khoảng 90% nguồn lực từ các chương trình giảm nghèo lớn hiện nay là dành cho phát triển CSHT Do đó, tỷ trọng ngân sách dành cho các hoạt động quan trọng khác như phát triển sinh kế, nâng cao năng lực, thúc đẩy tiếng nói của cộng đồng… trở thành những nội dung ít được hỗ trợ trong tương quan với nguồn lực dành cho CSHT Mặc dù, CSHT vẫn được coi là một yếu tố cản trợ phát triển kinh tế-xã hội tại vùng tập trung nhiều DTTS nhưng các nội dung khác ngoài CSHT cần được cân nhắc ưu tiên nhiều hơn Bên cạnh đó, các chính sách và chương trình hiện tại của Chính phủ cũng gặp phải vấn đề với cách tiếp cận theo kiểu ‘một can thiệp phù hợp cho tất cả’ vì thiếu sự linh hoạt và nhạy bén với các đặc điểm riêng của khu vực, và của từng nhóm DTTS CT135 mới và CTMTQGGN là một ví

dụ cụ thể cho việc ưu tiên dồn gần như toàn bộ nguồn lực chính cho phát triển CSHT (ước tính khoảng 85%), đây không còn là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu của DP trong hỗ trợ phát triển DTTS hiện nay

10 Rất nhiều các thực hành tốt và những cơ chế thực hiện sáng tạo đã được thí điểm và triển khai thành công qua sự tham gia của DP

Trang 5

(hoặc hợp tác với Chính phủ hoặc những can

thiệp theo kiểu dự án độc lập) nhưng hầu như

những kinh nghiệm đều chưa được thể chế

hóa Có rất nhiều bài học từ các cách thức can

thiệp giảm nghèo DTTS như lập kế hoạch có

sự tham gia, xã/thôn bản làm chủ đầu tư, hỗ trợ

trọn gói, chuỗi giá trị vì người nghèo, tín dụng

vi mô… Bên cạnh một số thí điểm chưa thực

sự thành công, đã có sự công nhận rộng rãi

rằng lập kế hoạch có sự tham gia, xã/thôn bản

làm chủ đầu tư, hỗ trợ trọn gói là những cơ chế

quan trọng để cải thiện hiệu quả của các nỗ lực

giảm nghèo Tuy nhiên, cho đến nay những cơ

chế thực hiện sáng tạo và thực hành tốt đó vẫn

chưa được thể chế hóa ở cấp quốc gia Sự thiếu

vắng những cơ chế và thực hành tốt này trong

văn kiện chính thức của những chương trình

giảm nghèo quan trọng hiện nay như

CTMTQGGN, CT135 mới trong cách nhìn

nhận của các DP là một bước lùi đáng kể trong

cách thức triển khai thực hiện các nỗ lực giảm

nghèo DTTS

11 Đối với câu hỏi thứ hai là liệu những thay

đổi ở trên trong tham gia của các DPs đối với

công cuộc giảm nghèo DTTS có phù hợp với

bối cảnh mới thì câu trả lời có lẽ là không thể

kết luận

12 Như đã nói ở trên, nhiều DP đã chuyển

hướng các nguồn lực để có thể hỗ trợ theo

ngành hoặc thực hiện các dự án giảm nghèo

độc lập Phương pháp tiếp cận hỗ trợ ngành là

một lựa chọn tốt nếu biện pháp can thiệp của

DP phù hợp với các chiến lược và chính sách

của Chính phủ trong ngành đó Nhưng đối với

các dự án độc lập thì khác Thực hiện vào các

dự án độc lập có thể là một lựa chọn để ‘lấp

một số chỗ trống’ không thể được giải quyết

hiệu quả bằng cách gắn kết nguồn lực của DP với các chiến lược và chương trình của Chính phủ Chắc chắn, những dự án độc lập sẽ tạo ra nhiều tác động tích cực về giảm nghèo DTTS nhưng những dự án đóng góp như thế nào vào thực hiện các chiến lược và chương trình của Chính phủ dẫn đầu là một câu hỏi lớn Ngoài

ra, làm thế nào để những cách thức tổ chức thực hiện sáng tạo và thực hành tốt trong những dự án này được nhân rộng và thể chế hóa sẽ vẫn là một thách thức lớn

