ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ 2 ĐỀ TÀI TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO ĐIỀU 168 BLHS 2015 (SỬA ĐỔI BỔ SUNG 2017) Mã lớp học phần CRL1010 1 Giảng viên giảng dạy TS Nguyễn Thị Lan Hà Nội Năm 2022 LỜI NÓI ĐẦU PHẦN I Khái quát chung về tội cướp tài sản (Điều 168) 1 Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản 1 Mặt khách quan 1 Mặt chủ quan 1 Mặt khách thể 2 Mặt chủ thể 2 Mức hình phạt 2 PHẦN II Phân biệt tội cướp tài sản và một số tội khác 4 1 Phân biệt tội cướp tài sản (Điề.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ 2 ĐỀ
TÀI: TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO ĐIỀU 168 BLHS
2015 (SỬA ĐỔI BỔ SUNG 2017)
Mã lớp học phần: CRL1010 1 Giảng viên giảng dạy: TS Nguyễn Thị Lan
Hà Nội - Năm 2022
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: Khái quát chung về tội cướp tài sản (Điều 168) 1
1 Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản 1
1.1 Mặt khách quan 1
1.2 Mặt chủ quan 1
1.3 Mặt khách thể 2
1.4 Mặt chủ thể 2
2 Mức hình phạt 2
PHẦN II: Phân biệt tội cướp tài sản và một số tội khác 4
1 Phân biệt tội cướp tài sản (Điều 168) và tội cướp giật tài sản (Điều 171) 4 2 Phân biệt tội cướp tài sản (Điều 168) và tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) 6
3 Phân biệt tội cướp tài sản (Điều 168) và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172) 7
PHẦN III: Bình luận và đề xuất kiến nghị 8
1 Thực trạng áp dụng 8
2 Ý kiến , phương hướng hoàn thiện 9 KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay,các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội cướp tài sản còn chưa minh bạch, chưa bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, nhất là thiếu quy phạm định nghĩa và một số quy định liên quan đến các yếu tố định tội và định khung hình phạt nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí không thống nhất trong nhận thức về dấu hiệu pháp
lý, đường lối xử lý và thực tiễn định tội danh đối với tội phạm này Do vậy, trong một số
vụ án cụ thể đã có tình trạng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có nhận thức khác nhau về việc định tội và định khung hình phạt khi tiến hành xử lý hình
sự đối với hành vi cướp tài sản Cá biệt, có trường hợp còn nhầm lẫn trong việc xác định tội danh, áp dụng không đúng pháp luật, thậm chí không làm sáng tỏ được ranh giới giữa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác hoặc không phân biệt được sự khác nhau giữa tội cướp tài sản với một số tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác trong Bộ luật hình
sự 2015 như: tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); tội cướp giật tài sản (Điều 171),tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172).Để tiếp tục nghiên cứu, nhận diện đầy đủ và làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về cấu thành tội phạm này cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với tội cướp tài sản làm căn cứ để đề xuất, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự; nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm này, Nhóm 11 xin chọn nghiên cứu đề tài: "Tội cướp tài sản trong bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015"
Trang 4PHẦN I: Khái quát chung về tội cướp tài sản (Điều 168)
1 Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản
1.1 Mặt khách quan
Yếu tố khách quan của tội cướp tài sản được thể hiện dưới các dạng hành vi:
+ Dùng vũ lực: Là dùng sức mạnh vật chất chủ động tấn công người chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc bất kỳ người nào khác ngăn cản việc chiếm đoạt của người phạm tội nhằm ngăn chặn sự phản kháng, làm tê liệt ý chí của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản Hành vi dùng vũ lực thường là đấm, đá, trói, hoặc kèm theo sử dụng các phương tiện, công cụ như dao, súng, các hành vi này phải nhằm vào con người thì mới xác định
là hành vi dùng vũ lực theo quy định của luật.
+ Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: là đe dọa dùng ngay tức khắc sức mạnh vật chất được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ hành động đe dọa sẽ tấn công người quản lý tài sản hoặc những người khác nếu không đáp ứng yêu cầu hoặc có ý định ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội Việc sử dụng vũ lực ngay tức khắc của tội này phải đảm bảo yếu tố làm cho nạn nhân tin rằng việc sử dụng vũ lực sẽ xảy ra và đã được thể hiện ra bên ngoài, việc sử dụng vũ lực là không thể tránh khỏi
+ Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản: những cách thức, thủ đoạn khác mà người phạm tội đã đưa nạn nhân vào một tình trạng không còn khả năng quản lý được tài sản như dùng ete, các loại thuốc ngủ đầu độc nạn nhân,…
Mục đích chiếm đoạt tài sản được xem là mục đích bắt buộc vì vậy tội cướp tài sản này sẽ được xem là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong ba dạng hành vi khách quan trên mà không phụ thuộc vào tài sản đó đã được chiếm đoạt hay chưa
1.2 Mặt chủ quan
Tội cướp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội cướp tài sản Đối với tội cướp tài sản động cơ phạm tội là nhằm mục đích vụ lợi
Trang 51.3 Mặt khách thể
Tội cướp tài sản cùng một lúc xâm phạm hai khách thể chính, nhưng khách thể bị xâm phạm trước là tính mạng, sức khỏe, thông qua việc xâm phạm đến nhân thân mà người phạm tội xâm phạm đến quan hệ tài sản Đây cũng là đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản, nếu chỉ xâm phạm đến một trong hai khách thể xã hội thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của tội cướp tài sản Như vậy, đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội cướp tài sản với các tội khác xâm phạm sở hữu và các tội mà người phạm tội có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản Do tội cướp tài sản cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể chính, nên trong cùng một vụ án có thể có một người bị hại, nhưng cũng có thể có nhiều người bị hại, có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến sở hữu; có người bị hại bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ; có người bị hại bị xâm phạm đến cả tài sản, tính mạng, sức khoẻ
1.4 Mặt chủ thể
Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể thường, là người đủ từ 14 tuổi trở lên, khi thực hiện hành vi phạm tội không bị mắc bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức và có thể điều khiển hành vi của mình Bởi vì, khung hình phạt đối với tội cướp tài sản quy định trong Bộ luật hình sự lên đến chung thân vì vậy được xác định là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 thì nếu người từ
đủ 14 tuổi nhưng dưới 16 tuổi nếu phạm tội quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
2 Mức hình phạt
Mức hình phạt được áp dụng cho tội này gồm 5 khung hình phạt trong đó có 04 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung, ngoài ra BLHS 2015 có quy định 1 khung hình phạt áp dụng cho người chuẩn bị phạm tội Tội cướp tài sản có các khung hình phạt được xác định tại khoản 1 là từ 03-10 năm tù, định khung tăng nặng tại khoản 2 là từ 07-15 năm tù, định khung tăng nặng tại khoản 3 là 12-20 năm tù, định khung tăng nặng tại khoản 4 là từ 18-20 năm tù hoặc chung thân Các hình phạt bổ sung được áp dụng cho tội này bao gồm phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản Đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội thì bị phạt tù từ 01-05 năm
Trang 6So với BLHS 1999, BLHS 2015 đã có những quy định tiến bộ, đảm bảo quyền con người cũng như đảm bảo những chế tài xử lý các hành vi của tội cướp tài sản, BLHS 2015
đã có những sửa đổi, bổ sung thêm các quy định điều chỉnh về tội cướp tài sản này Cụ thể BLHS 2015 đã thay đổi vị trí của một số điểm tại các khoản của tội này so với BLHS
1999, tại khoản 2 điều 168 BLHS 2015 bổ sung thêm các điểm e, g quy định về phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, … cùng với đó là thay thế điểm g của BLHS 1999 Tại khoản 3 điều 168 BLHS 2015 quy định các về trường hợp phạm tội có lợi dụng thiên tai, dịch bệnh và bỏ quy định tại điểm c điều 133 BLHS 1999 về hành vi gây hậu quả rất nghiêm trọng BLHS 2015 đã xóa khung hình phạt tử hình đối với một số tội danh quy định tại bộ luật này trong đó có tội cướp tài sản, tại khoản 4 điều 168 BLHS
2015 quy định khung hình phạt cao nhất là chung thân thay vì tử hình như tại điều 133 BLHS 1999, ngoài ra điều 168 BLHS 2015 bổ sung thêm các điểm c, d và bổ sung hành
vi gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên quy định tại điểm b khoản 4 điều này Tại khoản 5 điều luật này có quy định về khung hình phạt dành cho người chuẩn bị phạm tội, đây được xem là điểm mới, tiến bộ của BLHS 2015 Theo đó người chuẩn bị phạm tội này sẽ áp dụng khung hình phạt từ 1-5 năm tù
Để làm rõ về các yếu tố cấu thành của tội này nhóm em xin đưa ra một số ví dụ để có thể phân biệt qua về tội này:
Ví dụ 1: Chị A vừa rút 100 triệu từ ngân hàng đi ra thì bị B chặn đường ở 1 ngõ
nhỏ, B kề dao vào cổ A đe dọa và yêu cầu chị A đưa túi tiền Chị A run sợ đưa túi tiền cho B B mở ra thì thấy giấy khám bệnh ghi con chị A bị mắc bệnh ung thư Nghĩ chị A cầm tiền đi chữa bệnh cho con, B bỗng rủ lòng thương trả lại chị A túi tiền Hỏi B có phạm tội không?
