- Con người dù sống trong hoàn cảnh bi đát thế nào cũng luôn đấu tranh để loại trừ cái xấu, để gìn giữ nhân cách cao đẹp: Trương Ba quyết định chết và trả lại xác cho anh hàng thịt để mì[r]
Trang 1TRƯỜNG THPT CẦN THẠNH
ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA
MÔN NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2021-2022 Thời gian làm bài: 120 phút
Không ai nói với đại bàng về những chân trời xa
Về những đại ngàn bí mật Nên nó vẫn hồn nhiên bới đất Chỉ có khát vọng mơ hồ Lâu lâu lại cồn cào trong ngực
Làm sao mà ai biết Mình đã bắt đầu từ quả trứng nào đây Sao không thử một lần vỗ cánh tung bay?
(Khát vọng, Đặng Hồng Thiệp)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt và thể thơ được sử dụng trong văn bản trên
Câu 2 Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của hình ảnh “bầy gà” trong văn bản?
Trang 2Câu 3 Chỉ ra hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ:
“Sao không thử một lần vỗ cánh tung bay?”
Câu 4 Đọc văn bản trên, anh/chị thấy thông điệp nào có ý nghĩa nhất với anh/chị? Vì sao?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Trong văn bản phần Đọc - hiểu ở trên, nhà thơ Đặng Hồng Thiệp đề cao “Khát vọng”, còn người xưa
(Lão Tử) lại khuyên người đời nên sống “Biết đủ, biết dừng” (Tri túc, tri chỉ)
Anh/chị chọn cách sống nào? Hãy trình bày quan điểm cá nhân của anh/ chị về cách sống đó trong một
đoạn văn khoảng 200 chữ
Câu 2 (5.0 điểm)
“… Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên Tiếng
nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế
nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vẩu tre nứa nổ
lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng”
Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân trời đá Đá ở đây từ ngàn
năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm
mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để
vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt
nước chỗ này Mặt sông rung rít lên như tuyếc-bin thuỷ điện nơi đáy hầm đập Mặt sông trắng xoá càng
làm bật rõ lên những hòn những tảng mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tuỳ theo sở thích tự
động của đá to đá bé Nhưng hình như Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày
thạch trận trên song Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền
một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn
Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái
thuyền đối phương đi vào sâu nữa, vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng với đánh khuỷu quật vu hồi
lại Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai, thì nhiệm vụ của những
boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở tuyến ba phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu
diệt tất cả thuyền trưởng thuỷ thủ ngay ở chân thác Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới
Phối hớp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn bệ vệ oai phong lẫm liệt Một hòn
ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến Một
Trang 3(Trích Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12)
Phân tích hình tượng dòng Sông Đà trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về nét đặc sắc trong ngôn ngữ
tùy bút của Nguyễn Tuân
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1
I ĐỌC - HIỂU
Câu 1
- Thể thơ của văn bản trên là: Tự do
- Phương thức biểu đạt sử dụng trong văn bản là: tự sự, nghị luận, biểu cảm
Câu 2 Thí sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng nổi bật được một hoặc tất cả các ý
nghĩa của hình ảnh “bầy gà”:
- Hoàn cảnh sống trói buộc, tù túng
- Cái nhìn, nhận thức tầm thường, thiển cận, hạn hẹp, kém cỏi…
Câu 3
- Biện pháp tu từ trong câu thơ “Sao không thử một lần vỗ cánh tung bay?” là :
+ Ẩn dụ (“vỗ cánh tung bay”- sự trưởng thành, vươn tới tầm cao, vượt lên hoàn cảnh…)
+ Câu hỏi tu từ: “Sao không thử một lần vỗ cánh tung bay?”