13 Tiếp tục quan hệ đối tác với Chính phủ để

hỗ trợ đối thoại chính sách, hỗ trợ việc thực hiện các cơ chế sáng tạo và thực hành tốt trong giảm nghèo là một lựa chọn thứ hai (bên cạnh việc chuyển sang các hỗ trợ theo kiểu dự án độc lập khi mà hỗ trợ ngân sách không được tiếp tục sử dụng) Irish Aid và UNDP là hai DP thực hiện lựa chọn này trong bối cảnh hiện nay (như trên) Tác động và những ưu việt của lựa chon này sẽ được đánh giá trong thời gian tới Tuy nhiên, phân tích sơ bộ cho thấy với lựa chon này, Dự án PRPP đã và đang có đóng góp tích cực cho những thảo luận chính sách ở tầm quốc gia về sắp xếp lại các chính sách và chương trình giảm nghèo Đồng thời, PRPP cũng cung cấp một ‘hành lang’ để tiếp tục triển khai thực hiện các thực hành tốt (như lập kế hoạch có sự tham gia, hỗ trợ trọn gói) trong triển khai thực hiện CTMTQGGN tại 8 tỉnh dự

án Xuất phát từ những quan sát như vậy, phương thức này có thể phù hợp hơn với thách thức giảm nghèo DTTS ở Việt Nam và có thể được coi là một ví dụ tốt về sự tham gia của

DP đối với giảm nghèo DTTS trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia thu nhập trung bình thấp

Cơ sở để tiếp tục duy trì hỗ trợ giảm nghèo DTTS và lĩnh vực hỗ trợ

Cơ sở để tiếp tục duy trì hỗ trợ Mặc dù

còn nhiều vấn đề về thế chế trong lĩnh vực

giảm nghèo nhưng phân tích trên đây cho thấy

việc hỗ trợ đối với đồng bào DTTS (DTTS)

vẫn là trọng tâm của các can thiệp giảm nghèo

tương lai Nhiều Đối tác phát triển vẫn thể hiện

sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề phát triển của đồng bào DTTS Những đối tác đã hỗ trợ thời gian qua sẽ tìm các biện pháp/phương thức tiếp tục hỗ trợ Những cơ sở nền tảng để duy trì hỗ trợ, có thể, bao gồm: (i) tổng hợp những thành tựu đã đạt được của hơn hai thập kỷ qua; (ii)

Trang 6

hoàn thành những nội dung chưa được hiện

thực hóa trong lộ trình giảm nghèo quốc gia

của Việt Nam (tức tiếp tục hỗ trợ nhóm dân cư

nghèo nhất và nhóm dễ tổn thương nhất); (iii)

hỗ trợ đồng bào DTTS trong quản lý thảm họa

và thích ứng với biến đổi khí hậu; (iv) ngăn

chặn xu hướng/rủi ro là đồng bào DTTS tiếp

tục bị bỏ lại phía sau, đặc biệt là trong bối cảnh

của “bẫy” thu nhập trung bình; và (v) đảm bảo

quá trình truyển đổi “từ viện trợ sang hợp tác

cùng có lợi” không loại trừ/lề hóa đồng bào

DTTS Mặc dù tiếp tục hỗ trợ là cần thiết,

nhiều DP cùng nhìn nhận rằng việc nhà tài trợ

tiếp tục hỗ trợ giảm nghèo DTTS sẽ được

quyết định khi những cải cách mạnh mẽ được

thực thi trong tương lai gần cả ở khía cạnh thể

chế và các tiếp cận trong giảm nghèo

14 Lĩnh vực hỗ trợ Dưới đây là các lĩnh vực

tiềm năng có thể cần nhất sự hỗ trợ của các

DP

15 Hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc

khắc phục tình trạng manh mún và chồng chéo

trong các chính sách và chương trình giảm

nghèo Khoảng 78 chính sách và chương trình

hiện nay cần phải được rà soát và hệ thống

hóa Để thực hiện việc “tái cấu trúc” [chính

sách] này, UBDT tập trung vào chức năng/sứ

mệnh là cơ quan kiểm tra/giám sát các vấn đề

về DTTS UBDT cần được trao quyền để chấp

thuận/không chấp thuận các chính sách mà các

bộ, ngành, địa phương đề xuất nếu các chính

sách đó được đánh giá là không phù hợp với

đồng bào DTTS Mỗi lĩnh vực hỗ trợ (ví dụ cơ

sở hạ tầng, sinh kế bền vững) khi được các

bộ/ngành khác thực hiện sẽ có tính phù hợp

với đồng bào DTTS Việc phân bổ nguồn lực

cho các chương trình (đã được giới hạn về số

lượng) cần được thực hiện cho trung hạn (thay

vì hàng năm như hiện nay) và cần thông báo

nguồn lực sẵn sàng cho sử dụng đến tất cả các

bên hữu quan nhằm khắc phục cách lập kế

hoạch hiện nay là các cơ quan xây dựng kế

hoạch chỉ đưa ra “nhu cầu” không dựa trên

thông tin về nguồn lực Quá trình này cần có

hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ, đặc biệt là

trong việc biện giải sự dư thừa/chồng chéo các chính sách và chương trình hiện nay cũng như nâng cao năng lực cho UBDT

