Bài viết trình bày khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi; kết quả thực hiện một số chính sách dân tộc chủ yếu nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2005-2013; đánh giá kết quả của các chính sách dân tộc nhằm giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2005-2013, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CHÍNH SÁCH DÂN TỘC NHẰM GIẢM NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ,
XÃ HỘI VÙNG DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI: KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN
2005-2013 VÀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐẾN NĂM 2020
Võ Văn Bảy- Chánh Văn phòng điều phối chương trình 135 ,Ủy ban Dân tộc
TS Phạm Thái Hưng, Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương (IRC)
1 Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội
vùng dân tộc và miền núi
Vùng dân tộc và miền núi chiếm gần 3/4
diện tích tự nhiên của Việt Nam, là địa bàn
sinh sống của 54 dân tộc, trong đó có 53 dân
tộc thiểu số với trên 13 triệu người, chiếm
14,28% dân số cả nước Vùng dân tộc và miền
núi là nơi tập trung tài nguyên, khoáng sản và
tiềm năng lớn về thủy điện, là đầu nguồn của
hàng ngàn sông, suối, cung cấp nước ngọt, duy
trì cân bằng sinh thái, điều kiện khí hậu nhiều
tiểu vùng thuận lợi cho việc phát triển nông,
lâm nghiệp và chăn nuôi Ngoài ra, vùng dân
tộc và miền núi giàu tiềm năng về du lịch, đặc
biệt trong điều kiện mở rộng giao lưu giữa
nước ta với các nước trong khu vực và thế
giới
Bên cạnh những thuận lợi trên, vùng dân
tộc và miền núi còn gặp nhiều khó khăn, thách
thức Về điều kiện địa lý, tự nhiên, khó khăn
lớn nhất là địa hình vùng dân tộc và miền núi
rất phức tạp, hiểm trở, thường xuyên chịu ảnh
hưởng và tác động lớn của thiên tai, lũ lụt hạn
chế lớn cho việc mở rộng giao lưu, nhất là
những vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới Nhiều vùng có độ dốc lớn, đất đai bị xói
mòn, bạc màu, cằn cỗi (nhất là khu vực Tây
Bắc, Đông Bắc và miền Trung) Về kinh tế, xã
hội, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan, kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền
núi còn chậm phát triển Kết cấu hạ tầng ở một
số vùng cao, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng
còn thấp kém Một số nơi còn tồn tại tập quán
lạc hậu, hiện tượng mê tín dị đoan Tình trạng
du canh du cư, di cư tự do, chặt phá rừng,
khiếu kiện tranh chấp đất đai, hoạt động tôn
giáo trái pháp luật, buôn bán người, vận
chuyển, buôn bán ma túy trái pháp luật vẫn
còn diễn biến phức tạp Môi trường sinh thái bị
suy thoái nghiêm trọng Tác động của biến đổi khí hậu dẫn tới thiên tai, lũ ống, lũ quét hàng năm gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao so mới mức bình quân của Việt Nam
2 Thực hiện một số chính sách dân tộc chủ yếu nhằm giảm nghèo và phát triển kinh
tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2005-2013
Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước Đối với việc giải quyết những vấn đề liên quan về cơ chế, chính sách để thực hiện mục tiêu giảm nghèo, Bộ trưởng, Chủ nhiệm
Ủy ban Dân tộc được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ là Phó Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ thực hiện các Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 và Phó Trưởng Ban Chỉ đạoTrung ương về giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 Trong giai đoạn 2005-2013 Uỷ ban Dân tộc đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều chính sách dân tộc trên các lĩnh vực nhằm xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, dân trí…cho người dân thuộc vùng dân tộc và miền núi Đặc biệt Ủy ban Dân tộc đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí phân định vùng dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển theo từng giai đoạn; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và trực tiếp ban hành danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc
và miền núi, tổng cộng 1.871 xã khu vực 1, 1.031 xã khu vực 2, 2.068 xã khu vực 3 và 18.280 thôn đặc biệt khó khăn Đây chính là cơ
sở để xác định đối tượng, địa bàn thực hiện các
Trang 2chính sách nhằm giảm nghèo và phát triển kinh
tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi cho phù
hợp
Kết quả thực hiện một số chính sách chủ
yếu như sau:
2.1 Chương trình Phát triển kinh tế -
xã hội các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn
vùng đồng bào dân tộc và miền núi Chương
trình 135 (Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg
ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ và
Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/4/2013
của Thủ tướng Chính phủ)
Trong giai đoạn 2006-2010, tổng ngân
sách Trung ương đã bố trí 14.025,25 tỷ đồng,
trong đó định mức đầu tư các dự án thành phần
được tăng theo hàng năm, cụ thể: Năm 2006 và
năm 2007 tăng từ 860 triệu đồng/xã/năm lên
1.064 triệu đồng/xã/năm Năm 2010 tăng lên
