Tình huống “Ông Kim Han Jun là người mang quốc tịch Trung Quốc, ông có dự định đến tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam để lập di chúc. Được biết, tài sản ông sẽ định đoạt là số tiền 16 tỷ đồng trong tài khoản mở tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam. Người được ông chỉ định hưởng định hưởng di sản thừa kế là mẹ đẻ của ông. Mẹ đẻ của ông Jun là người mang quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc. Anh (chị) hãy cho biết công chứng viên của Việt Nam có thẩm quyền chứng nhận di chúc của ông Jun hay không? Những khó khăn vướng mắc thường gặp trong công chứng hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài?”
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG CHỨNG 5: CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ VÀ CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG
GIAO DỊCH KHÁC, GIAO DỊCH KHÁC
Tình huống “Ông Kim Han Jun là người mang quốc tịch Trung Quốc, ông có dự định đến
tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam để lập di chúc Được biết, tài sản ông sẽ định đoạt
là số tiền 16 tỷ đồng trong tài khoản mở tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam Người được ông chỉ định hưởng định hưởng di sản thừa kế là mẹ đẻ của ông Mẹ đẻ của ông Jun là người mang quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc Anh (chị) hãy cho biết công chứng viên của Việt Nam có thẩm quyền chứng nhận di chúc của ông Jun hay không? Những khó khăn vướng mắc thường gặp trong công chứng hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài?”
Họ và tên: NGUYỄN QUỐC KHÁNH Sinh ngày 04 tháng 05 năm 1984
Số báo danh: 19 Lớp: CCV KHÓA 24 - HẬU GIANG
Trà Vinh, ngày 10 tháng 05 năm 2022
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của chuyên đề báo cáo 1
2 Tình hình nghiên cứu chuyên đề báo cáo 1
3 Mục tiêu nghiên cứu chuyên đề báo cáo 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề báo cáo 2
5 Giới hạn phạm vi và phương pháp nghiên cứu chuyên đề báo cáo 2
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của chuyên đề báo cáo 3
7 Kết cấu của chuyên đề báo cáo 3
PHẦN 2 4
PHẦN NỘI DUNG 4
Chương 1 4
KHÁI QUÁT CĂN CỨ PHÁP LÝ VỀ VIỆC HỦY HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN 4
1.1 Khái quát chung công chứng văn bản hủy bỏ hợp đồng, giao dịch 4
Chương 2 5
CÔNG CHỨNG VĂN BẢN HỦY HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN THEO QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 8
2.1 Trình tự thủ tục các bước công chứng văn bản hủy hợp đồng ủy quyền (Điều 51 Luật Công chứng năm 2014) 8
2.1.1 Tiếp nhận yêu cầu công chứng: 8
2.1.1.1 Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền (điểm a khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014) 8
2.1.1.2 Dự thảo hợp đồng ủy quyền (điểm b khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014) 9
2.1.1.3 Bản sao các giấy tờ tùy thân của các bên tham gia văn bản hủy hợp đồng ủy quyền(điểm c khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014) 9
Trang 42.2.1.4 Bản chính các hợp đồng ủy quyền mà các bên tham gia ký hợp đồng ủy
quyền lưu giữ 9
2.2.1.5 Bản sao giấy tờ khác liên quan đến văn bản hủy hợp đồng ủy quyền (điểm đ khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014) 9
2.2.1.5.1 Văn bản đồng ý của bên thứ ba (Chị Thủy) 9
2.2.1.5.2 Giấy tờ nhà đất 9
2.1.2 Nghiên cứu và xử lý hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản hủy hợp đồng ủy quyền: 9
2.1.3 Ký công chứng: 11
2.1.4 Hoàn tất thủ tục công chứng: 11
2.2 Trường hợp công chứng hợp đồng mua bán tài sản ngoài trụ sở 12
2.3 Những thủ tục hậu công chứng văn bản hủy hợp đồng ủy quyền 12
Chương 3 13
BÌNH LUẬN ĐỐI VỚI TÌNH HUỐNG HỌC VIỆN ĐẶT RA 13
3.1 Cách xử lý của Công chứng viên trong tình huống Học viện đưa ra 13
3.2 Đưa ra bình luận của mình đối đối với tình huống học viện đặt ra 13
PHẦN 3 19
KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 5PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của chuyên đề báo cáo
Trong chuyên đề báo cáo kết thúc học phần công chứng 5, Công chứng các hợpđồng về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và công chứng các hợp đồng giao dịchkhác.Và đây cũng là báo rất quan trọng vì đây cũng là báo cáo kết thúc một năm học tại
Học viện Tư pháp Lần này Học viện đã đưa ra yêu cầu về tình huống như: “Ông Kim
Han Jun là người mang quốc tịch Trung Quốc, ông có dự định đến tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam để lập di chúc Được biết, tài sản ông sẽ định đoạt là số tiền 16
tỷ đồng trong tài khoản mở tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam Người được ông chỉ định hưởng định hưởng di sản thừa kế là mẹ đẻ của ông Mẹ đẻ của ông Jun là người mang quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc Anh (chị) hãy cho biết công chứng viên của Việt Nam có thẩm quyền chứng nhận di chúc của ông Jun hay không? Những khó khăn vướng mắc thường gặp trong công chứng hợp đồng, giao dịch
có yếu tố nước ngoài? ”.