16 Hỗ trợ nhằm thể chế hóa các mô hình và

cơ chế sáng tạo đã được thử nghiệm thành công, gồm lập kế hoạch có sự tham gia, xã làm chủ đầu tư, hỗ trợ trọn gói - – đây là những

công cụ chính giúp tăng hiệu quả các sáng kiến giảm nghèo cho đồng bào DTTS trong tương lai Những mô hình/cách làm này được coi là những công cụ/phương tiện giúp cho chính quyền địa phương thực thi các hoạt động hỗ trợ phù hợp nhất với hoàn cảnh thực tiễn và đáp ứng cao nhất nhu cầu của đồng bào DTTS Kinh nghiệm từ thử nghiệm các mô hình/cơ chế này cho biết điều kiện tiên quyết để thành công là nâng cao năng lực cho cộng đồng Thêm vào đó, cải thiện công tác quản trị địa phương và vai trò của các tổ chức dân sự sẽ là các yếu tố quyết định giúp cho Chính quyền trung ương có thể giao phó cho cấp cơ sở trong thực hiện các cơ chế/mô hình này (và nhờ đó việc phân cấp mới được thực hiện thực chất) Đây rõ ràng là những lĩnh vực mà nhiều nhà tài trợ có “lợi thế so sánh”

17 Các Đối tác phát triển có thể đóng góp vào nhiều sáng kiến và yêu cầu mới trong phát triển cho đồng bào DTTS Nhưng sáng kiến và

yêu cầu này có đào tạo nghề, chuyển tiền có điều kiện, tiếp cận theo nhân chủng học trong giảm nghèo cho DTTS, tiếp cận nghèo đa chiều (cho cả công tác giám sát và xác định đối tượng), thích ứng với biến đổi khí hậu và quản

lý rủi ro thiên tai Những sáng kiến này đã được thảo luận trong xây dựng các chính sách

và sáng kiến mới trong giảm nghèo cho đồng bào DTTS ở Việt Nam Đây chính là những lĩnh vực thực sự cần hỗ trợ và đóng góp của các Đối tác phát triển

Trang 7

Kết luận

18 Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn

tượng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và

xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, DTTS vẫn còn

là nhóm nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất ở

Việt Nam Các số liệu về nhiều khía cạnh của

đời sống đồng bào DTTS cho thấy ‘công việc

vẫn chưa hoàn thành Mặc dù vậy, nhiều DP đã

rút những cam kết hỗ trợ ngân sách cho CT135

sau khi kết thúc thực hiện giai đoạn II; một số

DP thông báo chiến lược rút lui, trong khi

nhiều DP vẫn tiếp tục quan tâm đến giảm

nghèo DTTS chuyển sang những hình thức hỗ

trợ ODA truyền thống hơn như hỗ trợ ngành,

nhất là thực hiện các dự án độc lập

19 Mặc dù có những thay đổi về bối cảnh, nhiều DP vẫn tiếp tục quan tâm và hỗ trợ công cuộc giảm nghèo DTTS Dù có cơ sở cho việc tiếp tục duy trì hỗ trợ giảm nghèo DTTS, việc các Đối tác phát triển tiếp tục hỗ trợ cho đồng bào DTTS phụ thuộc vào những cam kết mạnh

mẽ của Chính phủ Việt Nam trong giải quyết

2016 – 2020 Trong chừng mực nhất định, việc nhà tài trợ tiếp tục hỗ trợ giảm nghèo DTTS sẽ được quyết định khi những cải cách mạnh mẽ được thực thi trong tương lai gần cả ở khía cạnh thể chế và các tiếp cận trong giảm nghèo

Ghi chú:

Báo cáo này được thực hiện bởi TS Phạm Thái Hưng, Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương (IRC) theo chỉ định của Irish Aid và Phái đoàn EU tại Việt Nam Tác giả Báo cáo đã tham vấn nhiều đại diện các đối tác phát triển và cơ quan Chính phủ Nhưng những phân tích và khuyến nghị trình bày trong Báo cáo thể hiện quan điểm của tác giả và không nhất thiết thể hiện quan điểm của Irish Aid, Phái đoàn EU tại Việt Nam, hay bất kỳ bên thứ 3 nào khác đã tham gia vào quá trình tham vấn

Ngày đăng: 12/05/2022, 09:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w