(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan(Luận án tiến sĩ) Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan
Trang 1VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-
Nguyễn Thị Huyền
DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
Ở PHÚ THỌ NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CÁC BÊN LIÊN QUAN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Hà Nội - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-
Nguyễn Thị Huyền
DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
Ở PHÚ THỌ NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CÁC BÊN LIÊN QUAN
Ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9229042
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học
Hà Nội - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu và trích dẫn đều được trích nguồn chính xác và đầy đủ Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu của tác giả nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Huyền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 11
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về di sản hóa và các bên liên quan 15
1.2 Cơ sở lý luận 23
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 23
1.2.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu 32
1.2.3 Khung phân tích luận án 41
Tiểu kết 43
Chương 2 QUÁ TRÌNH DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG 45
2.1 Cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 45
2.1.1 Cơ sở tín ngưỡng 45
2.1.2 Cơ sở xã hội 46
2.2 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại 50
2.2.1 Giai đoạn 1472 đến 1945 52
2.2.2 Giai đoạn 1945 đến 2012 62
2.2.3 Giai đoạn 2012 đến nay 67
Tiểu kết 76
Chương 3 VAI TRÒ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG QUÁ TRÌNH DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG Ở PHÚ THỌ 77
3.1 Vai trò của nhà nước 77
3.1.1 Trước khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 77
3.1.2 Sau khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 82
3.2 Vai trò của cộng đồng 84
3.2.1 Trước khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 84
3.2.2 Sau khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 87
3.3 Vai trò của các bên liên quan khác 90
3.3.1 Nhà nghiên cứu 90
3.3.2 UNESCO 92
3.3.3 Doanh nghiệp 93
3.3.4 Các tổ chức xã hội 94
Trang 53.3.5 Truyền thông 95
3.4 Đánh giá chung 96
3.4.1 Những thành công và nguyên nhân 96
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 102
Tiểu kết 122
Chương 4 GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG NHÌN TỪ CÁC BÊN LIÊN QUAN 123
4.1 Căn cứ xác định giải pháp 123
4.1.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 123
4.1.2 Chương trình hành động quốc gia nhằm bảo tồn, phát huy giá trị Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 124
4.1.3 Những vấn đề thực tiễn đặt ra 124
4.2 Đề xuất giải pháp xây dựng mô hình quản lý tham gia 128
4.2.1 Mô hình quản lý tham gia 128
4.2.2 Đề xuất một số nhóm giải pháp mang tính ứng dụng mô hình 132
4.3 Đánh giá một số giải pháp thử nghiệm 143
4.3.1 Giải pháp tăng cường tiếp cận thông tin cho cộng đồng dựa vào công nghệ 143 4.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo/tái tạo di sản thông qua việc khai thác các giá trị văn hóa thời Hùng Vương nhằm đặc trưng hóa sản phẩm lưu niệm du lịch Phú Thọ 148
4.3.3 Giải pháp tăng cường nhận thức di sản cho cộng đồng mở rộng thông qua sản phẩm giáo dục trải nghiệm di sản 152
Tiểu kết 154
KẾT LUẬN 156
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
PHỤ LỤC 182
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization VH-TT&DL Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các bên liên quan tới di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 29
Sơ đồ 1.2 Khung khái niệm các bên liên quan tại điểm đến du lịch 37