Như vậy theo tình huống đã đặt ra đối với học viên hai tình huống phải xử lý: Thứnhất là bản di chúc này thực hiện bằng ngôn ngữ nào? Trung Quốc, Hàn Quốc, hay ViệtNam; Thứ hai giữa Việt Nam và Hàn Quốc, Trung Quốc có tương trợ tư pháp haykhông? Từ những dữ liệu tình huống đặt ra học viện nhận thấy chúng ta cần phải tìm hiểu
sâu hơn về “Công chứng di chúc” để đúc kết được những kết quả nghiên cứu đưa ra nhận
định đối với tình huống nêu trên thật chặc chẽ hơn
Từ những vấn đề mà tình huống Học viện đã đưa ra và trên thực tế hoạt động côngchứng về công chứng các hợp đồng về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và côngchứng các hợp đồng giao dịch khác mà học viên xét thấy cần thiết và cấp thiết nghiên cứu
sâu hơn về các vấn đề đã đặt ra ấy trên cơ sở là “Công chứng hợp đồng, giao dịch có yếu
tố nước ngoài” để làm bài báo cáo kết thúc môn công chứng 5 làm cơ sở để Học viện
đánh giá chất lượng học tập và nghiên cứu của học viên
2 Tình hình nghiên cứu chuyên đề báo cáo
Do chuyên đề báo cáo này rất phức tạp vì có rất nhiều vấn đề tình tiết cần xử lý,các qui định pháp luật về việc công chứng về công chứng di chúc Bên cạnh đó hiện tạichưa có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này nên bản thân tác học viên gặp khó khăntrong việc tiếp cận các công trình nghiên cứu trước đó của các anh chị tác giả là học viêncác khóa trước của Học Viện Tư Pháp làm cơ sở nền tảng nghiên cứu cho bản thân họcviên
Trang 63 Mục tiêu nghiên cứu chuyên đề báo cáo
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề này nghiên cứu vấn đề công chứng di chúc, từ
đó trên cơ sở tình huống bài báo cáo công chứng 5 đưa ra
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề báo cáo
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu trên, chuyên đề đặt ra các nhiệm vụ sau đây:Nghiên cứu căn cứ pháp lý qui định về vấn đề công chứng di chúc Từ đó đưa ra nhận xét
xử lý tình huống mà chuyên đề công chứng 5 đặt ra: Thứ nhất là thẩm quyền công chứng,thứ hai là việc công chứng di chúc này gặp những thuận lợi và khó khăn gì và khi đóchúng ta sẽ đi đến đích là công chứng hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài và hướngdẫn trình tự thủ tục công chứng di chúc, vì đề đã đưa ra giả thuyết cho phép công chứng
di chúc có yếu tố nước ngoài Từ những dữ liệu tình huống đặt ra học viện nhận thấy
chúng ta cần phải tìm hiểu sâu hơn về “Công chứng di chúc” để đúc kết được những kết
quả nghiên cứu đưa ra nhận định đối với tình huống nêu trên thật chặc chẽ hơn
5 Giới hạn phạm vi và phương pháp nghiên cứu chuyên đề báo cáo
Phạm vi nguyên cứu: Chuyên đề tập trung nghiên cứu về việc Công chứng công
chứng di chúc Các quy định pháp luật về di chúc Qui trình các bước để công chứng dichúc Chuyên đề này có thể có đối chiếu, so sánh nhưng không nghiên cứu sâu các quiđịnh của pháp luật Việt Nam trong các Nghị định, Quyết định, Nghị quyết, Chỉ đạo,Hướng dẫn,…các chương trình hợp tác quốc tế Đưa ra những nhận định và bình luậnđúng dựa trên cơ pháp lý được qui định trong pháp luật Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu: Có tính chất bao trùm được quán triệt để thực hiện
chuyên đề báo cáo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩaMác - Lê Nin, cụ thể dựa trên cơ sở là việc công chứng di chúc
Chuyên đề báo cáo còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá để làm
rõ cơ sở lý luận việc yêu cầu các bên tham gia hợp đồng, giao dịch phải cung cấp đầy đủ
hồ sơ, các giấy nhân thân, …, dựa trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yêu ở chương 1 để khảo sát khái niệm vàkhái quát chung về việc công chứng di chúc, dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam qui định
Phương pháp phân tích đặt biệt là phân tích được sử dụng chủ yếu ở chương 2 vàchương 3 để nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn trong thực trạng những qui định củapháp luật về Công chứng di chúc Phương pháp phân tích thực tiễn việc hoạt động côngchứng trong việc công chứng di chúc, để khảo sát các vụ việc cụ thể có dấu hiệu vi phạmqui định của pháp luật liên quan