Câu 4 Thí sinh nêu được một thông điệp có ý nghĩa và giải thích lí do vì sao Có thể có nhiều cách diễn
đạt khác nhau về nội dung các thông điệp, sau đây là một số gợi ý trả lời:
- Sống trong hoàn cảnh tầm thường, trói buộc, con người có thể trở nên tầm thường, thiển cận, vô dụng,
kém cỏi… Vì thế, phải biết thay đổi, cải tạo hoàn cảnh hoặc vượt lên hoàn cảnh, bứt phá giới hạn của
bản thân để được sống là chính mình
Trang 4- Con người cần khám phá, phát hiện những sở trường, năng lực vốn có của bản thân để phát huy nội
lực, vươn tới tầm cao
- Con người phải có khát vọng lớn lao, cần dũng cảm bước ra cuộc đời rộng lớn, chấp nhận thử thách
để trưởng thành
II LÀM VĂN:
Câu 1
a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song
hành
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày quan điểm cá nhân về hai quan điểm đã cho ở đề bài:
một bên là đề cao khát vọng và một bên là biết đủ, biết dừng
c Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách
nhưng phải thể hiện rõ quan điểm, lựa chọn của mình Sau đây là gợi ý:
• Giới thiệu vấn đề
• Giải thích vấn đề
- “Khát vọng”: mong muốn, đòi hỏi chính đáng với một sự thôi thúc mạnh mẽ
- “Biết đủ, biết dừng”: bằng lòng, nhận thức được giới hạn; không đòi hỏi, không ham muốn thêm ngoài
cái mình đã có
• Bàn luận
Thí sinh có thể bàn luận theo nhiều hướng khác nhau:
- Đồng tình với quan điểm sống đề cao “Khát vọng”:
+ Để hướng tới những điều đẹp đẽ, lớn lao
+ Để có động lực phát huy hết năng lực bản thân
+ Để có động lực vượt qua thử thách đến thành công…
- Đồng tình với quan điểm “Biết đủ, biết dừng”:
Trang 5+ Để có cuộc sống nhẹ nhàng, thanh thản, không bon chen…
- Cái nhìn đa chiều về hai quan điểm sống: phân tích ưu, nhược điểm của hai quan điểm sống trên và rút
ra kết luận: phải biết hài hòa giữa khát vọng và sự bằng lòng, không biến khát vọng thành tham vọng
cũng như không biến sự bằng lòng thành chấp nhận, cam chịu
a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
- Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
- Hình tượng dòng sông Đà trong đoạn văn Từ đó, nhận xét về nét đặc sắc trong ngôn ngữ tùy bút của
Nguyễn Tuân
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
- Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt
chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm cần nghị luận
*Phân tích hình tượng dòng sông Đà hung bạo qua hình ảnh thác nước và thạch trận trên sông (chú ý
Trang 6- Con sông Đà không còn là một thực thể vô tri vô giác mà dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân nó
trở thành một sinh thể sống động với những cá tính rõ nét: rất hùng vĩ mà cũng rất hung bạo, hiện thân
của thứ kẻ thù số một của con người
* Từ đó, nhận xét về nét đặc sắc trong ngôn ngữ tùy bút của Nguyễn Tuân:
- Ngôn ngữ phong phú, điêu luyện; giàu giá trị tạo hình, giàu tính thẩm mĩ; chính xác, súc tích; đặc biệt
phóng khoáng, tinh tế và mới mẻ…
- Câu văn trùng điệp, giàu hình ảnh, giàu tính nhạc; giọng văn thiết tha, sôi nổi, hào hứng,…
- Sử dụng linh hoạt, đa dạng các biện pháp tu từ; vận dụng tri thức tài hoa, uyên bác
(1) “Trong tạp chí Quote (tháng 8 năm 1994), Arthur Kroeger kể rằng anh trai mình thỉnh thoảng hay
ghé thăm xứ đạo của người Tin Lành tại miền nam Alberta, Canada Trong một lần ghé thăm, ông hỏi
các vị quản nhiệm một câu hỏi: “Các ông sẽ xử lí như thế nào đối với những người chống lại các quy
định nghiêm khắc của xứ đạo?” Họ bảo rằng những người này trước tiên được yêu cầu phải sửa chữa
hành vi của mình Nếu vẫn không thay đổi, họ sẽ được nghe một bài thuyết giảng”
- Nhưng các vị sẽ làm gì khi những việc đó đều thất bại, khi một người nào đó bướng bỉnh không chịu
làm theo?