Sơ đồ 1.3 Mô hình bảo tồn, phát huy di sản theo quan điểm của Đoàn Văn Luân 37
Sơ đồ 1.4 Vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu 43
Sơ đồ 2.1 Quá trình biểu tượng hóa tổ tiên của người Việt theo Đinh Hồng Hải 49
Sơ đồ 2.2 Khái quát quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú
Sơ đồ 3.1 Vùng giao nhau giữa giá trị và lợi ích di sản của nhà nước và cộng đồng 80
Sơ đồ 3.2 Sự hình thành biểu tượng di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong
Sơ đồ 4.2 Mô tả minh họa việc áp dụng mô hình quản lý tham gia trong quản lý nhà
Sơ đồ 4.3 Khung đáp ứng mô hình quản lý tham gia 132 Bảng 2.1 Số liệu di tích thờ Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 69 Bảng 2.2 Một số dự án công trình được đầu tư tu bổ tôn tạo, xây dựng từ nguồn công
đức, xã hội hóa tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng 72 Bảng 3.1 Số liệu khách du lịch đến Đền Hùng giai đoạn 2005 - 2011 109 Bảng 3.2 Số liệu khách du lịch đến Đền Hùng giai đoạn 2011 - 2019 109 Bảng 4.1 Các BLQ với kỳ vọng và vai trò tham gia vào di sản hóa (giai đoạn 2012 -
Bảng 4.2 Sự tham gia và đáp ứng huy động các nguồn vốn của BLQ trong dự án
thiết kế sản phẩm lưu niệm mang đặc trưng văn hóa Hùng Vương 151 Bảng 4.3 Kết quả đánh giá các bên liên quan về chương trình du lịch học đường
trong bộ sản phẩm giáo dục trải nghiệm di sản 153
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề quản lý di sản “có danh hiệu” hiện nay đang ngày càng thu hút sự quan tâm trong giới học thuật Các quan điểm nghiên cứu xung quanh vấn đề này hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề nhận diện giá trị, đánh giá hiện trạng và đưa ra những đề xuất cho giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di sản sau khi được “ghi danh” “công bố” trong các danh sách quốc gia hoặc quốc tế
Trong những năm gần đây, giới nhân học Âu - Mỹ có xu hướng sử dụng thuật ngữ di sản hóa thay cho di sản với ý nghĩa rằng di sản “được cho là tồn tại bởi vì nó được gọi như vậy” bởi một quyền lực quốc gia hoặc quốc tế hay một tổ chức nào đó [7, tr 37] Điều đó có nghĩa di sản chính là một lựa chọn, một hành động văn hóa cụ thể có thể được gọi là di sản hóa - trở thành di sản Tuy nhiên, các nghiên cứu về di sản hóa chủ yếu theo xu hướng đánh giá những mặt trái, những nguy cơ và cảnh báo các mối đe dọa phương hại đến di sản do quá trình này mang lại
Ở Việt Nam, quá trình di sản hóa đang diễn ra như một xu thế quan trọng trong lĩnh vực di sản những năm gần đây Đó là việc ghi danh/xướng danh/vinh danh/xếp hạng hay nói cách khác là tôn vinh và mang lại “danh hiệu” cho các DSVH với mục tiêu chính là bảo tồn, phát huy giá trị của di sản trong đời sống xã hội, cộng đồng Di sản hóa có thể xem là một vấn đề nổi cộm trong công tác quản lý
di sản Nó đặt ra những vấn đề trọng yếu như: Lựa chọn yếu tố nào để ghi danh/xếp hạng? Định danh di sản là gì? Nhận diện giá trị di sản như thế nào? Ứng xử với di sản được ghi danh/xếp hạng ra sao? Thậm chí, di sản hóa còn kéo theo những vấn
đề mang tính đối nghịch, mâu thuẫn và đầy tính hệ lụy như sự sính danh/háo danh,
sự hoành tráng hóa, thương mại hóa, sân khấu hóa, thế tục hóa, hành chính hóa… đối với các di sản sau khi có “danh hiệu”
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định quan điểm: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” và xây dựng nền văn hóa “tiên
Trang 9tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [94] Ở phương diện khác, di sản văn hóa hiện nay đã trở thành một nguồn lực phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Thực tế cho thấy rất nhiều các di sản “có danh hiệu” đã có cách quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, trở thành di sản có “thương hiệu”, tự tạo được sức hấp dẫn du khách và công chúng Để văn hoá thực sự đi sâu vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân đồng thời gìn giữ được những giá trị, sáng tạo tinh hoa - hệ thống DSVH của các thế hệ đi trước trao truyền lại, công tác quản lý văn hoá đóng vai trò hết sức quan trọng