Trang 76 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của chuyên đề báo cáo
Chuyên đề báo cáo này là một công trình nghiên cứu có hệ thống từ lý luận và thựctiễn về việc công chứng di chúc và làm cơ sở nghiên cứu đưa ra các bình luận chất lượng,hiệu quả, hoàn thiện việc công chứng di chúc
Tình huống mà Học viện đưa ra về việc công chứng di chúc Khi nghiên cứu hoànthành đây có thể xem là một trong những công trình chuyên khảo đầu tiên nhằm góp phầnđưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng trong công chứng di chúc, hiệu quả của việcgiúp ích rất to lớn trong việc chỉnh sửa cập nhật pháp luật trong thời gian tới
Với những đóng góp nêu trên bản thân học viên hi vọng chuyên đề báo với tìnhhuống mà Học viện đã đưa ra sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết đối với các anh chịhọc viên công chứng viên tương lai, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, các nhàlàm luật trong việc hoàn thiện pháp luật về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạtđộng công chứng
7 Kết cấu của chuyên đề báo cáo
Chuyên đề báo cáo kết thúc học phần công chứng 3 gồm 03 phần: Mở đầu, Nộidung gồm 03 chương; Chương 1: Khái quát căn cứ pháp lý về di chúc; Chương 2: Côngchứng di chúc theo qui định pháp luật hiện hành; Chương 3: Bình luận đối với tình huống
mà Học Viện đặt ra
Trang 8PHẦN 2 PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CĂN CỨ PHÁP LÝ VỀ DI CHÚC 1.1 Khái quát chung về di chúc.
1.1.1 Khái niệm về di chúc:
Theo Điều 624 Bộ Luật Dân sư năm 2015 thì có khái niệm như sau: Di chúc là sựthể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.Theo đó một người trước khi chết có thể để lại tài sản cho người khác bằng cách lập dichúc
Theo quan điểm của một số nhà khoa học nghiên cứu về pháp luật thời kỳ La Mã:
Di chúc là việc định đoạt tài sản của con người trong trường hợp lúc qua đời với nội dung
có sự chỉ định của người thừa kế Như vậy ở thời kỳ La Mã, di chúc được ghi nhận là việcđịnh đoạt tài sản của con người, trong đó ý chí chính của người để lại di sản về việcchuyển tài sản của mình cho người khác (Người thừa kế) Phải được ghi vào phần đầu của
di chúc Điều này cho thấy pháp luật về di chúc tại Việt Nam hiện hành khi qui định về dichúc cũng phản ánh sự tiếp thu pháp luật thời kỳ La Mã
Quan điểm ở Việt Nam qua các thời kỳ đều cho rằng, di chúc là thể hiện ý chí của
cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết Khái niệm về di chúcđược giữ nguyên từ lần ghi nhận đầu tiên tại Bộ Luật Dân sự năm 1995 cho đến nay là BộLuật Dân sự năm 2015, mặc dù việc sử dụng từ ngữ có thể khác nhau nhưng đều xác định
di chúc là mong muốn, là ý chí, là mục đích dịch chuyển tài sản của người trước khi chếtcho người còn sống sau khi họ chết
Với quan điểm trên di chúc có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, di chúc là phương tiện truyền đạt thông tin Thông qua bản di chúc, cómột lượng thông tin được cấp những người hưởng di sản, số di sản.,
Thứ hai, việc lập di chúc là giao dịch đơn phương, vì chính bản thân di chúc thểhiện ý chí của một cá nhân nhằm phát sinh hậu quả pháp lý, người thừa kế chỉ có thể thểhiện ý chí của mình sau khi người lập di chúc chết, cá nhân lập di chúc có quyền sửa đổi,
bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào Từ những đặc điểm này bản thân di chúc
cơ bản khác so với hợp đồng giao dịch mà có nhiều bên tham gia
Trang 9Thứ ba, nội dung di chúc thể hiện mục đích dịch chuyển di sản của người chết chongười còn sống Ý chí của cá nhân khi lập di chúc sẽ không thể được pháp luật điềuchỉnh, nếu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các chủ thể khác Do đó nội dung dichúc cần phải đảm bảo sự dịch chuyển tài sản và hậu quả phát sinh quyền sở hữu đối vớichủ thể nào đó.