- À, nếu đến mức đó, chúng tôi sẽ không giao cho họ bất cứ việc gì để làm
(2) Hình phạt cao nhất là không giao việc cho họ - điều này nghe có vẻ khó tin, nhưng bạn cứ thử hỏi
những người thất nghiệp về cảm giác khi không có việc gì để làm thì bạn sẽ hiểu…
Thượng Đế không tạo gánh nặng cho chúng ta bằng công việc, mà chính Người đã ban phúc cho chúng
ta bằng điều đó Chúng ta bận rộn là để có ích cho đời
Trang 7Cho dù bạn kiếm sống bằng nghề gì đi nữa - hãy biết ơn công việc Những giờ làm việc dài và cảm giác
mệt nhoài cuối ngày cho thấy bạn đã làm điều gì đó có ích cho đời Công việc là món quà mà cuộc sống
ban tặng cho chúng ta”
(Trích “Sự mầu nhiệm của lòng quan tâm” - Steve Goodier - Thái Hiền dịch)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn (1)
Câu 2 Hình phạt cao nhất mà các vị quản nhiệm dành cho những người chống lại các quy định nghiêm
khắc của xứ đạo là gì ?
Câu 3 Anh / chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của câu văn: “Thượng Đế không tạo gánh nặng cho chúng
ta bằng công việc, mà chính Người đã ban phúc cho chúng ta bằng điều đó” ?
Câu 4 Anh / chị có đồng tình với quan điểm “Công việc là món quà mà cuộc sống ban tặng cho chúng
ta” không ? Lí giải vì sao ?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết 01 đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ)
trình bày suy nghĩ của anh / chị về vấn đề: Hạnh phúc sinh ra từ lao động
Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích hình tượng nhân vật Trương Ba trong mắt những người thân qua hai màn
đối thoại sau, từ đó bình luận ngắn gọn về thông điệp mà Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm qua vở kịch:
MÀN 1:
- Vợ Trương Ba: (nghĩ ngợi) Tôi nói thật đấy… ông Trương Ba ạ, tôi đã nghĩ kĩ: Có lẽ tôi phải đi…
- Hồn Trương Ba: Đi đâu?
- Vợ Trương Ba: Chưa biết! Đi cấy thuê làm mướn ở đâu cũng được… đi biệt… (rưng rưng)
- Hồn Trương Ba: Bà! (sau một hồi nghĩ ngợi) Sao lại đến nông nỗi này?
- Vợ Trương Ba: Tôi biết, ông vốn là người hết lòng thương yêu vợ con… Chỉ tại bây giờ… (khóc) Ông
đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa, ông biết không: Thằng Cả đã quyết định
dứt khoát sẽ bán khu vườn để có tiền mở thêm vốn liếng cửa hàng thịt
- Hồn Trương Ba: Thật sao? Không được!
Trang 8- Vợ Trương Ba: Ông bảo là không được nhưng tôi biết sự thể rồi sẽ cứ dẫn đến như vậy, ông sẽ đành
ưng chịu như vậy… Thôi tùy ông, tôi chỉ muốn ông được thảnh thơi sung sướng… Tôi không còn giúp
gì cho ông được, tốt nhất là… là… không còn tôi nữa, cũng như không có khu vườn nữa! (bỏ ra)
(Khi hồn Trương Ba ngẩng lên thì đã thấy cái Gái đứng trước mặt với cái nhìn lặng lẽ, soi mói)
- Hồn Trương Ba: (như cầu cứu) Gái, cháu…
- Cái Gái: (lùi lại) Tôi không phải là cháu của ông!
- Hồn Trương Ba: (nhẫn nhục) Gái, lớn lên rồi cháu sẽ hiểu… ông đúng là ông nội cháu…
- Cái Gái: Ông nội tôi chết rồi Nếu ông nội tôi hiện về được, hồn ông nội tôi sẽ bóp cổ ông! Ông dám
nhận là ông nội, dám đụng vào cây cối trong vườn của ông nội tôi
- Hồn Trương Ba: Dù sao… Cháu… Sáng nào ông cũng ra cuốc xới chăm chút cây cối ngoài vườn, cháu
không thấy sao: Chỉ có ông nội cháu mới biết quí cây như thế…
- Cái Gái: Quí cây ! Hừ, tôi phải rình lúc này, cả nhà đi vắng hết để đến nói với ông: Từ nay ông không
được động vào cây cối trong vườn ông tôi nữa ! Ông mà quí cây à? Sáng qua, tôi để ý lúc ông chiết cây
cam, bàn tay giết lợn của ông làm gãy tiệt cái chồi non, chân ông to bè như cái xẻng, giẫm lên nát cả
cây sâm quí mới ươm Ông nội tôi đời nào thô lỗ phũ phàng như vậy!”