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một trong các DSVHPVT được UNESCO ghi vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Tuy nhiên, trong hệ thống các DSVHPVT của Việt Nam, đây là một di sản có tính đặc biệt, thể hiện ở mấy điểm cơ bản sau:
- Di sản có nhiều hợp phần đa dạng với lịch sử hình thành lâu đời và sự tích hợp cao nhiều giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam;
- Chủ thể “cộng đồng” của di sản có sự khác biệt so với các DSVHPVT khác, đó là “cộng đồng quốc gia - dân tộc” với sự đa dạng về thành phần và phạm vi lan tỏa rộng
- Quá trình di sản hóa diễn ra sớm với vai trò của nhiều BLQ (cộng đồng, nhà nước, tầng lớp trí thức, doanh nghiệp, tổ chức ) và có sự thay đổi về thành phần, đặc điểm, lợi ích và trách nhiệm của các BLQ qua quá trình di sản hóa
Hiện nay, công tác quản lý di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề ở nhiều góc độ, trong đó, phần nhiều có nguyên do từ mối quan hệ giữa các đối tượng liên quan đến Di sản Ở một bình diện khác, việc được UNESCO ghi danh cũng khiến cho Di sản được đặt trong mối quan tâm ngày càng sâu rộng hơn của nhiều thành phần trong cộng đồng xã hội Các nhà nghiên cứu nhận thấy những hệ lụy tiêu cực của vấn đề gắn danh hiệu cho di sản Cộng đồng và các BLQ mới như doanh nghiệp, du khách, truyền thông… có nhiều phản ứng và kỳ vọng khác nhau về việc di sản được ghi danh Nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý di sản do những điều
Trang 10kiện khách quan về bối cảnh xã hội tác động đến không gian, chủ thể cũng như nhiều thực hành tín ngưỡng, do những yêu cầu khai thác di sản và phát triển kinh
tế, xã hội Việc tìm ra một mô hình quản lý cũng như những giải pháp bảo vệ, phát huy phù hợp với đặc thù của di sản là một yêu cầu cấp thiết
Bởi những lý do nêu trên, NCS lựa chọn vấn đề Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan làm đề tài luận án
của mình với mong muốn đóng góp một nghiên cứu mang tính ứng dụng cho công tác quản lý DSVHPVT, đặc biệt là các DSVHPVT được UNESCO ghi danh
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề
di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ và vai trò của các bên liên quan trong quá trình di sản hóa; trên cơ sở đó đưa ra giải pháp phù hợp trong công tác bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu: (1) Tổng quan lý thuyết, các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, về vấn đề di sản hóa và các bên liên quan; xây dựng cơ sở lý luận cho luận án; (2) Phân tích, luận giải quá trình di sản hoá Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ trong lịch sử với sự vận động về giá trị của Di sản và mục đích di sản hóa; (3) Nhìn nhận vai trò của các bên liên quan trong quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ và những vấn đề về bảo vệ, phát huy Di sản sau khi được UNESCO ghi danh thông qua các khảo sát một số trường hợp cụ thể; (4) Đưa ra những giải pháp nhằm bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ góc nhìn các bên liên quan, đặc biệt là giải pháp xây dựng mô hình quản lý tham gia và đánh giá một số thử nghiệm mô hình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Luận án nghiên cứu vấn đề di sản hoá tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ góc nhìn các bên liên quan
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án nghiên cứu quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng
Hùng Vương ở Phú Thọ theo các phân đoạn thời gian dưới quan điểm di sản hóa và
lý thuyết các bên liên quan
Về không gian: Luận án tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực tiễn các hợp