1.364 triệu đồng/xã/năm Đồng thời Chương
trình đã huy động 7 nhà tài trợ gồm Ngân hàng
Thế giới, Ai Len, Australia, Phần Lan, Bộ Phát
triển vương quốc Anh (DFID), Liên minh
Châu Âu, Thuỵ Sĩ hỗ trợ khoảng 367 triệu
USD, tương đương 6.240 tỷ đồng theo hình
thức hỗ trợ ngân sách để tăng thêm kinh phí
đầu tư hỗ trợ Chương trình Ngoài ra, các nhà
tài trợ UNDP, Phần Lan, Ai Len còn hỗ trợ kỹ
thuật thông qua các dự án với tổng mức tài trợ
khoảng 10 triệu Euro Trong giai đoạn này, các
địa phương đã triển khai đầu tư xây dựng
12.646 công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu với
số vốn đã thực hiện 8.496 tỷ đồng, đạt 98,2%
kế hoạch giao, tổ chức tập huấn được 4.112
lớp cho hơn 160 lượt cán bộ xã, thôn, bản,
231.000 lượt người dân về các nội dung: kiến
thức quản lý dự án, khoa học kỹ thuật, nâng
cao nhận thức và vận dụng vào phát triển kinh
tế hộ gia đình, hỗ trợ dạy nghề cho đồng bào
dân tộc thiểu số
Năm 2011, định mức vốn phân bổ cho các
địa phương được tiếp tục thực hiện theo Quyết
định 101/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ với tổng kinh phí là 3.214 tỷ đồng Năm
2012-2013, Chương trình được thực hiện dưới
hình thức Dự án 2 thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững Kinh phí năm 2012 được giao là 2.300 tỷ đồng, đã phân
bổ 2.279,2 tỷ đồng cho các địa phương, năm
2013 là 2.494 tỷ đồng để đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng, duy tu, bảo dưỡng công trình sau đầu tư
Ngày 04/4/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình 135 hỗ trợ đầu tư cơ
sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các
xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn
2012 - 2015 và giai đoạn 2016 - 2020 tại Quyết định số 551/QĐ-TTg Ngay sau khi Chương trình được phê duyệt, Ủy ban Dân tộc
đã chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan triển khai xác định đối tượng đầu tư, xây dựng các văn bản hướng dẫn, đảm bảo các nội dung của Chương trình 135 được thực hiện tốt ngay từ đầu năm 2014
Trong giai đoạn 2011-2015, việc huy động nguồn vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế đầu
tư cho Chương trình 135 tiếp tục được quan tâm, chú trọng Năm 2011-2012, nguồn vốn tăng thêm cho Chương trình 135 do Chính phủ
Ai Len viện trợ là 13 triệu Euro Năm 2013, Chính phủ Ai Len cam kết hỗ trợ ngân sách 13,29 triệu Euro tài trợ cho Chương trình 135 trong giai đoạn 2013-2015 Ngoài ra, nhà tài trợ
Ai Len và UNDP còn hỗ trợ kỹ thuật cho Chương trình
2.2 Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn (Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ)
Ngày 07/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 102/2009/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc
hộ nghèo ở vùng khó khăn thay cho chính sách trợ giá trợ cước Đối tượng thụ hưởng chính sách là hộ nghèo thuộc khu vực khó khăn theo qui định của Quyết định 30/2007/QĐ-TTg Mức hỗ trợ là 80.000đ/khẩu đối với khu vực II; 100.000đ/khẩu đối với khu vực III
Từ năm 2010 đến 2012, kinh phí thực hiện chính sách là 1.762,889 tỷ đồng hỗ trợ trực tiếp cho 17.956.048 lượt người dân thuộc
Trang 3hộ nghèo ở vùng khó khăn trên địa bàn 57 tỉnh
Các địa phương đã thực hiện 1.599,764 tỷ
đồng, đạt 90,7% kế hoạch, trong đó hỗ trợ trực
tiếp bằng tiền mặt đã thực hiện là 987,283 tỷ
đồng, chiếm 61,7% và kinh phí hỗ trợ theo
hình thức cấp bằng hiện vật là 612,481 tỷ
đồng, chiếm 38,3% tổng kinh phí thực hiện
2.3 Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định
canh định cư (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg
và Quyết định số 1342/QĐ-TTg)
Chính sách hỗ trợ di dân, thực hiện định
canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số
nhằm tạo điều kiện cho số hộ đồng bào còn du
canh, du cư chưa được hưởng các chính sách
theo quy định có nơi ở ổn định, có điều kiện
phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo; góp phần
bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và
giữ vững an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã
hội là một chủ trương hợp lòng dân, đáp ứng
yêu cầu thực tế của các địa phương Theo kế
hoạch phê duyệt, cả nước có 29.718 hộ và
140.313 khẩu cần được bố trí sắp xếp định
canh, định cư tại 297 dự án; tổng nhu cầu vốn
là 2.717 tỷ đồng Từ năm 2008-2912 ngân sách
Trung ương mới bố trí được 1.253 tỷ đồng,
bằng 46% kế hoạch vốn
Qua 05 năm (2008-2012) thực hiện, đã
hoàn thành 6/44 dự án định canh định cư xen
ghép và 14/253 dự án định canh định cư tập
trung; Thực hiện dở dang 36 dự án định canh
định cư xen ghép và 162 dự án định canh định
cư tập trung, ổn định định canh định cư cho
9.827 hộ với 46.187 khẩu
Tính đến hết năm 2012, cả nước vẫn còn
19.891 hộ với 94.126 khẩu cần được hỗ trợ
định canh định cư Do vậy, ngày 04 tháng 6
năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban
hành Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg về
Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh,
