Câu 2: 3.0 điểm Hãy viết một bài văn ngắn khoảng 250 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích: “Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thàn[r]
Trang 1TRƯỜNG THCS VĂN LANG
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2022-2023
MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
ĐỀ THI SỐ 1
Câu 1 (3,0 điểm)
Trong chương trình Ngữ văn 8 có truyện “Cô bé bán diêm” của nhà văn Hans Christian Andersen
Anh/chị suy nghĩ thế nào về kết thúc của câu chuyện? Liên hệ với tình trạng trẻ em đường phố hiện nay
Câu 2 (7,0 điểm)
Trong bài viết “Khám phá người đọc”, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương viết: “Đọc là khám phá,
sáng tạo lại tác phẩm và cũng đồng thời là khám phá, sáng tạo chính bản thân mình”
(Hãy cầm lấy và đọc, Huỳnh Như Phương, Nxb Tổng hợp 2016)
Anh/chị suy nghĩ gì về ý kiến trên? Qua những tác phẩm đã học hoặc đã đọc, anh/chị hãy giới thiệu một
tác phẩm đã góp phần bồi đắp nên tâm hồn mình
-HẾT - ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1 Câu 1
Phương pháp: HS vận dụng các phương pháp giải thích, phân tích, chứng minh để làm bài văn nghị
luận xã hội
Cách giải:
*Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng để viết một bài văn nghị luận xã hội
- Bài văn phải có bố cục, kết cấu rõ ràng; lập luận thuyết phục; diễn đạt mạch lạc; không mắc lỗi chính
tả, từ ngữ, ngữ pháp
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau; có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng
phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và
pháp luật
Trang 2*Yêu cầu về nội dung:
1 Giới thiệu vấn đề
2 Về kết thúc truyện “Cô bé bán diêm”
- Giới thiệu khái quát nhà văn Hans Christian Andersen và truyện “Cô bé bán diêm”
- Trời đầy nắng, mọi người vui vẻ trong ngày đầu tiên của năm mới, em bé chết vì lạnh ở xó tường, đôi
má hồng, đôi môi đang mỉm cười
- Mọi người chỉ nhìn thấy bao diêm đã hết nhẵn mà không nhìn thấy cảnh tượng huy hoàng trong mộng
tưởng của em bé
- Kết thúc tác phẩm “Cô bé bán diêm” là một bi kịch: Đây không phải là kết thúc có hậu như ta vẫn
thường thấy trong các câu truyện cổ tích Trong truyện cổ tích hạnh phúc thường được tìm thấy ngay
trong hiện thực chứ không phải trong thiên đường hư ảo Còn hạnh phúc của em bé bán diêm thì cô đơn
như chính cái chết lạnh lẽo của em
- Bởi vậy, điều đọng lại khi kết thúc câu chuyện không phải niềm vui nhẹ nhõm như truyện cổ tích mà
là nỗi xót xa, day dứt nơi người đọc
- Kết thúc truyện còn cho thấy lối sống vô cảm của những người xung quanh, nếu chỉ cần một cánh tay
đưa ra giúp đỡ em thì cô bé đã không phải chết trong cô đơn, lạnh lẽo đến vậy
3 Liên hệ với trẻ em đường phố hiện nay
* Thực trạng
- Theo số liệu của ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, năm 2003 cả nước có trên 21.000 trẻ em lang
thang cơ nhỡ, đông nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh với 8.500 em Con số này không ngừng gia tăng
- Trẻ em đường phố đối diện với nguy cơ thất học cao và dễ rơi vào tệ nạn xã hội
- Trẻ em đường phố có nguy cơ phạm tội ngày càng cao; nạn xin ăn tràn lan ảnh hưởng tới văn minh
đô thị
- Trẻ em đang bị bóc lột sức lao động và nguy cơ bị xâm hại tình dục
* Nguyên nhân:
- Do đói nghèo: Trẻ đường phố thường xuất thân từ các gia đình nông dân nghèo hoặc gia đình mà bố
mẹ không có việc làm, khó khăn về kinh tế và đông con
- Do tổn thương tình cảm như: bị gia đình ruồng bỏ, từ chối hoặc đánh đập
Trang 3- Còn lại là do mồ côi hoặc bố mẹ li hôn
* Giải pháp