MÀN 2:
- Vợ Trương Ba: Ông ở đâu? Ông ở đâu?
(Giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập chờn xuất hiện)
- Hồn Trương Ba: Tôi đây bà ạ Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa
bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà dẫy cỏ… Không phải mượn thân
ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây
cái Gái nâng niu…
(Dưới một gốc cây, hiện lên cu Tị và cái Gái)
- Cái Gái: (tay cầm một trái na) Cây na này, ông nội tớ trồng đấy! Quả to mà ngon lắm! Ta ăn chung
nhé!
(Bẻ quả na đưa cho cu Tị một nửa Đôi trẻ ăn ngon lành Cái Gái lấy những hạt na vùi xuống đất)
- Cu Tị: Cậu làm gì thế?
Trang 9- Cái Gái: Cho nó mọc thành cây mới Ông nội tớ bảo vậy Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn Mãi
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn (1) là tự sự
Câu 2 Hình phạt cao nhất mà những người quản nhiệm dành cho những kẻ chống lại các quy định
nghiêm khắc của xứ đạo là: “không giao cho họ bất cứ việc gì để làm”
Câu 3 Câu văn: “Thượng Đế không tạo gánh nặng cho chúng ta bằng công việc, mà chính Người đã
ban phúc cho chúng ta bằng điều đó” có thể hiểu là: công việc không phải là thứ sinh ra để khiến chúng
ta thêm mệt mỏi, chán nản; trái lại, chính công việc là thứ đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích, nhiều niềm
vui, giúp chúng ta có một cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa hơn
Câu 4 Anh / chị có đồng tình với quan điểm “Công việc là món quà mà cuộc sống ban tặng cho chúng
ta” không ? Lí giải vì sao ?
Thí sinh tự do bày tỏ quan điểm, miễn là lí giải phù hợp Tham khảo:
- Đồng tình
- Lý giải:
+ Công việc giúp con người duy trì và phát triển cuộc sống
+ Công việc làm cho con người hoàn thiện bản thân, giúp ích cho xã hội
+ Công việc giúp con người cảm thấy mình sống có ý nghĩa
+ Mỗi khi hoàn thành công việc, con người sẽ có cảm giác thỏa mãn, hạnh phúc vì đã vượt qua được
một trở ngại, đã chiến thắng được chính mình
II LÀM VĂN
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết 01 đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ
của anh / chị về vấn đề: Hạnh phúc sinh ra từ lao động
Trang 10Tham khảo một số ý sau:
- Chính lao động, chứ không phải sự lười biếng, mới tạo ra niềm vui cho con người
- Lao động giúp chúng ta khám phá ra năng lực bản thân, từ đó mài dũa và phát triển nó
- Lao động giúp tâm trí con người tập trung cao độ, do vậy tránh được những suy nghĩ tản mát, tiêu cực
- Lao động giúp con người bận rộn, do vậy, tránh khỏi những hành vi vô nghĩa, thậm chí bất thiện
- Lao động tạo ra của cải vật chất, giúp ổn định cuộc sống
- Lao động khiến con người cảm thấy mình sống có ý nghĩa, có trách nhiệm, từ đó sẽ có thái độ tự tin
hơn
- Mỗi khi hoàn thành công việc, con người sẽ có cảm giác tự hào về bản thân, do vậy, cảm thấy vui vẻ
v.v…
Câu 2 (5,0 điểm)
- Vài nét khái quát về tác giả Lưu Quang Vũ, vở kịch và đoạn trích trong SGK
- Tóm tắt về tình huống bi kịch của Trương Ba
*Phân tích đoạn trích:
Đoạn 1:
a Lúc này hồn Trương Ba đang sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt, và hồn ngày càng bị tha hóa,