định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến hết
năm 2015
2.4 Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà
ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc
thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Quyết định
số 134/2004/QĐ-TTg và Quyết định số 1592/QĐ-TTg)
Thực hiện Quyết định 134/2004/QĐ-TTg, Trung ương đã cấn đối, bố trí 4.482 tỷ đồng, đạt 100% so với kế hoạch Một số địa phương
đã cân đối được 20% vốn đối ứng từ ngân sách địa phương để thực hiện chính sách
+ Về nội dung hỗ trợ nhà ở: sau 4 năm thực hiện (2004-2008), Chính phủ đã hỗ trợ xây dựng 373.400 ngôi nhà, đạt 111% kế hoạch với tổng kinh phí là 1920 tỷ đồng Nhìn chung chất lượng nhà ở mới đảm bảo trên mức nhà tạm với tiêu chuẩn 3 cứng: Nền cứng, vách cứng và mái cứng Với mức hỗ trợ bình quân
từ 7 - 10 triệu đồng, một số gia đình vay mượn
từ người thân, đầu tư thêm… đã xây dựng được những căn nhà khang trang, kiên cố với giá trị từ 20 – 30 triệu đồng Ngoài ra có nơi còn huy động nguồn lực từ các tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ thêm cho các hộ gia đình làm nhà
+ Về hỗ trợ đất ở: đã hỗ trợ 1.552 ha cho 71.713 hộ, đạt 82% kế hoạch
+ Về đất sản xuất: được triển khai tại 43 tỉnh, với tổng diện tích đất sản xuất đã hỗ trợ là 27.763 ha cho 85.563 hộ Vùng Đông Nam bộ
có tỷ lệ hoàn thành cao nhất so với kế hoạch (đạt 98% về số hộ, 88% về diện tích), tiếp theo
là vùng Bắc Trung Bộ (đạt 61% về số hộ, 54%
về diện tích) Thấp nhất là vùng Đông Bắc (chỉ đạt 34% về số hộ, 38% về diện tích)
+ Về nước sinh hoạt: đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 198.702 hộ, đạt 71% kế hoạch Vùng Đông Nam bộ đạt tỷ lệ hoàn thành cao nhất (101%), vùng có tỷ lệ hoàn thành thấp nhất là Tây Nguyên (40%) Đối với công trình nước sinh hoạt tập trung: đã xây dựng được 4.663 công trình, đạt 77% kế hoạch Nhìn chung các công trình nước tập trung đã phát huy được hiệu quả, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt cho hàng trăm ngàn
hộ dân ở vùng khó khăn
Thực hiện Quyết định 1592/QĐ-TTg, tổng nhu cầu vốn thực hiện chính sách (theo
dự án được phê duyệt) là 7.906 tỷ đồng, gồm: kinh phí hỗ trợ nước sinh hoạt là 4.235 tỷ
Trang 4đồng; kinh phí hỗ trợ đất sản xuất là 3.657,085
tỷ đồng; kinh phí quản lý là: 13,792 tỷ đồng
Tuy nhiên, do gặp khó khăn, vướng mắc
về rà soát, phê duyệt đối tượng và cân đối
nguồn lực, năm 2009-2010 chưa được bố trí
kinh phí đầu tư Năm 2011-2012, ngân sách
Trung ương bố trí chỉ đạt 1.050 tỷ đồng Các
địa phương đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán
cho 15.764 hộ (tại 10 tỉnh), xây dựng được 910
công trình nước tập trung (ở 33 tỉnh) và bố trí
được 2.738 ha đất sản xuất (ở 04 tỉnh)
Sau nhiều năm thực hiện chính sách hỗ
trợ đất ở, đất sản xuất, đến nay, vẫn còn trên
326.909 hộ dân tộc thiểu số nghèo thiếu và
không có đất ở, đất sản xuất, trong đó số hộ
cần hỗ trợ đất sản xuất là 293.934 hộ, số hộ
thiếu đất ở là 32.975 hộ Về nước sinh hoạt,
đến nay vẫn còn 294.230 hộ cần được hỗ trợ
nước sinh hoạt, trong đó: Số hộ khó khăn về
nước sinh hoạt cần hỗ trợ nước sinh hoạt phân
tán là 134.150 hộ; số hộ khó khăn về nước sinh
hoạt cần hỗ trợ về nước sinh hoạt tập trung là
160.080 hộ/2.462 công trình
Do số đối tượng còn nhiều, ngày 20 tháng
5 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 755/QĐ-TTg phê duyệt Chính
sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt
cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ
nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn đến
năm 2015
2.5 Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và
giải quyết việc làm cho hộ đồng bào dân tộc
thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng
bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008-2010
(Quyết định 74/2008/QĐ-TTg)
Tổng số hộ cần hỗ trợ là 43.395 hộ, trong đó
9.808 hộ không có đất ở; 33.587 hộ không có
đất sản xuất hoặc thiếu đất sản xuất (trên 90%
là dân tộc Khmer); 41.518 lao động có nhu cầu
đào tạo nghề; 75.130 lao động có nhu cầu
chuyển đổi nghề, mua máy móc thiết bị phục
vụ sản xuất
Tổng nhu cầu vốn thực hiện là 1.978,83 tỷ
đồng trong đó: Vốn ngân sách trung ương
802,02 tỷ đồng; vốn vay Ngân hàng Chính sách
xã hội 1.128,11 tỷ đồng; ngân sách địa phương 48,70 tỷ đồng
Đến hết năm 2011, Trung ương đã phân bổ các địa phương 1.087,91 tỷ đồng bằng 54,96%
kế hoạch vốn thực hiện: hỗ trợ đất ở cho 5.584
hộ, hỗ trợ đất sản xuất được 4.553/33.587 hộ, đào tạo nghề được 22.542/41.518 lao động, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho 38.513/74.605 lao động
Quyết định 74/2008/QĐ-TTg hết hiệu lực vào năm 2010 nhưng nhu cầu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vùng đồng bằng sông Cửu Long còn rất lớn vì vậy ngày 20 tháng 5 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg thay thế Quyết định 74/2008/QĐ-TTg
2.6 Chính sách cho vay vốn đối với hộ đồng bào DTTS để phát triển sản xuất (Quyết định
số 32/2007/QĐ-TTg và Quyết định số 126/2008/QĐ-TTg)
