1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Có quan điểm cho rằng luật sư nhận thù lao từ khách hàng nên chỉ có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của khách hàng, anh chị có đồng ý với quan điểm trên hay không 08

3 132 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 91,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ BÀI KIỂM TRA Họ và tên Sinh ngày Lớp Số báo danh Môn Luật sư và Nghề Luật sư Ngày ĐIỂM NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN Đề bài Có quan điểm cho rằng luật sư nhận thù lao từ khách hàng nên chỉ có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của khách hàng, anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay không? Giải thích tại sao? Bài làm Em không đồng ý với quan điểm luật sư nhận thù lao từ khách hàng nên chỉ có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của khách hàng, bởi vì các lý do được phân t.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

KHÓA ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ

-BÀI KIỂM TRA

Họ và tên:

Sinh ngày:

Môn: Luật sư và Nghề Luật sư Ngày:

Đề bài : Có quan điểm cho rằng: luật sư nhận thù lao từ khách hàng nên chỉ có

nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của khách hàng, anh (chị) có đồng ý với quan điểm trên hay không? Giải thích tại sao?

Bài làm:

Em không đồng ý với quan điểm: luật sư nhận thù lao từ khách hàng nên chỉ có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của khách hàng, bởi vì các lý do được phân tích sau đây

Thứ nhất, Việc nhận thù lao từ khách hàng là việc được trao đổi, thỏa thuận giữ Luật Sư (LS) và khách hàng nhằm mục đích thực hiện một dịch vụ pháp lý trên cơ sở yêu cầu hợp pháp của khách hàng, và chi phí này được ghi nhận tại hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa LS

và khách hàng Không thể coi việc nhận thù lao từ khách hàng là căn cứ duy nhất để xác định nghĩa vụ của Luật Sư trong quan hệ với khách hàng, mà cụ thể ở đây, là thông qua việc thực hiện dịch vụ pháp lý, có thỏa thuận về việc trả thù lao

Thứ hai, theo Quy tắc 5 Bộ Quy Tắc Đạo Đức Và Ứng Xử Nghề Nghiệp Luật Sư Việt Nam 2019: “Luật sư có nghĩa vụ tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định của pháp luật và Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.”

Do vậy, việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng không chỉ dừng lại ở bảo vệ mà phải là bảo vệ tốt nhất, LS phải sử dụng kiến thức chuyên môn, hiểu biết, kỹ năng nghề nghiệp,

Trang 2

kinh nghiệm và bác biện pháp hợp pháp để bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi hợp pháp của khách hàng Quan điểm trên chỉ đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng, mà chưa thể hiện được, việc bảo vệ này phải được thực hiện một cách tốt nhất đồng thời tuân theo những quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, có thể nói rằng việc “bảo vệ tốt nhất”là nhu cầu bao hàm rất nhiều yếu tố khác nhau và có những nhu cầu đích thực bị che lấp do xuất phát từ những nhận thức khác nhau của khách hàng, ví dụ trường hợp khách hàng muốn được Luật Sư bảo vệ quyền lợi của họ bất chấp các biện pháp trái pháp luật, miễn là đạt yêu cầu của họ Tóm lại, Luật Sư thông qua việc làm việc chung với khách hàng phải tìm hiểu, đánh giá tâm

tư, nguyện vọng của khách hàng một cách thấu đáo, đồng thời cũng có nghiã vụ phải chỉ

rõ cho khách hàng biết trước giới hạn trách nhiệm của Luật Sư trước pháp luật và trước khách hàng, không để khách hàng lôi kéo theo những yêu cầu trái pháp luật và trái đạo đức nghề nghiệp

Thứ ba, cũng từ Quy tắc 5 nêu trên, ta có thể thấy rằng, đối tượng cần được Luật Sư bảo

vệ ở đây phải là Quyền lợi hợp pháp của khách hàng theo quy định của pháp luật và Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam Quan đểm trên, chỉ đề cập đến quyền lợi của khách hàng mà không cụ thể quyền lợi này có hợp pháp hay không Luật sư không thể vì thù lao nhận được từ khách hàng, để bảo vệ những lợi ích của khách hàng, mà theo đó, bất chấp các quyền lợi này không phải là lợi ích chính đáng của khách hàng, và trái với các quy định của pháp luật

Luật sư phải nhận diện được và xác định được yêu cầu của khách hàng phải là yêu cầu hợp pháp, tức là những yêu cầu gắn liền với quyền và lợi ích của khách hàng, được xác định dựa trên những căn cứ được pháp luật quy định hoặc hợp với đạo lý, lẽ công bằng thông qua việc tìm hiểu về vụ việc và yêu cầu của khách hàng trên tinh thần chia sẻ, hiểu biết thấu đáo bản chất của vụ việc để tránh các trường hợp Luật Sư bị khách hàng dẫn dắt, lôi kéo vào tình trạng chạy theo khách hàng, phục vụ cho những yêu cầu không chính đáng hoặc không hợp pháp của khách hàng

Theo Quy tắc 13.2.1 Luật sư phải từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc khi có căn cứ xác định khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư để thực hiện hành vi vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức

Theo Quy tắc 13.1.4 Luật sư có thể từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc khi có sự đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần từ khách hàng Áp dụng trong trường hợp khi khách hàng dùng thù lao như là một phương thức để gây áp lực cho Luật Sư trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý, Luật Sư có thể từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc theo Quy tắc này

Thứ tư, Luật sư không chỉ có nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của khách hàng, luật sư còn có các nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Luật Luật Sư và Bộ Quy tắc

Trang 3

xử sự hành nghề luật sư Cụ thể, theo quy định tại điểm a Khoản 12 Điều 1 Luật Luật Sư sửa đổi, bổ sung 2012, Luật sư có các nghĩa vụ tuân theo các nguyên tắc hành nghề luật

sư sau đây:

1 Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

2 Tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.

3 Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.

4 Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

5 Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư.

Từ các phân tích trên, quan điểm đã cho là chưa phù hợp

Ngày đăng: 11/05/2022, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w