Thứ tư, di chúc là loại giao dịch chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết
Di chúc là phương tiện phản ánh ý chí, mong muốn định đoạt di sản của cá nhân sau khichết Di chúc phản ánh quá trình hình thành chế định thừa kế theo di chúc Quan hệ vềthừa kế chỉ phát sinh khi có sự kiện một người chết nên việc lập di chúc chỉ có thể phátsinh hiệu khi người lập di chúc chết
Thứ năm, di chúc là loại giao dịch có nhiều nét đặc thù Như trên đã phân tích, việclập di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết Do đó có thể khẳng địnhnhững nét đặc thù của việc lập di chúc đều xuất phát từ căn nguyên này Một vài nét đặcthù có thể kể đến như: Điều kiện về người lập di chúc yêu cầu khắc khe hơn so với cácloại giao dịch khác; Tính tự nguyện trong di chúc cũng được loại bỏ các yếu tố nhầm lẫn;
Di chúc trọng hình thức hơn so với các giao dịch thông thường
1.1.2 Di chúc có yếu tố nước ngoài
Di chúc là việc một người muốn chuyển tài sản của mình cho người khác sau khimình chết đi Theo đó, di chúc có di chúc miệng và di chúc bằng văn bản Chỉ khi khôngthể lập bằng văn bản thì mới sử dụng hình thức di chúc miệng Như vậy, di chúc có yếu tốnước ngoài là di chúc có một hoặc một số đặc điểm liên quan đến nước ngoài, cụ thểgồm: Người lập di chúc và người nhận thừa kế theo di chúc là người nước ngoài hoặcngười Việt Nam định cư ở nước ngoài; Địa điểm lập di chúc ở nước ngoài;… Theo quyđịnh tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc được coi là hợp pháp nếu: Người lập dichúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; Người lập di chúc không bị lừa dối, đedọa, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạođức xã hội; Hình thức di chúc không trái quy định của luật Trong đó, di chúc bằng vănbản có thể được công chứng, chứng thực, có người làm chứng hoặc không có người làmchứng; Nếu không có người làm chứng thì người để lại di chúc phải tự viết và ký tên; Dichúc miệng phải có ít nhất 02 người làm chứng và 02 người này phải ký tên, điểm chỉ vàobản di chúc miệng đó Ngoài ra, Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015 nêu rõ, di chúc của côngdân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giaoViệt Nam ở nước đó thì có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực Do đó, nếucông dân Việt Nam đang ở nước ngoài, không có điều kiện để trở về Việt Nam thực hiệnviệc lập di chúc thì có thể đến cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước
Trang 10ngoài để lập di chúc Lúc này, di chúc vẫn có giá trị và được coi là hợp pháp ở Việt Namnếu việc lập di chúc đảm bảo các điều kiện nêu trên.