Từ năm 2007 đến năm 2011, ngân sách Trung ương chuyển qua Ngân hàng chính sách
xã hội thực hiện chính sách là 532 tỷ đồng, bằng 38,6% so với nhu cầu chính sách; đã hỗ trợ cho 118.530 hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, trong đó: 33.969 hộ vay để phát triển sản xuất, 80.218 hộ vay để
mở rộng chăn nuôi và 4.343 hộ vay để mở rộng sang ngành nghề dịch vụ khác
Năm 2012, ngân sách Trung ương đã bố trí 110 tỷ đồng cho việc thực hiện Quyết định 32/2007/QĐ-TTg và 126/2008/QĐ-TTg, nhưng do Quyết định đã hết hiệu lực nên Ngân hàng Chính sách Xã hội dừng việc giải ngân Tuy nhiên, đối tượng của chính sách còn nhiều, số hộ có nhu cầu vay vốn vẫn còn 156.802 hộ tương đương 61,4% Vì vậy, Ủy ban Dân tộc đã trình Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg về chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015
2.7 Thực hiện chính sách cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc và miền núi và
Trang 5miền núi, vùng đặc biệt khó khăn (Quyết định
số 2472/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ
tướng Chính phủ)
Thực hiện Quyết định số 2472/QĐ-TTg,
ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về
việc cấp 19 loại ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng
dân tộc miền núi giai đoạn 2012-2015, ngày
13/12/2012 Uỷ ban Dân tộc phối hợp với các
Bộ: Thông tin và Truyền thông, Văn hóa-Thể
thao và Du lịch ban hành Thông tư liên tịch số
02/2012/TTLT-UBDT-BTTTT-BVHTTDL
hướng dẫn các địa phương, các Báo, Tạp chí
thực hiện Quyết định số 2472/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ
Năm 2012 đã thực hiện cấp các loại ấn phẩm,
báo chí đảm bảo đúng đối tượng với tổng kinh
phí 162 tỷ đồng
2.8 Thực hiện 6 dự án hỗ trợ phát triển kinh
tế, xã hội cho 5 dân tộc Si La, Pu Péo, Ơ Đu,
Brâu, Rơ Măm từ năm 2006 - 2010 (có dân số
dưới 1.000 người)
Tổng kinh phí của các dự án là: 76,835 tỷ
đồng, thực hiện đến cuối năm 2010 Nhờ sự
đầu tư của nhà nước, cơ sở hạ tầng của các
làng bản đã thay đổi đáng kể, sản xuất và đời
sống của người dân từng bước được cải thiện,
chấm dứt được nạn đói, tăng tỷ lệ trẻ em đến
trường và nâng cao chất lượng giáo dục cho
người dân, góp phần bảo tồn văn hóa truyền
thống của các dân tộc
3 Đánh giá kết quả của các chính sách
dân tộc nhằm giảm nghèo, phát triển kinh tế,
xã hội vùng dân tộc và miền núi giai đoạn
2005-2013, những hạn chế, vướng mắc và
nguyên nhân
3.1 Kết quả đạt được và tác động của các
chính sách dân tộc nhằm giảm nghèo, phát
triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi
đối với người dân vùng dân tộc và miền núi
Giai đoạn 2005-2013, với đường lối đúng
đắn của Đảng, chính sách của Nhà nước, sự chỉ
đạo quyết liệt của Chính phủ, các Bộ, ngành
Trung ương, các cấp ở địa phương, cùng với
sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của đồng bào các
dân tộc, kết quả đã làm thay đổi bộ mặt nông
thôn vùng dân tộc và miền núi Nếu như năm
2006, tỷ lệ hộ nghèo bình quân tại các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn trên 47%; nhiều các thôn, bản đặc biệt khó khăn trên 80%; cá biệt
có xã, thôn, bản tỷ lệ hộ nghèo 100% thì đến năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn đã giảm xuống còn 28,8% Đời sống của người dân trong vùng ngày càng được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo giảm bình quân
3 - 5%/năm Các chính sách đầu tư phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét về cơ sở hạ tầng Tính đến năm
2012, 97,42% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã; hơn 80% thôn bản thuộc xã đặc biệt khó khăn có đường giao thông đến đường trục; hơn 84% số xã đặc biệt khó khăn có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã, với gần 70% số hộ được dùng điện, 100% số xã có trường tiểu học, trung học cơ sở, 100% số xã có trạm y tế xã
Sản xuất nông lâm nghiệp vùng dân tộc
và miền núi đang có chuyển biến tích cực Giao lưu hàng hóa được mở rộng Người dân khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đang từng bước gắn với lợi ích từ việc khoanh nuôi
và bảo vệ rừng Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, cuộc sống của người nông dân ngày càng được cải thiện, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống của người dân
Công tác giáo dục và đào tạo nghề ở vùng dân tộc và miền núi đã có nhiều tiến bộ, hình thành nhiều loại hình đào tạo như nội trú, bán trú dân nuôi, dạy nghề và đào tạo nghiệp vụ các cấp Kết quả của công tác giáo dục đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao mặt bằng dân trí và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc
và miền núi
Mạng lưới y tế các cấp phát triển, đảm bảo cho đồng bào dân tộc được tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản Chính sách bảo hiểm y tế được thực hiện đúng quy định Các dịch bệnh ở vùng dân tộc và miền núi như sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; giảm đáng kể tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng góp phần cải thiện chất lượng dân số trong vùng