- Hiện nay, ở nước ta, những mái ấm tình thương đang xuất hiện ngày càng nhiều, cá nhân, tổ chức thu
nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn
luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp
- Tổ chức: Làng trẻ em SOS; Cô nhi viện Thánh An (Giáo phận Bùi Chu, Xuân Trường, Nam Định);
Chùa Kì Quang II (Gò Vấp); …
- Cá nhân: Mẹ Phạm Ngọc Oanh (Hà Nội) với 800 đứa con tình thương: Anh Phạm Việt Tuấn với mái
ấm KOTO (Hà Nội); …
4 Đánh giá
- Có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng trẻ em lang thang, cơ nhỡ, từ đó nâng cao tình cảm và trách nhiệm
đối với các em Lên án và kịp thời phát hiện, tố cáo những kẻ bóc lột sức lao động và xâm hại trẻ em
- Khuyến khích, biểu dương các tổ chức cá nhân tiêu biểu đồng thời lên án, ngăn chặn, xử lí kịp thời
những kẻ núp bóng từ thiện để làm việc xấu
- Nhân rộng sự giúp đỡ, để giúp các em được học tập vui chơi như các bạn cùng trang lứa
Câu 2
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Viết đúng kiểu bài nghị luận văn học
- Lý lẽ rõ ràng, dẫn chứng xác thực
- Văn viết giàu cảm xúc, diễn đạt trôi chảy
- Bố cục ba phần rõ ràng, cân đối
- Trình bày sạch đẹp; ít sai lỗi câu, từ, chính tả
* Yêu cầu về kiến thức: đảm bảo được các ý sau:
1 Giải thích nhận định
Trang 4- “Đọc là khám phá, sáng tạo lại tác phẩm”: Đọc tác phẩm văn học là một trải nghiệm mang tính cá
nhân Mỗi người đi khi đọc tác phẩm với trình độ văn hóa, góc nhìn khác nhau, với trí tưởng tượng khác
nhau sẽ cho ra những khám phá, phát hiện mới mẻ Bởi vậy, mỗi người đọc sẽ sáng tạo lại tác phẩm,
khiến cho tác phẩm trở nên giàu giá trị và ý nghĩa hơn
- “Đồng thời là khám phá, sáng tạo chính bản thân mình”: Mỗi tác phẩm văn học đích thực, khi đọc
xong còn cho ta những bài học về nhân cách, về lối sống, khiến cho bản thân con người trở nên hoàn
thiện hơn về tâm hồn, để hướng đến mục đích cuối cùng đó là vẻ đẹp của: chân – thiện – mĩ
=> Quá trình tiếp nhận văn học không chỉ làm mới mẻ tác phẩm mà còn hoàn thiện nhân cách cho chính
người đọc
2 Tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa
Các em có thể lựa chọn một trong những tác phẩm sau đây để phân tích: Mùa xuân nho nhỏ, Lặng lẽ Sa
Pa, Nói với con, …
2.1 Nhân vật anh thanh niên:
a Là con người thiết tha yêu cuộc sống:
- Được thể hiện qua tình cảm gắn bó, quan tâm, gần gũi của anh với những người xung quanh
+ Lấy khúc cây chắn ngang đường để dừng xe, để được nói chuyện với mọi người
+ Gửi củ tam thất cho vợ bác lái xe
+ Trò chuyện cởi mở, tặng hoa, tặng quà ăn đường cho người vừa mới gặp lần đầu là ông họa sĩ, cô kĩ
sư
- Tinh thần lạc quan trong một hoàn cảnh sống nhiều khó khăn, thử thách:
+ Biết tạo ra niềm vui cho cuộc sống của mình
+ Biết tổ chức một cuộc sống gọn gàng, ngăn nắp
+ Biết nối mình với cuộc sống văn minh, tự nâng cao hiểu biết, chuyên môn nhờ đọc sách
=> Giúp anh thanh niên chủ động, vượt qua cuộc sống khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần
b Là con người sống có lí tưởng, có niềm say mê và trách nhiệm với công việc
- Làm việc với một tinh thần trách nhiệm rất cao:
+ Có những đêm trời lạnh giá anh vẫn trở dậy đo gió, đo mưa
Trang 5+ Anh đã vượt lên hoàn cảnh và vượt lên chính mình để hoàn thành công việc
- Tất cả đều bắt nguồn từ lí tưởng sống đẹp của anh thanh niên:
+ Anh muốn góp sức mình vào công cuộc dựng xây và bảo vệ cuộc sống mới
+ Anh không lẻ loi, đơn độc mà tìm thấy những người bạn đồng hành trên con đường mình đã chọn:
ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ địa chất lập bản đồ sét -> tất cả đều lặng lẽ và bền bỉ với đời sống,