phần di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trên cơ sở lựa chọn một số đối tượng tiêu biểu là các cơ sở thờ cúng Hùng Vương, lễ hội, địa bàn cụ thể Trong một số phân tích, phạm vi không gian có thể mở rộng đến một số
cơ sở thực hành Tín ngưỡng trên địa bàn trong và ngoài nước để làm minh chứng về giá trị, phạm vi lan tỏa và các vấn đề đặt ra đối với di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương qua quá trình di sản hóa
Về thời gian: Luận án tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước có liên
quan tới đề tài cho tới năm 2021 và sử dụng các kết quả nghiên cứu thực địa từ năm
2015 đến năm 2022 Các nội dung đánh giá cũng như những đề xuất về giải pháp của luận án có thể sử dụng trong giai đoạn tiếp theo (tới năm 2030) theo tầm nhìn của ngành VH,TT&DL nói chung và định hướng phát triển của địa phương nói riêng
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có quá trình di sản hoá như thế nào? Giả thuyết: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có quá trình di sản hoá lâu đời từ nhiều thế kỉ gắn với hệ thống các giá trị đặc thù đối với cộng đồng quốc gia - dân tộc
Câu hỏi nghiên cứu 2: Vai trò của các bên liên quan trong quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương? Giả thuyết: Vai trò của các bên liên quan đối với di sản có sự vận động theo giá trị, lợi ích từ di sản và nhu cầu, trách nhiệm của mỗi bên đối với di sản
Câu hỏi nghiên cứu 3: Giải pháp phù hợp trong việc bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ giai đoạn hiện nay? Giả thuyết: Các
Trang 12giải pháp hướng tới sự hài hòa mối quan hệ và vai trò các bên liên quan là một lựa chọn phù hợp đối với công tác bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu như đã nêu, luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học, xã hội học, dân tộc học và quản lý văn hóa Do tiếp cận vấn đề nghiên cứu ở góc nhìn các bên liên quan trong quá trình di sản hóa, luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp cụ thể của khoa học
xã hội định tính bao gồm: tổng hợp, phân tích tài liệu, điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu… Song song với đó, các phương pháp của khoa học quản lý như phương pháp logic - lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh và phương pháp mô hình hóa được sử dụng xuyên suốt trong luận án nhằm phục vụ cho các nhiệm vụ nghiên cứu mang tính luận giải, đánh giá các vấn đề về lĩnh vực quản lý di sản
5.1 Tổng hợp, phân tích tài liệu
(1) Tổng hợp, nghiên cứu, phân tích hệ thống các văn bản pháp quy quốc tế, Việt Nam và địa phương (Phú Thọ) liên quan đến quản lý di sản và quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ Thao tác này giúp NCS có được căn cứ quan trọng về pháp lý trong vấn đề quản lý di sản ở các phạm vi khác nhau, đặc biệt đối với một di sản được đưa vào danh sách DSVHPVT đại diện của nhân loại của tổ chức UNESCO; (2) Tổng hợp, phân tích và đánh giá hệ thống tài liệu nghiên cứu của quốc tế và Việt Nam về các vấn đề liên quan được sử dụng trong luận án như lý thuyết, quan điểm nghiên cứu; các khái niệm công cụ
5.2 Điền dã dân tộc học và quan sát tham dự
Nhằm có được các thông tin thực tế để diễn giải quá trình di sản hóa đối với Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, NCS đã thực hiện các cuộc điền dã tại 03 nhóm địa bàn nghiên cứu đã lựa chọn Cụ thể là:
Nhóm 1: Khu vực Đền Hùng và lân cận bao gồm các điểm: (1) Khu di tích
lịch sử Đền Hùng với lễ hội Đền Hùng (Xã Hy Cương, thành phố Việt Trì): là trung
Trang 13tâm thực hành tín ngưỡng lâu đời, quan trọng nhất trong hệ thống cơ sở thờ cúng Hùng Vương và có sự thay đổi rõ rệt trên mọi phương diện trong quá trình di sản hóa; (2) Làng Vi, Trẹo (Thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao) làng Cổ Tích (xã Hy Cương, thành phố Việt Trì: ba làng cổ liên quan đến Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên núi Hùng được đề cập chủ yếu trong các nghiên cứu về hiện trạng quản