Trang 6Giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn và
phát huy như: Khôi phục các lễ hội truyền
thống, tổ chức Ngày hội văn hóa – nghệ thuật,
thể thao khu vực Hạ tầng kỹ thuật phát thanh
truyền hình, thông tin liên lạc được quan tâm
đầu tư, đến nay đã phủ sóng phát thanh được
trên 90% và sóng truyền hình đạt gần 80%, số
xã có bưu điện văn hóa xã là 98,7% từng
bước nâng cao chất lượng đời sống văn hóa,
tinh thần của người dân
Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục
pháp luật trong vùng dân tộc và miền núi đang
có chuyển biến tích cực, dịch vụ trợ giúp pháp
lý đang tiếp cận với người dân Công tác dân
vận, vận động quần chúng nhân dân, phát huy
vai trò người có uy tín trong cộng đồng được
chú trọng Công tác bình đẳng giới giúp người
dân nâng cao nhận thức vươn lên phát huy vai
trò của bản thân trong gia đình và xã hội
Hệ thống chính trị thường xuyên được
xây dựng, củng cố và ngày càng phát triển,
nhất là hệ thống chính trị cơ sở Hệ thống cơ
quan làm công tác dân tộc từng bước được
kiện toàn với 3 cấp Trung ương, cấp tỉnh và
cấp huyện Tình hình chính trị - xã hội được ổn
định, an ninh - quốc phòng được giữ vững
Cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi
về quan điểm, tư duy, từ cơ chế nặng về áp đặt
chuyển sang cơ chế phân cấp mạnh cho địa
phương trên cơ sở công khai, minh bạch trong
công tác xây dựng và lập kế hoạch, từ hỗ trợ
trực tíếp cho hộ chuyển dần sang hỗ trợ cho
cộng đồng, nhóm hộ, từ cho không chuyển
sang mô hình cho vay Các chính sách cũng
được sự quan tâm, phối hợp giữa các bộ ngành
và địa phương, vai trò của người dân được
phát huy, tạo được sự đồng thuận từ trung
ương đến địa phương trong các khâu xây dựng,
thực hiện và kiểm tra, đánh giá chính sách
3.2 Những hạn chế, vướng mắc
Bên cạnh những thành tựu cơ bản trên,
việc xây dựng và thực hiện chính sách giảm
nghèo và phát triển kinh tế, xã hội vùng dân
tộc và miền núi vẫn còn nhiều hạn chế, vướng
mắc cần được tiếp tục giải quyết trong giai
đoạn hiện nay, đó là:
- Việc xây dựng các chính sách thường có mục tiêu lớn nhưng thời gian thực hiện không tương xứng, vẫn mang tính nhiệm kỳ, ngắn hạn
Cơ chế quản lý điều hành các chính sách không đồng bộ, việc phân công quản lý, điều hành một
số chương trình, dự án có sự chồng chéo về đối tượng và địa bàn, trùng lắp về nội dung giữa các
bộ, ngành, địa phương Một số chính sách do các Bộ ngành ban hành còn thiếu sự phối hợp hoặc bỏ sót vai trò của hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc dẫn đến khó khăn trong triển khai; chính sách dân tộc ngoài mặt tích cực
là cơ bản, vẫn còn có mặt hạn chế là có một số chính sách còn nặng tính cho không như chính sách hỗ trợ về gạo, vải mặc, dầu hỏa thắp sáng, cấp tiền điện ; chưa có chính sách khuyến khích đối với các hộ tự vươn lên thoát nghèo,
ổn định cuộc sống vươn lên làm giàu và chính sách đối với các hộ cận nghèo
- Việc thực hiện chính sách, cân đối, bố trí nguồn lực không song hành, không bám sát với thực trạng và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, chưa đảm bảo cho các mục tiêu và kế hoạch đã được phê duyệt Phần lớn các chính sách đều mang tính hỗ trợ, định mức suất đầu tư thấp dẫn đến tình trạng manh mún; có chính sách chậm bố trí vốn, phải kéo dài thời gian thực hiện dẫn đến định mức không còn phù hợp Có chính sách cấp vốn thiếu đồng bộ (vốn đầu tư, vốn sự nghiệp, vốn vay ) khó khăn trong thực hiện; có chính sách cấp không đủ vốn, các địa phương bố trí dàn trải không dứt điểm từng công trình, ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách Cơ chế phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, còn mang nặng tính bình quân, chưa căn cứ vào quy mô dân số, vị trí địa lý, điều kiện phát triển và mức
độ nghèo của địa phương
- Việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa được giải quyết dứt điểm; Việc quy hoạch, đền bù, tái định cư tại một số dự án kinh tế - xã hội như: các dự án thủy điện, khai khoáng, các dự
án thu hồi đất và giao đất cho nông, lâm trường chưa thỏa đáng, chưa phù hợp với
Trang 7phong tục, tập quán, văn hóa của từng dân tộc,
chưa gắn nơi ở với địa bàn canh tác do đó
đồng bào không thích nghi với cuộc sống mới,
nguy cơ di cư tự do và tái nghèo cao
- Văn bản hướng dẫn thực hiện một số
chính sách chậm được ban hành, một số chính
sách khó thực hiện, không còn phù hợp nhưng
sửa đổi, bổ sung, thay thế chưa kịp thời
- Tỷ lệ nghèo đói nhiều khu vực vùng dân
tộc và miền núi còn ở mức rất cao, cách biệt
trong phát triển ngày càng tăng, năm 2013 tỷ lệ
hộ nghèo và cận nghèo của khu vực miền núi
Tây Bắc là 38,78 %, miền núi Đông Bắc là
24,54%, Bắc Trung Bộ là 24,28%, các địa bàn
này đều cao hơn khoảng 2 đến 3 lần so với
mức nghèo và cận nghèo 14,12% của cả nước
Mặc dù đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm
khoảng 14% dân số nhưng lại chiếm gần 50%
số người nghèo toàn quốc, khoảng cách chênh