với công việc
=> Là hiện thân cho vẻ đẹp của một lớp người đang tích cực góp phần tạo dựng lên cuộc sống mới cho
quê hương, đất nước
2.2 Các nhân vật khác:
Ông họa sĩ:
- Là người từng trải trong nghệ thuật và cuộc sống:
+ Có quan điểm nghệ thuật đúng đắn: bỏ lại sau lưng đô thị phồn hoa để đi tìm cảm hứng sáng tạo cho
mình
+ Nhạy cảm, tinh tế:
- Là người có nhân cách, có cuộc sống nội tâm phong phú, biết yêu cuộc đời, yêu cái đẹp
=> Hội tụ phẩm chất của người nghệ sĩ chân chính: tri thức lịch duyệt, nhân cách đẹp đẽ, khát vọng sáng
tạo nghệ thuật…
Cô kĩ sư: Là nhân vật vừa góp phần tô đậm vẻ đẹp của anh thanh niên, vừa là môt nét vẽ không thể
thiếu về vẻ đẹp của con người mới
- Vẻ đẹp của lí tưởng, của nhiệt huyết tuổi trẻ:
+ Bỏ lại một mối tình nhạt nhẽo, xa gia đình
+ Xung phong công tác ở vùng núi cao
-> Bản lĩnh, nghị lực phi thường
- Vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, khao khát được khám phá, được nhận thức:
+ Nhận ra tình yêu cuộc sống của anh thanh niên, cách ứng xử tự nhiên, chân thành song cũng rất lãng
mạn của anh
+ Nghe câu chuyện của anh, cô nhận ra cuộc sống này thật đáng để yêu, để sống
Trang 6=> Cô cũng xứng đáng là một biểu tượng đẹp về con người mới của văn học giai đoạn này
* Tác động
- Làm những việc mình đam mê sẽ luôn đem đến cho bản thân sự hạnh phúc
- Mỗi người phải có ý thức, trách nhiệm đóng góp, cống hiến cho sự phát triển của đất nước
- Trước mọi khó khăn, thử thách phải có tinh thần lạc quan, có niềm tin vào cuộc sống
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là một khúc tráng ca về lao động và về thiên nhiên đất nước
Câu 1 Cho biết tên tác giả và năm sáng tác của bài thơ đó
Câu 2 Xác định các từ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên ở những câu thơ sau:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng”
Biện pháp tu từ nói quá cùng những hình ảnh giàu sức liên tưởng được sử dụng trong hai câu thơ này
có tác dụng gì?
Câu 3 Ghi lại chính xác câu thơ trong một bài thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh mà em đã được học ở
chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở có hình ảnh con thuyền trong đêm trăng
Câu 4 Viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch làm rõ hình ảnh người lao động
ở khổ thơ dưới dây, trong đó sử dụng phép lặp để liên kết và câu có thành phần phụ chú (gạch dưới từ
ngữ dùng làm phép lặp và thành phần phụ chú)
“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Trang 7Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”
(Trích Ngữ Văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
Phần II (4 điểm)
Sau đây là một phần của cuộc trò chuyện giữa nhân vật Phan Lang và Vũ Nương trong Chuyện người
con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ):
“Phan nói:
- Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử cỏ gai rợp mắt
Nương tử dù không nghĩ đến, nhưng tiên nhân còn mong đợi nương tử thì sao?
Nghe đến đây, Vũ Nương ứa nước mắt khóc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng:
- Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió
bắc, chim Việt đậu cành nam Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày.”
(Trích Ngữ Văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
Câu 1 Phan Lang trò chuyện với Vũ Nương trong hoàn cảnh nào? Từ “tiên nhân” được nhắc tới trong
lời của Phan Lang để chỉ những ai?
Câu 2 Vì sao khi nghe Phan Lang nói, Vũ Nương “ứa nước mắt khóc” và quả quyết “tôi tất phải tìm
về có ngày”?