Trước đây, Điều 649 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, di chúc được lập thành vănbản và người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết và tiếng nói củadân tộc mình Đến Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ quy định về di chúc của ngườidân tộc thiểu số Theo đó, pháp luật chỉ quy định di chúc có thể được lập thành văn bảnhoặc di chúc miệng mà không giới hạn về chữ viết và ngôn ngữ Chính vì vậy, pháp luậthiện hành không có quy định cấm người Việt Nam được lập di chúc bằng tiếng nướcngoài
Khi đó, vẫn có thể lập di chúc bằng tiếng nước ngoài theo đúng trình tự, thủ tụccủa pháp luật Tuy nhiên, nếu di chúc được công chứng, chứng thực thì phải sử dụng ngônngữ tiếng Việt bởi theo qui định tại Điều 6 Luật Công chứng 2014, tiếng nói và chữ viếtdùng trong công chứng là tiếng Việt Lúc này, người yêu cầu công chứng có thể dịch bản
di chúc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và công chứng, chứng thực như bình thườnghoặc có thêm người làm chứng Từ đó ta thấy, nếu di chúc không công chứng, chứng thựcthì có thể dùng ngôn ngữ nước ngoài tuy nhiên vẫn khuyến khích nên dùng tiếng Việt đểtránh nhầm lẫn nội dung di chúc Còn di chúc qua công chứng thì bắt buộc phải là tiếngViệt Không chỉ vậy, khi công bố di chúc, Điều 672 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, dichúc được lập bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và phải có chứng thựchoặc công chứng Như vậy, luật Việt Nam không cấm dùng ngoại ngữ để lập di chúcnhưng khi di chúc có hiệu lực pháp luật thì phải được công chứng, chứng thực và dịch ratiếng Việt để tránh nhầm lẫn về nội dung của di chúc
Không chỉ người để lại di sản có thể lập di chúc ở nước ngoài mà còn có thể để lạitài sản của mình cho người ở nước ngoài hoặc có quốc tịch nước ngoài Bởi, quyền củangười để lại di chúc được quy định tại Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 gồm: Chỉ địnhngười thừa kế; Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; Phân định phần di sản chotừng người thừa kế; Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; Giaonghĩa vụ cho người thừa kế; Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phânchia di sản Bởi thế, việc chỉ định ai làm người thừa kế là quyền của người để lại di chúcnên hoàn toàn có thể để tài sản lại cho người nước ngoài sau khi chết Theo quy định tạiĐiều 625 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc là người thành niên, minh mẫn, sángsuốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép có quyền lập di chúc đểđịnh đoạt tài sản của mình
Theo đó, Điều 681 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hình thức của di chúc được xácđịnh theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập Do đó, không hề có điều khoản nào
Trang 11cấm người nước ngoài không được lập di chúc tại Việt Nam Tuy nhiên, để di chúc đó có
hiệu lực tại Việt Nam thì bắt buộc hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và năng lực pháp luật của người lập di chúc phải phù hợp theo pháp luật của nước người đó có quốc tịch Từ những phân tích trên, nếu muốn lập di chúc có
yếu tố nước ngoài tại tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam thì phải chuẩn bị những
giấy tờ sau: Phiếu yêu cầu công chứng; Giấy tờ về quyền sở hữu tài sản; Dự thảo di chúc
(nếu có); Giấy tờ nhân thân: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài: Giấy tờ chứng minh
về quốc tịch như giấy chứng minh nguồn gốc Việt Nam, giấy chứng nhận có hoặc thôi quốc tịch Việt Nam, các giấy tờ chứng minh được phép nhập cảnh vào Việt Nam…; Người nước ngoài: Các giấy tờ chứng minh được phép nhập cảnh vào Việt Nam, giấy tờ chứng minh về năng lực hành vi như giấy khám sức khỏe, chứng minh nhân dân của người phiên dịch…; Các loại giấy tờ khác.
Với tư cách là công chứng viên học viên xét thấy cần phải hướng dẫn rõ quy trình
mở thủ tục thừa kế theo di chúc tại Việt Nam cũng như các qui định về từng loại tài sản là
di sản cũng như hậu quả pháp lý để người yêu cầu công chứng di chúc nắm rõ Theo quyđịnh tại Thông tư 15/2011/TT-NHNN, nếu tài sản thừa kế theo di chúc là tiền mặt màngười hưởng di sản muốn mang theo ra nước ngoài thì phải khai báo Hải quan nếu trên:
5000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương; 15 triệu đồng Tuy nhiên,nếu mang séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và giấy tờ khác
có giá trị bằng ngoại tệ hoặc tiền đồng Việt Nam thì không cần phải khai báo