lệch về thu nhập đang ngày càng nới rộng, thu
nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ
bằng 1/6 thu nhập bình quân của cả nước
3.4 Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc
- Nguyên nhân khách quan:
+ Vùng dân tộc và miền núi diện tích rộng
lớn, địa hình hiểm trở, chia cắt phức tạp, thời
tiết khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng
của thiên tai, lũ lụt Dân cư sinh sống ở vùng
sâu, vùng xa phân tán, đi lại khó khăn, đồng bào
ít cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ, phúc lợi xã
hội và thông tin kinh tế của thị trường
+ Kinh tế - xã hội của nhiều tỉnh trong
vùng có xuất phát điểm thấp, đặc biệt là về hệ
thống cơ sở hạ tầng thiết yếu; trình độ sản xuất
của đồng bào vẫn còn dựa trên nền tảng đơn
giản lạc hậu chủ yếu là quảng canh, tự cấp, tự
túc, dựa vào thiên nhiên; mặt bằng dân trí nói
chung còn hạn chế
+ Tình hình thế giới diễn biến phức tạp
như thay đổi thể chế chính trị, xung đột tôn
giáo, sắc tộc, biến đổi khí hậu, ảnh hưởng
chung của suy thoái kinh tế trong nước và thế
giới đã tác động không nhỏ đến sự phát triển
kinh tế, xã hội Việt Nam nói chung và vùng
dân tộc, miền núi nói riêng
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Nhận thức về vai trò, vị trí của công tác dân tộc, tầm quan trọng của chính sách dân tộc trong phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của một số cán bộ trong các Bộ, ngành trung ương, địa phương tuy có được nâng lên nhưng chưa tương xứng với yêu cầu; chưa thực
sự coi công tác dân tộc là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị
+ Việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi còn hạn chế Công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả xã hội; công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách chưa được quan tâm thường xuyên, kịp thời, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ được giao
+ Quản lý nhà nước, chỉ đạo thực hiện các chính sách về đất sản xuất ở vùng dân tộc và miền núi còn bất cập và bộc lộ nhiều yếu kém; Công tác chỉ đạo, hướng dẫn lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất còn hạn chế Thực hiện mục tiêu thu hồi đất từ các nông, lâm trường, giải pháp để tạo quỹ đất, giao cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo thiếu đất, không
có đất sản xuất, đã triển khai trong thời gian khá dài, nhưng kết quả chưa đạt mục tiêu đề ra
+ Quản lý nhà nước về công tác dân tộc có nơi, có lúc chưa được quan tâm đúng mức Hệ thống tổ chức làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương chưa hoàn chỉnh,
thiếu đồng bộ, chậm được quan tâm kiện toàn
4 Một số bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế,
xã hội vùng dân tộc và miền nú giai đoạn 2005-2013
Thứ nhất, cần có sự quyết tâm cao và thống nhất của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, nhất là sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị xã hội tập trung cho công tác giảm nghèo
Với quan điểm, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của các cấp, các ngành và của toàn hệ thống chính trị,
Trang 8trong đó ưu tiên phát triển kinh tế, xã hội vùng
dân tộc và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn,
do vậy các cấp, các ngành từ Trung ương đến
địa phương phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
quyết liệt, thường xuyên và sâu sát Chính phủ
đã ban hành những quyết sách, tăng cường sự
lãnh đạo, chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các tỉnh,
huyện, coi là nhiệm vụ chính trị trọng tâm
trong chương trình hành động của mình Kinh
nghiệm những năm qua cho thấy, cùng một
chính sách, cùng cơ chế quản lý, song mỗi địa
phương có sự chỉ đạo, giải pháp tổ chức thực
hiện khác nhau thì kết quả cũng rất khác nhau
Do vậy cần nêu cao hơn nữa tinh thần trách
nhiệm của lãnh đạo các cấp đối với công tác
xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội
đối với các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn
vùng đồng bào dân tộc và miền núi
Thứ hai, phải xác định đúng thực trạng
nghèo, xác định đúng mục tiêu cơ bản phải giải
quyết, đúng địa bàn ưu tiên là các vùng ‘lõi
nghèo’, xã nghèo nhất, thôn bản khó khăn
nhất, để tập trung nguồn lực đầu tư, không dàn
trải Đồng thời phải huy động tổng hợp các
nguồn lực, kể cả từ Ngân sách nhà nước, tín
dụng, đóng góp của người dân và sự hỗ trợ,
giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế, các doanh
nghiệp cho sự nghiệp xoá đói, giảm nghèo trên
địa bàn các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn
vùng dân tộc và miền núi
Thứ ba, đi đôi phân cấp, trao quyền, tạo
sự chủ động cho cơ sở, các cấp từ Trung ương
đến tỉnh, huyện cần tăng cường sự kiểm tra
giám sát để hỗ trợ, phát hiện sai sót, kịp thời
giúp các xã khắc phục mọi khó khăn trong quá
trình tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc
nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội
vùng dân tộc và miền núi
Qua thực tế cho thấy, ở đâu có sự phân