Câu 3 Em hãy trình bày suy nghĩ khoảng 2/3 trang giấy thi về vai trò của gia đình trong cuộc sống của
mỗi chúng ta
-HẾT - ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2 Phần 1
Câu 1
Phương pháp: căn cứ nội dung bài
Cách giải:
- Tác giả của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là Huy Cận
- Bài thơ được sáng tác năm 1958
Câu 2
Trang 8Phương pháp: căn cứ bài Trường tự vựng
Cách giải:
- Các từ ngữ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên trong hai câu thơ là: gió, trăng, mây, biển
- Biện pháp tu từ nói quá cùng những hình ảnh giàu sức liên tưởng được sử dụng trong hai câu thơ có
tác dụng:
+ Khắc họa hình ảnh con thuyền:
+ Gợi hình ảnh con người trong tư thế đẹp đẽ, không chỉ hòa mình vào thiên nhiên mà con người còn
mang tầm vóc vũ trụ, làm chủ vũ trụ và cuộc đời
Câu 3
Phương pháp: căn cứ nội dung bài học
Cách giải:
Câu thơ trong bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hình ảnh con thuyền trong đêm trăng là:
“Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.”
(Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền)
(Nguyên tiêu – Rằm tháng Giêng)
Câu 4
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Yêu cầu về hình thức:
- Đoạn văn 12 câu theo cách lập luận diễn dịch
- Trong đoạn văn có sử dụng phép lặp để liên kết và câu có thành phần phụ chú (gạch dưới những từ
ngữ dùng làm phép lặp và thành phần phụ chú)
- Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu
* Yêu cầu về nội dung:
Đoạn văn của học sinh đảm bảo những ý chính sau:
Trang 9- Huy Cận là một họa sĩ tài ba: ông sử dụng hình khối và ánh sáng rất điêu luyện khiến cảnh kéo lưới
hiện ra như trong một bức tranh sơn mài rực rỡ Đoạn thơ đã khắc họa hình ảnh con người lao động
khỏe khoắn là trung tâm của bức tranh lao động trong thời gian gần sáng
- Con người đang chạy đua cùng thời gian, kéo lưới cho “kịp” trời sáng, nhịp điệu lao động gấp gáp,
khẩn trương hơn, con người say mê lao động và say mê thiên nhiên
- Vẻ đẹp của ngư dân lao động tụ vào hai chữ “xoăn tay” đầy chất tạo hình, thật gân guốc, chắc khỏe,
gợi những đường cơ bắp cuồn cuộn kéo lên mẻ lưới trĩu nặng cá bạc cá vàng
- Hình ảnh “chùm cá nặng” gợi vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ của người lao động và một mẻ lưới bội
thu, đồng thời gợi sự hào phóng của thiên nhiên ban tặng cho con người
- Câu thơ “Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông” tạo một hiệu quả kép: chữ “lóe” khiến rạng đông như
bừng lên từ vẩy bạc đuôi vàng, sắc cá làm ra sắc trời, mặt khác, rạng đông làm lóe sắc cá màu hồng của
bình minh tưới vào vũ trụ làm ấm bức tranh, vẩy cá, đuôi cá bắt ánh sáng lóe sắc bạc sắc vàng hay là
bạc vàng trong kho trời vô tận thưởng công cho nỗ lực lao động của con người
=> Đoạn thơ khắc họa hình ảnh con người lao động bình dị mà lớn lao, phi thường
Phần 2
Câu 1
Phương pháp: căn cứ nội dung văn bản
Cách giải:
- Hoàn cảnh Phan Lang trò chuyện với Vũ Nương: Phan Lang gặp nạn được Linh Phi cứu và đưa xuống
thủy cung, tại đây Phan Lang đã nhận ra Vũ Nương là người cùng làng và hỏi han Vũ Nương
- Từ “Tiên nhân”
+ Từ “tiên nhân” đầu: chỉ ông cha, tổ tiên
+ Từ “tiên nhân” sau: chỉ Trương Sinh
Câu 2
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải:
Trang 10- Vũ Nương quả quyết tìm về bởi: Nàng vẫn còn lo lắng chuyện gia đình, mồ mả tổ tiên; Vẫn yêu thương
và nhớ mong chồng con; Vẫn mong muốn được rửa sạch mối oan khuất của mình, lấy lại danh dự, nhân
- Gia đình là một trong ba môi trường của xã hội, quyết định trực tiếp tới mặt tự nhiên và xã hội trong
mỗi con người Là nơi để các thành viên sống chân thành với nhau, san sẻ lòng yêu thương, niềm vui,
là điểm dựa vững chắc nhất những lúc chúng ta gặp khó khăn, hay thất bại trong cuộc sống
- Gia đình là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân
và huyết thống, thường gồm có ông bà, cha mẹ, con cái và cháu chắt
b Vai trò của gia đình:
- Gia đình là nơi ta được sinh ra, được nuôi dưỡng trưởng thành
- Gia đình là nơi đầu tiên giúp ta hình thành nhân cách
- Gia đình là nơi bao bọc, che chở cho mỗi con người
- Gia đình là cái nôi, là chốn bình yên cho ta trở về sau những giông bão của cuộc đời
- Gia đình là nguồn động lực, nguồn cổ vũ động viên giúp ta không ngừng phấn đấu
- Gia đình là nơi nâng đỡ, giúp ta vươn đến những ước mơ của cuộc đời
Chỉ ra thành phần biệt lập trong các câu sau và cho biết tên gọi của mỗi thành phần biệt lập đó
(1) Vâng, cháu cũng đã nghĩ như cụ
(Tắt đèn, Ngô Tất Tố)
Trang 11(2) Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thắng hàng
(Viếng lăng Bác, Viễn Phương)
Câu 2: (3.0 điểm) Vận dụng cao
Em hãy viết một đoạn văn nghị luận từ 10 đến 15 câu trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình yêu thương
trong cuộc sống con người
Câu 3: (5.0 điểm) Vận dụng cao
Cảm nhận về tình cha con của ông Sáu và bé Thu trong đoạn trích sau:
Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy
nó đứng trong góc nhà
Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ
đứng nhìn nó Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé
bỗng xôn xao
- Thôi ! Ba đi nghe con ! – Anh Sáu khe khẽ nói
Chúng tôi, mọi người – kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi Nhưng thật lạ lùng, đến lúc
ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba…a…a… ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa Đó là tiếng
“ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu
vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó Tôi thấy
làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên
Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa ! Ba ở nhà với con !
Ba nó bế nó lên Nó hôn ba nó cùng khắp Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má
của ba nó nữa
[…]
Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình
khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con:
Trang 12- Ba đi rồi ba ba về với con
- Không! – Con bé hét lên, hai tay siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó
dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà, Ngữ văn 9, tập 1)
-HẾT - ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 3 Câu 1
a Phương pháp: căn cứ các thành phần biệt lập
- Tình yêu thương là sự sẻ chia, đồng cảm, quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh mình ở cả
phương diện vật chất, tinh thần bằng tấm lòng chân thành nhất
=> Tình yêu thương có sức mạnh to lớn trong cuộc đời mỗi con người
* Bàn luận vấn đề
Trang 13- Tình yêu thương đôi khi chỉ là những cử chỉ, hành động hết sức nhỏ bé: một cái ôm, một lời động viên,
một ánh nhìn trìu mến,…
- Ý nghĩa của tình yêu thương đối với con người:
+ Tình yêu thương đem lại cho ta sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ
+ Giúp đỡ được những người xung quanh sẽ đem lại cho chính bản thân niềm vui, sự hạnh phúc
+ Trong cuộc đời, không phải lúc nào ta cũng suôn sẻ, giúp đỡ người khác lúc này, lúc khác bạn sẽ được
giúp đỡ lại
- Chứng minh
- Phê phán những kẻ vô tâm, thờ ơ trước nỗi đau, sự bất hạnh của người khác
- Liên hệ bản thân: Tình yêu thương của học sinh trước hết là quan tâm, đỡ đần với bố mẹ Thân ái với
bạn bè,…
Câu 3 Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Viết đúng kiểu bài nghị luận văn học
- Lý lẽ rõ ràng, dẫn chứng xác thực
- Văn viết giàu cảm xúc, diễn đạt trôi chảy
- Bố cục ba phần rõ ràng, cân đối
- Trình bày sạch đẹp; ít sai lỗi câu, từ, chính tả
* Yêu cầu về kiến thức: đảm bảo được các ý sau:
1 Giới thiệu chung
- Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014): là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ
- Sinh ra, lớn lên và hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Nam nên các sáng tác của ông hầu như chỉ
xoay quanh cuộc sống con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình
- Chiếc lược ngà được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ Được in trong tập
truyện cùng tên