lý di sản sau khi được ghi danh; (3) Đình Cả với lễ hội Rước vua về làng vui xuân (xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao): một trong hơn 40 làng vùng ven Đền Hùng có thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương từ lâu đời và có công tác tự quản tốt
Nhóm 2: Di tích cấp quốc gia, bao gồm các điểm: Đình Đào Xá (xã Đào Xá,
huyện Thanh Thủy); Đền Lăng Sương (xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy); Đình Hùng Lô (xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì) Đây là nhóm các di tích được xếp hạng cấp quốc gia, song có nhiều điểm tương đồng và khác biệt trong công tác quản lý di tích cũng như sự vận động của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản
Nhóm 3: Di tích cấp tỉnh bao gồm: (1) Đền Thượng (xã Ninh Dân, huyện Thanh
Ba); (2) Đền Quốc Tế (xã Thọ Văn, huyện Tam Nông) Đây là hai di tích cấp tỉnh có sự khác biệt rõ rệt sau thời điểm Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh, một cơ sở có nhiều thay đổi tích cực, một cơ sở còn khá hạn chế
Các cuộc điền dã chia làm nhiều đợt từ năm 2015 cho tới năm 2021 nhằm: (1) Quan sát, thu thập các dữ liệu sơ cấp về hiện trạng sinh hoạt thực hành tín ngưỡng (tại các địa bàn nghiên cứu lựa chọn); (2) Ghi nhận thông tin đánh giá bước đầu về thực trạng công tác bảo vệ, phát huy di sản cũng như công tác quản lý di sản
và mối quan hệ giữa các bên liên quan sau ghi danh
Thời gian điền dã tập trung ở hai thời điểm: (1) Trong dịp lễ hội, ngày tiệc (lễ trọng) tại các điểm nghiên cứu; (2) Ngoài thời điểm lễ hội (Tết Nguyên đán - dịp quan trọng nhất đối với các di tích thờ cúng Hùng Vương, người quản lý, trông nom
mở cửa di tích và phân công trực thường xuyên) Ngoài ra, nhằm có được những thông tin tổng quan và tham chiếu trong hệ thống các hợp phần di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa, NCS cũng thực hiện một số các cuộc khảo sát tại các cơ sở tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên địa
Trang 14bàn tỉnh và một số chuyến đi ngoại tỉnh phía Nam như: tỉnh Bình Dương (Công viên nghĩa trang Bến Cát, phường Bến Cát; Trường PTTH chuyên Hùng Vương, thành phố Thủ Dầu Một), thành phố Hồ Chí Minh (Đền thờ vua Hùng ở một số địa điểm tiêu biểu như công viên Tao Đàn, khu Suối Tiên, Thảo Cầm Viên), tỉnh Đắc Lắc (đình Lạc Giao)
5.3 Phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng nhất được sử dụng do đặc thù về
lý thuyết sử dụng (các bên liên quan) Các thông tin cần thu thập vừa mang tính cá
nhân cao, vừa có độ nhạy cảm và khác biệt từ phía các đối tượng khác nhau Các cuộc phỏng vấn được thực hiện với các cá nhân hoặc nhóm (với đối tượng có số lượng mẫu lớn như du khách, cộng đồng địa phương…) Câu hỏi sử dụng phỏng vấn là dạng câu hỏi mở Các câu hỏi được thiết kế dựa trên cơ sở vấn đề cần tìm hiểu ở mỗi một đối tượng phỏng vấn và mỗi địa bàn nghiên cứu
5.3.1 Đối tượng phỏng vấn
Từ góc nhìn các BLQ, luận án cố gắng tiếp cận đa dạng nhất ý kiến của các BLQ khác nhau bao gồm các đối tượng: cán bộ quản lý nhà nước (trong đó cũng phân cấp và phân nhóm: cán bộ quản lý chuyên môn, cán bộ quản lý phía chính quyền ở các cấp từ tỉnh đến xã, trong đó, một số trường hợp sẽ hỏi ở các vai khác nhau); các nhà nghiên cứu, các chuyên gia (thuộc các lĩnh vực văn hóa dân gian, lịch sử - khảo cổ, kiến trúc - mỹ thuật, Hán Nôm…); cộng đồng (cộng đồng địa phương ở Phú Thọ, cộng đồng người Việt trong nước và nước ngoài), các tổ chức,