cấp, trao quyền mạnh cho cơ sở, ở đó việc thực
hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo
đạt được hiệu quả cao, chất lượng công trình,
dự án đảm bảo chất lượng, tiến độ và phù hợp
với nhu cầu của người dân Cùng với phân cấp,
trao quyền cần có sự quan tâm, hướng dẫn,
giúp đỡ cho cơ sở, không “khoán trắng” cho cơ
sở trong quản lý, tổ chức thực hiện, nhất là đối với cấp xã Bên cạnh đó phải thường xuyên chăm lo, phát triển đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lực trong đồng bào dân tộc Thứ tư, xây dựng các chính sách dân tộc, chương trình, dự án nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi phải gọn, phù hợp với yêu cầu thực tế và năng lực, trình độ quản lý của cơ sở, đồng thời trong
tổ chức thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai và minh bạch
Bài học từ chính sách dân tộc nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi cho thấy phải có cơ chế vận hành thông thoáng, đơn giản phù hợp với trình
độ quản lý, dễ thực hiện là điều kiện tiên quyết đảm bảo tính khả thi Việc công khai, dân chủ phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và thông tin đầy đủ, kịp thời đến các đối tượng hưởng lợi Bên cạnh đó phải có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp, các ngành Trung ương
hỗ trợ theo khả năng cân đối của ngân sách và ban hành cơ chế để địa phương tổ chức thực hiện Các địa phương chủ động, bám sát thực tiễn để có cơ chế thích ứng trong điều hành Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và truyền thông./
5 Nhiệm vụ và giải pháp trong xây dựng
và thực hiện chính sách dân tộc nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi đến năm 2020
5.1 Nhiệm vụ trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi đến năm 2020
- Phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới
Đổi mới các chính sách giáo dục ở các cấp, mở rộng việc dạy và học ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong các trường phổ thông; đổi mới, nâng cao hiệu quả các chính sách cử tuyển dành cho con em các dân tộc thiểu số
Trang 9vào học tại các trường đại học, cao đẳng và
trung học chuyên nghiệp; nâng cao chất lượng,
hiệu quả trường phổ thông dân tộc nội trú; mở
rộng các khoa dự bị đại học trong các trường
đại học cho người dân tộc thiểu số; xây dựng
chính sách hỗ trợ phù hợp cho học sinh, sinh
viên là người dân tộc thiểu số theo từng cấp
học, ưu tiên cho vùng đặc biệt khó khăn
Đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại
hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân
tộc và miền núi; ưu tiên đào tạo vừa học vừa
làm; đưa chương trình dạy nghề vào các
trường dân tộc nội trú; phát triển các loại mô
hình trường dạy nghề gắn với các doanh
nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội địa phương, ưu tiên đào tạo con em
đồng bào vùng dân tộc và miền núi, miền núi,
biên giới và vùng sâu, vùng xa
Thực hiện các chương trình, mô hình đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, hình thành
thế hệ nông dân mới, biết ứng dụng tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, thích ứng với cơ chế thị
trường trong vùng dân tộc và miền núi
Thực hiện công tác luân chuyển, chính
sách khuyến khích, thu hút các nhà khoa học,
nhà quản lý giỏi đến tham gia phát triển kinh tế
- xã hội các xã vùng cao, biên giới, vùng đặc
biệt khó khăn
Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân
tộc thiểu số, cán bộ làm công tác dân tộc Hình
thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo là người dân tộc
thiểu số có năng lực, trình độ, trí tuệ, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
- Phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác
xóa đói giảm nghèo đồng bào vùng dân tộc và
miền núi
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng dần
tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ; có
chính sách chuyển đổi nghề, tạo việc làm, để
ổn định và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc
thiểu số Triển khai có hiệu quả chương trình
đào tạo nghề và xuất khẩu lao động ở vùng dân
tộc
Phát huy lợi thế so sánh, hình thành vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, như cà phê, điều, tiêu, cao su, chè và đồ gỗ xuất khẩu vùng dân tộc và miền núi ở Tây Nguyên Phát triển vùng chuyên canh ngô hàng hóa cung cấp cho sản xuất thức ăn gia súc trong nước, phát triển hoa, rau công nghệ cao, phát triển kinh tế trang trại để chăn nuôi trâu, bò, lợn tập trung ở một
số vùng dân tộc và miền núi miền núi phía Bắc; xây dựng chính sách thu hút đầu tư phát công nghiệp chế biến để tăng thêm giá trị cho các sản phẩm mũi nhọn Phát triển sản xuất lúa gạo, hình thành vùng chuyên canh thâm canh quy mô lớn, phát triển cây ăn quả, tạo thành vùng tập trung sản xuất hàng hóa, xuất khẩu kết hợp du lịch sinh thái miệt vườn vùng dân tộc và miền núi ở Tây Nam Bộ Quản lý được dịch bệnh, nâng cao năng suất và chất lượng, hiệu quả các sản phẩm nông nghiệp Xây dựng chính sách về hỗ trợ, đầu tư phát triển ngành nghề chế biến, tiêu thụ sản phẩm của đồng bào Tạo cơ hội bình đẳng để đồng bào tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ dịch