nhiễm phải nhiều thói hư tật xấu của xác, không làm chủ được mình
b Điều này dẫn đến thái độ chối bỏ của những người thân đối với Trương Ba
- Vợ Trương Ba:
+ Trương Ba bây giờ đã thay đổi: không còn yêu thương vợ con (tát con trai); thờ ơ với số phận người
khác (cu Tị ốm mà không biết); không biết cách chăm sóc vườn tược (dẫn đến việc anh con trai đòi bán
khu vườn)
+ Vợ Trương Ba đòi bỏ đi biệt tích
- Cái Gái:
+ Với tâm hồn trẻ thơ, cái Gái không thể hiểu hết những sự éo le của cuộc đời Nó nhìn vào những hành
động của Trương Ba và dứt khoát chối bỏ, không nhận Trương là ông nội của nó
Trang 11+ Cái Gái đưa ra bằng chứng rất rõ ràng để phản bác lại lí lẽ của Trương Ba: Trương Ba nói yêu cây cối,
nhưng cái Gái thấy ông chỉ làm “gãy tiệt chồi non”, “dẫm nát cả cây sâm quí” Trong trí nhớ của nó,
ông nội nó là người khéo léo, thanh cao chứ không phải kẻ có “bàn tay giết lợn”, “đôi chân to bè”
Đoạn 2:
b Lúc này hồn Trương Ba đã trả lại thân xác cho anh hàng thịt để được chết Chính hành động chết đi
này lại làm cho Trương Ba được sống, sống một cách toàn vẹn và đẹp đẽ như xưa trong mắt của người
thân
b Điều này dẫn đến thái độ yêu mến, tôn trọng của những người thân đối với Trương Ba
- Vợ Trương Ba: Qua lời gọi tha thiết: “Ông ở đâu ? Ông ở đâu ?”, có thể thấy được tình yêu thương,
nỗi nhớ sâu đậm của người vợ dành cho Trương Ba Nếu khi Trương Ba còn sống trong thân xác anh
hàng thịt, bà đã định bỏ đi biệt tích, thì giờ đây, khi Trương Ba đã từ bỏ thân xác ấy, bà lại khát khao
được gặp ông
- Cái Gái: Trương Ba trong tâm trí của cái Gái giờ đây là hình ảnh đẹp đẽ, toàn vẹn như xưa Việc cái
Gái luôn nhắc đến ông nội với một thái độ yêu mến, trân trọng, tự hào cho thấy nó quí ông nội đến
nhường nào Mọi hành động, lời nói của ông nội, đối với nó đều là đẹp nhất, đúng đắn nhất, là kim chỉ
nam cho mọi hành động của nó: cây na này ông nội tớ trồng đấy, ông nội tớ bảo vậy…
Bình luận
- Cuộc đấu tranh giữa hồn Trương Ba với xác anh hàng thịt cũng chính là cuộc đấu tranh giữa cái thanh
cao, tốt đẹp với cái phàm tục, xấu xa trong một con người Khi cái phàm tục lên ngôi, con người sẽ bị
đồng loại xa lánh, chối bỏ; ngược lại, nếu con người phục thiện, sẽ lại nhận được tình yêu mến
- Việc dũng cảm trả lại thân xác cho anh hàng thịt, chết để được sống là chính mình đã làm cho hình
ảnh Trương Ba mãi mãi cao đẹp trong lòng người thân
- Việc hình ảnh Trương Ba xuất hiện mọi nơi cho thấy Trương Ba sẽ trở nên bất tử trong tâm trí người
thân: bất tử ở những hành động đẹp mà ông đã làm, ở cách sống đẹp mà ông đã sống Lời thủ thỉ của
Trương Ba với vợ đã nói lên một chân lí: sự có mặt trên đời dài hay ngắn không quan trọng, cái quan
trọng là mình để lại gì khi đã ra đi
Khái quát lại vấn đề
ĐỀ THI SỐ 3
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Trang 12Có rất nhiều người đang sống mà quên đi ước mơ của mình Họ đi trên con đường được định sẵn mà
chẳng bao giờ buồn và chất vấn về điều ấy
Bạn có chất vấn về nó Tất cả chúng ta đều phải vẽ nên lộ trình riêng, lộ trình sẽ dẫn chúng ta đến nơi