du khách, doanh nghiệp, truyền thông… Ngay trong từng đối tượng cũng có thể phân tách nhiều thành phần khác nhau như đối với cộng đồng tại địa phương có đối tượng tham gia quản lý cơ sở thờ cúng, có đối tượng chỉ tham gia lễ hội hoặc đi lễ ngày tuần, có đối tượng là hộ gia đình làm du lịch…) Trong đó, đối tượng phỏng vấn được chia thành 3 nhóm chính để thuận tiện cho việc thiết kế các nội dung: (1) Nhóm quản lý; (2) Nhóm cộng đồng; (3) Nhóm các đối tượng liên quan khác
Phần phụ lục 1 giới thiệu một số bảng liệt kê những nội dung chính được triển khai phỏng vấn sâu bao gồm các đề cương phỏng vấn đối với từng cá nhân và
Trang 15nhóm được phỏng vấn thiết kế dưới dạng các câu hỏi mở Trong đó, nhiều nội dung/câu hỏi sử dụng chung cho nhiều đối tượng để thu nhận thông tin nhiều góc
độ, một số nội dung/câu hỏi được trộn lẫn để kiểm tra chéo Việc thu nhận được nhiều ý kiến của các bên về một vấn đề là căn cứ để luận án nhìn nhận đa chiều hơn một số các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra về vấn đề di sản hóa nói chung và di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói riêng, đồng thời giúp cho luận án luận giải nhiều trường hợp quản lý khác nhau trong hệ thống các hợp phần của Di sản
5.3.2 Nội dung phỏng vấn
Các nội dung phỏng vấn chung bao gồm: (1) Quan điểm về việc khôi phục, bảo tồn và tôn vinh các giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương cũng như việc “xếp hạng” “ghi danh” di sản…; (2) Đánh giá về các hoạt động quản lý, bảo vệ
và phục hồi, tu bổ di tích, cơ sở thờ tự, việc tổ chức lễ hội và các sinh hoạt thực hành, tín ngưỡng khác trước và sau khi di sản được ghi danh; (3) Xác định các vấn
đề nảy sinh trong quá trình di sản hóa và mối quan hệ giữa các bên liên quan trong
quá trình đó Bên cạnh đó, những nội dung phỏng vấn riêng phù hợp với vai trò của từng đối tượng sẽ được lồng ghép để thu được thông tin cần thiết
Tiếp đó, để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu trong hai tương quan lịch đại và
Trang 36đồng này bằng những giá trị tinh thần, biểu tượng, giá trị văn hóa tâm linh, tín ngưỡng [153, tr 24-27]
Trong đó, mỗi cộng đồng có vai trò chung và riêng đối với di sản Cùng là chủ thể sở hữu di sản, song cộng đồng tại chỗ có trách nhiệm và vai trò trực tiếp tham gia hoạt động quản lý cơ sở thờ cúng, các sinh hoạt tín ngưỡng tại địa bàn, cộng đồng mở rộng có vai trò gián tiếp tham gia các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di sản Tuy nhiên, có những nhiệm vụ mà tất cả mọi thành viên trong cộng đồng đều có quyền và trách nhiệm tham gia, đóng góp Việc xác định rõ khái niệm “cộng đồng” là căn cứ quan trọng trong việc đánh giá vấn đề di sản hóa từ góc nhìn các bên liên quan, trọng tâm là việc xác định giá trị, lợi ích của các bên liên quan tác động đến mục đích di sản hóa và xử lý các vấn đề xung quanh việc quản lý, vận hành di sản Trên cơ sở làm rõ khái niệm “cộng đồng”, các “bên liên quan” trong luận án được phân định thành các nhóm như sau (sơ đồ 1.1):
Sơ đồ 1.1 Các bên liên quan tới di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương (Nguồn: NCS)
Theo đó, trong luận án, NCS xác định các BLQ chính như sau:
(1) Nhà nước: Trung ương (Chính phủ, Bộ VH-TT&DL & các Bộ, Ngành
liên quan); Địa phương: Chính quyền các cấp (tỉnh, huyện, xã), các ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị, …
Trang 37(2) Cộng đồng:
+ Cộng đồng tại chỗ (cư dân địa phương)
+ Cộng đồng mở rộng (người Việt ở trong, ngoài nước)
(3) Chuyên gia, nhà nghiên cứu/cơ sở nghiên cứu, đào tạo (trường đại học, trung tâm, viện nghiên cứu)
(4) UNESCO
(5) Tổ chức xã hội
(6) Doanh nghiệp
(7) Truyền thông
Cách phân định này chỉ mang tính tương đối và linh hoạt đối với từng hợp phần
cụ thể của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Mỗi thành phần có thể có nhiều vai khác nhau với lợi ích, trách nhiệm và sự tham gia khác nhau Theo đó, trong các nội dung phân tích có thể có sự tách, gộp đối tượng tùy trường hợp