vụ, phúc lợi xã hội; tạo môi trường thuận lợi
để thu hút mọi nguồn lực vào phát triển nông nghiệp, nông thôn nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động người dân tộc; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu và tranh chấp đất sản xuất, đất ở cho đồng bào vùng dân tộc và miền núi, nhất là ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
Tập trung nguồn lực thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ vùng dân tộc và miền núi như nhà ở, quy hoạch dân cư hộ nghèo, hộ sống ở vùng bão, lũ, ven sông, suối theo hướng
ổn định, phát triển bền vững
- Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi
Tập trung nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội địa bàn dân tộc và miền núi, trước hết là hoàn thành việc xây dựng các tuyến đường giao thông kết nối liên vùng sản xuất hàng hóa, trung tâm các xã, thôn, bản; đảm bảo điện thắp sáng, các công trình nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế,
Trang 10chợ; gắn với sắp xếp, ổn định dân cư thuận lợi
cho phát triển; hạn chế tình trạng di cư tự do
Phát triển hạ tầng truyền dẫn phát sóng
đồng bộ, đảm bảo chuyển tải được các dịch vụ
phát thanh, truyền hình, viễn thông và công
nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh
hoạt của người dân trong vùng
- Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn
hóa, xã hội vùng dân tộc và miền núi
Nâng cao năng lực, chất lượng khám chữa
bệnh và thực hiện các dịch vụ y tế của trạm y
tế xã, bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện tuyến
tỉnh, bảo đảm công bằng, hiệu quả ở vùng dân
tộc và miền núi Thực hiện tốt chính sách bảo
hiểm y tế khám chữa bệnh cho người dân tộc
thiểu số và chính sách dân số và kế hoạch hóa
gia đình, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số
rất ít người
Thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới,
sự tiến bộ của phụ nữ; chăm sóc và bảo vệ
quyền trẻ em dân tộc thiểu số; bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo
quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa
Xây dựng chính sách bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán,
tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào
dân tộc thiểu số; tăng thời lượng và nâng cao
chất lượng các chương trình phát thanh, truyền
hình bằng tiếng dân tộc thiểu số; xây dựng hệ
thống thiết chế văn hóa cơ sở vùng dân tộc và
miền núi gắn với di tích lịch sử ở từng vùng,
từng địa phương; tiếp tục đổi mới cơ chế quản
lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa,
thông tin; nâng cao chất lượng tuyên truyền,
vận động chống các biểu hiện mê tín, dị đoan,
suy thoái đạo đức, lối sống
- Nâng cao chất lượng hệ thống chính trị,
củng cố an ninh nông thôn vùng dân tộc và
miền núi
Xây dựng và đẩy mạnh hiệu quả hoạt
động của tổ chức đảng, đoàn thể đến từng bản,
làng, phum, sóc Tiếp tục kiện toàn, nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, quan tâm
phát hiện nguồn, quy hoạch và đào tạo bồi
dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số, nhất là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam
Bộ, duyên hải miền Trung
Trong những năm trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở địa bàn dân tộc và miền núi, nhất là những nơi xung yếu về quốc phòng, an ninh; thực hiện tốt chính sách động viên, khuyến khích già làng, trưởng bản, người
có uy tín tham gia công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự
án vùng dân tộc và miền núi theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Tiếp tục xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân nhằm đảm bảo duy trì trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi
- Tập trung đầu tư phát triển địa bàn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số
Huy động và lồng ghép các nguồn lực để thực hiện tốt các chính sách đặc thù, các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn
Rà soát, bổ sung, sửa đổi tiêu chí phân định địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi theo trình
độ phát triển để có chính sách bố trí nguồn lực đầu tư cho phù hợp
Xây dựng chính sách cho vay vốn tín dụng ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ; chính sách chuyển đổi ngành, nghề, giải quyết tình trạng thiếu nước sản xuất
và sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số ở địa bàn đặc biệt khó khăn vùng cao, núi đá, biên giới Đối với những địa bàn dân tộc thiểu
số quá khó khăn, không thể sản xuất được, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ ổn định lương thực và các nhu yếu phẩm cần thiết để người dân yên tâm giữ gìn tài nguyên, bảo vệ
an ninh biên giới
Đối với vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ cần tiếp tục quán triệt thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số theo các nghị quyết của
Bộ Chính trị