chúng ta muốn, chứ không phải nơi người khác bảo chúng ta nên đến Bạn có thích công việc mình đang
làm để mưu sinh không? Nếu câu trả lời là “không”, bạn đã đi sai đường Bạn có hài lòng với lối sống
hiện tại của mình không? Vị trí hiện tại của bạn có thể giúp ích được cho người khác không? Nếu
“không” bạn đã đi sai đường Nếu bạn bị sa thải ngay ngày hôm nay, liệu bạn có thể thành lập công ti
riêng không? Nếu “không” bạn đã đi sai đường… “Nếu bạn không xây dựng giấc mơ của mình thì người
khác sẽ thuê bạn xây dựng giấc mơ của họ”
Câu nói này xuất phát từ tâm hồn tôi, và tôi đã khắc cốt ghi tâm nỗi đau từ chân lý của câu nói ấy Tôi
cảm thấy dù có làm việc cho người khác thì công việc đó cũng nên là công việc mà ta mơ ước Nếu
không, chúng ta nên xây dựng công việc mơ ước mà cuối cùng nó sẽ thay thế công việc thường nhật của
chúng ta Hãy để một chiếc máy tính hoặc lũ rô - bốt làm những công việc văn phòng vô nghĩa và nhàm
chán Một con người thì không nên làm một công việc vô nghĩa, nhàm chán trong thế giới này […] Tôi
đã từng làm nhiều công việc không cần động não và chúng chỉ làm tốn thời gian và năng lượng mà thôi
Ấy thế nhưng đó là con đường được định sẵn cho rất nhiều người trong chúng ta
[…] Trong lúc còn đi học, bạn cũng nên dành thời gian để tự nghiệm mình Hãy tìm hiểu bản thân Hãy
yêu lấy chính mình Hãy vẽ nên những giấc mơ từ sâu tận đáy trái tim Hãy chất vấn về con đường được
định sẵn Đừng sợ đi đường vòng Đừng ngại phải vẽ nên con đường chạm tới một đích đến mới
(Tony A.Gaskins, Phạm Trần Thoại Như dịch – The Dream Chaser)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
Câu 2: Theo tác giả trong lúc còn đi học bạn cần làm gì?
Câu 3: Anh/ chị hiểu nghĩa câu sau như thế nào?
“Đừng sợ đi đường vòng Đừng ngại phải vẽ nên con đường chạm tới một đích đến mới.”
Câu 4: Anh (chị) có đồng tình với quan điểm của tác giả “Hãy vẽ nên những giấc mơ từ sâu tận trái
tim” không? Vì sao?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ đoạn ngữ liệu ở phần Đọc- hiểu, anh/ chị viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) nói lên suy nghĩ
Trang 13Câu 2 (5,0 điểm)
Phân tích cảm hứng về Đất Nước trong đoạn trích sau:
“ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi
(“Đất nước” – Trích Trường ca mặt đường khát vọng; Nguyễn Khoa Điềm)
Từ đó, nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của nhà thơ
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 3
I ĐỌC – HIỂU
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2: Theo tác giả trong lúc còn đi học bạn cần: dành thời gian để tự nghiệm mình Hãy tìm hiểu bản
thân Hãy yêu lấy chính mình Hãy vẽ nên những giấc mơ từ sâu tận đáy trái tim Hãy chất vấn về con
đường được định sẵn
Đừng sợ đi đường vòng Đừng ngại phải vẽ nên con đường chạm tới một đích đến mới
Câu 3: Câu nói: “Đừng sợ đi đường vòng Đừng ngại phải vẽ nên con đường chạm tới một đích đến
mới.”
-> Lời khuyên : đừng sợ khó khăn, trở ngại; mỗi chúng ta cần mạnh dạn chủ động trong việc tìm ra
những hướng đi mới, và riêng để đạt được thành công