1.2.1.3 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Ở Việt Nam nhiều nhà nghiên cứu tín ngưỡng và tôn giáo cho rằng thờ cúng
tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng dân gian, là yếu tố thuộc đời sống tinh thần, phản ánh niềm tin của con người vào hệ thống thần linh thông qua lễ nghi thờ cúng, phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc [137] [138] Ở góc tiếp cận này, thờ cúng tổ tiên và thờ cúng Hùng Vương được hiểu là loại hình tín ngưỡng dân gian truyền thống lâu đời, quan trọng và phổ biến ở Việt Nam Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được hình thành trên cơ sở của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với nền tảng là quan niệm coi trọng, biết ơn các bậc tổ tiên từ gia đình đến dòng họ, đất nước Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương bao gồm niềm tin và sự sáng tạo, những thực hành tín ngưỡng dựa trên hệ thống các hợp phần vật thể và phi vật thể liên quan đến thời đại Hùng Vương và các vua Hùng
Ở góc độ di sản, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thuộc loại hình DSVHPVT có hình thức thể hiện là “tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội” được ghi vào danh mục DSVHPVT quốc gia và danh mục DSVHPVT đại diện của nhân loại Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có sự tích hợp, gắn kết bởi nhiều hợp
Trang 38phần/thành tố vật thể và phi vật thể như: các cơ sở thờ cúng (kiến trúc, hiện vật, không gian), các hình thức thực hành tín ngưỡng (nghi lễ, tập quán thờ cúng, lễ hội), các hình thức tư liệu di sản (thần phả/ngọc phả, sắc phong, sắc chỉ, thần tích, văn bia, câu đối, hoành phi, đại tự), các hình thức văn hóa/văn học dân gian (diễn xướng (hát Xoan), truyền thuyết, truyện cổ thời Hùng Vương)… Sự phân tách các hợp phần di sản cũng chỉ là một thao tác giúp cho việc nghiên cứu, sưu tầm, thống
kê cũng như quản lý di sản được thuận tiện hơn Trên thực tế, các mặt vật thể và phi vật thể luôn gắn quyện chặt chẽ với nhau trong mỗi thành tố của di sản với xuất phát từ tâm thức, ý thức và đặc trưng văn hóa thờ cúng tổ tiên của người Việt
1.2.1.4 Quản lý di sản văn hóa và quản lý nhà nước về DSVHPVT
Quản lý di sản văn hóa
Tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc nhìn quản lý di sản, luận án sử dụng
khái niệm quản lý di sản văn hóa của các giả Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu và Đặng Hoài Thu (2011) trong Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch:
“Quản lý di sản văn hóa là quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hóa đó” Theo đó, hai mục đích cũng là nội dung cơ bản của hoạt động quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam là: (1) Bảo tồn sự phát triển bền vững của kho tàng di sản văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; (2) Khai thác ngày càng hiệu quả giá trị của di sản văn hóa, nâng di sản văn hóa dân tộc lên những tầm cao mới [79, tr 56] Quản lý di sản văn hóa là một hình thức, một thực hành quản lý các sản phẩm văn hóa, các nguồn lực văn hóa được đúc kết từ thực tiễn bảo vệ, phục hồi, trao truyền
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là một nội dung, chức năng được quy định trong Chương V, Luật Di sản văn hóa (2001) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (2009), cụ thể: Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các công tác chỉ đạo, phối hợp và hỗ trợ cộng đồng
Trang 39thực hiện công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Nhà nước chỉ đạo, định hướng các công tác hoạch định, ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; huy động các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức khen thưởng; hợp tác quốc tế; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật
Quản lý di sản văn hóa phi vật thể không đơn giản chỉ có công tác quản lý hành chính, hoạch định các chiến lược, chính sách mà còn phải thực thi những chức năng như chỉ đạo, điều hành, phối hợp và hỗ trợ cộng đồng về nguồn lực (tài chính, nhân lực, vật lực), về kiểm tra giám sát Trong đó, cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra những quy định/quy ước bảo vệ di sản phù hợp với truyền thống văn hóa và bảo đảm tính pháp lý của nhà nước để thực thi các biện pháp bảo
vệ di sản trong cộng đồng một cách tự giác và tự chủ [45, tr 8]
Hai khái niệm trên phù hợp với hướng tiếp cận và mục tiêu của luận án nhằm chỉ ra những vấn đề nảy sinh trong quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương với tư cách là một DSVHPVT, từ đó có những đóng góp cho công tác bảo
vệ, phát huy di sản nói chung và quản lý, vận hành di sản nói riêng
1.2.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu
1.2.2.1 Quan điểm di sản hóa
Nhà nghiên cứu Oscar Salemink đã trình bày quan điểm về di sản hóa qua nhiều nghiên cứu về di sản và di sản hóa ở Việt Nam ([106], [107], [108], [109], [188], [189]) Quan điểm này có sự khác biệt so với các quan điểm của giới nghiên cứu Âu - Mỹ ở chỗ nhấn mạnh vấn đề tính chính trị và sự can thiệp của nhà nước làm biến đổi chủ thể sở hữu di sản từ cộng đồng sang nhà nước, biến cộng đồng thành người đứng ngoài di sản, kèm theo đó là những tác động tiêu cực khác được tác giả phân tích, luận giải và đưa ra những cảnh báo đối với vấn đề di sản hóa Thông qua các trường hợp DSVHPVT ở Việt Nam như Hội Gióng, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tác giả phân tích
về bản chất của di sản hóa và nhấn mạnh về tác động của những chính sách di sản
Trang 40khi sự đầu tư hay “cải tạo” di sản mâu thuẫn với vấn đề bảo tồn Điều đó mang lại đặc quyền đặc lợi cho những đơn vị nhất định hay những mối lợi như du lịch, kinh
tế, chính trị Ông cũng cho rằng khi một thực hành văn hóa được “thánh hóa thành
di sản” thì những người dân địa phương không còn toàn quyền kiểm soát thực hành văn hóa mà trong quá khứ họ tự tổ chức và quản lý Thay vào đó, chính quyền địa phương và quốc gia, cán bộ UNESCO, chuyên gia văn hóa, những người phát triển
du lịch và công chúng rộng hơn từ bên ngoài trở thành “bên liên quan” trong quá trình đánh giá, định giá và bình ổn” [108, tr 492]
Cùng chiều với quan điểm này, nhà nghiên cứu Phan Phương Anh đã bàn luận sâu về vấn đề di sản hóa đối với lễ hội truyền thống, cụ thể là sự tác động đến tính thiêng của lễ hội Tác giả đã đưa ra những luận giải về quan điểm của mình như sau:
Những lễ hội được công nhận rõ ràng là những lễ hội mà bản thân
nó đã có một cộng đồng thực hành rộng lớn Trước hết quá trình tôn vinh di sản thông qua việc kiểm kê, tư liệu hóa, phục dựng phần nào lễ hội bởi cơ quan trung ương có tác động thế nào đến lễ hội? Sau đó là hệ quả của việc tôn vinh di sản Lễ hội, khi trở thành di sản sẽ là tài sản của thế giới, cần phải được bảo tồn bằng những biện pháp hành chính của nhà nước và điều này rõ ràng là có nguy
cơ tác động đến tính nguyên thức của nó Và cuối cùng, điều gì sẽ xảy ra khi nó sẽ phải vận hành hoặc ít nhất là bị uốn nắn để đáp ứng được các tiêu chí của một di sản thế giới có sự kiểm duyệt của UNESCO [7, tr 34]
Quan điểm di sản hóa của Oscar Salemink đã được tác giả Trần Thị Lan sử dụng
trong luận án Di sản hóa ở Việt Nam: Trường hợp đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội Nhằm đóng góp các kết luận khoa học cho vấn đề di sản hóa ở Việt Nam
qua một trường hợp nghiên cứu cụ thể là một di tích và lễ hội vùng châu thổ Bắc Bộ, tác giả luận án đã đưa ra một khái niệm về di sản hóa song nhấn mạnh đến hai giai đoạn trước và sau vinh danh di sản Về kết quả nghiên cứu, tác giả thể hiện sự đồng thuận với quan điểm về di sản hóa của Oscar Salemink khi chỉ ra rằng: “Di sản hóa là một xu