Căn cứ vào khoản 1 Đ168 BLHS 2015 quy định:
Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm
Trong tình huống này, B đã giơ dao đe dọa chị A và cướp được túi tiền chị A mặc
dù đã trả lại nhưng tội cướp tài sản của B được xác định là đã hoàn thành Đối với tội
Trang 7cướp tài sản chỉ cần người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm
đoạt tài sản thì tội phạm đã hoàn thành cho dù người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản
Trang 8hay chưa, ngoài ra mục đích của B nhằm cướp túi tiền của chị A, mặc dù việc cướp tài sản chưa hoàn thành nhưng B vẫn được xác định là đã phạm tội cướp tài sản Hình phạt được
áp dụng đối với B: phạt tù từ 3 năm đến 10 năm (khoản 1 Đ168 BLHS 2015)
Ví dụ 2: Chị A vừa rút 100 triệu từ ngân hàng đi ra thì bị B chặn đường ở 1 ngõ
nhỏ, B kề dao vào cổ A đe dọa và yêu cầu chị A đưa túi tiền Chị A run sợ đưa túi tiền cho B Đúng lúc C đi qua nhìn thấy và chạy đến khống chế B, B bị bắt và không lấy được túi tiền Hỏi B có phạm tội không?
Như trong ví dụ này B được xác định là đã thực hiện tội phạm cướp tài sản vì hành
vi của B đã thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội này Hành vi của B ban đầu đã có mục đích chiếm đoạt tài sản của chị A Yếu tố khách quan được thể hiện là hành vi dùng dao kề vào cổ đe dọa của B làm chị A rơi vào tình trạng không thể chống cự được và tự nguyện đưa túi tiền cho B Yếu tố lỗi được xác định là lỗi cố ý trực tiếp, mục đích là chiếm đoạt tài sản và động cơ của B được xác định là động cơ vụ lợi Trong ví dụ này mặc dù B không chạy trốn được nhưng hành vi của B được xác định là đã phạm tội cướp tài sản căn cứ vào mục đích ban đầu của B là muốn cướp túi tiền của chị A và hành vi dùng dao kề vào cổ chị A của B thỏa mãn mặt khách quan của tội cướp tài sản
PHẦN II: Phân biệt tội cướp tài sản và một số tội khác
1 Phân biệt tội cướp tài sản ( Điều 168) và tội cướp giật tài sản (Điều 171)
Giống nhau:
Về mục đích: Chiếm đoạt tài sản của người khác
Về mặt chủ quan: Đều mắc lỗi cố ý trực tiếp
Khác nhau:
Khách thể: Hai tội này đều xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản tuy nhiên đối với tội cướp tài sản khách thể bị xâm phạm bao gồm cả quan hệ về tính mạng, sức khỏe của nạn nhân, ở tội cướp giật tài sản có thể không xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng sức khỏe như ở tội cướp tài sản
+ Về yếu tố chiếm đoạt: Đối với tội Cướp tài sản: Chỉ cần hung thủ có mục đích chiếm đoạt và ý chí này phải được thể hiện ra bên ngoài Đối với tội Cướp giật tài sản: Biểu hiện của sự chiếm đoạt phải được thể hiện bằng hành vi
Trang 9Ví dụ: Một người rút vũ khí đe dọa người khác đưa tài sản cho mình, ý chí muốn
chiếm đoạt tài sản của người khác đã được xác định
Ví
dụ : Một người tìm cách áp sát và giật túi xách của người khác Cho dù việc
cướp giật đó có thành hay không, hành vi chiếm đoạt tài sản lúc ấy đã được thực hiện
+ Về yếu tố khách quan của tội phạm
Đối với tội Cướp tài sản: Tội phạm được thực hiện bằng dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực ngay tức khắc hoặc dùng các thủ đoạn làm cho nạn nhân rơi vào trạng thái không chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản
Đối với tội Cướp giật tài sản: Phương thức thực hiện tội phạm sẽ đơn giản hơn, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản để tẩu thoát, chứ không kiểm soát ý chí của nạn nhân quá nhiều
+ Xác định thời điểm tội phạm hoàn thành đối với 2 tội này:
Đối với tội Cướp tài sản: khi một người thực hiện hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” thì cấu thành tội phạm này, bất
kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không Tội cướp tài sản được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện hành vi được mô tả ở trên
Đối với tội Cướp giật tài sản: tội phạm hoàn thành chỉ khi người phạm tội giật được tài sản, nếu có hành động giật nhưng chưa giật được tài sản thì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt
Về khung hình phạt: Do tác động trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của nạn nhân nên tội cướp tài sản vì thế cũng có khung hình phạt nặng hơn Tội cướp tài sản có quy định xử lý hình sự đối với người chuẩn bị phạm tội còn tội cướp giật tài sản thì không Ngoài ra tội cướp tài sản áp dụng một số hình phạt bổ sung đối với người phạm tội
+ Hành vi:
Tội cướp giật tài sản có thể xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác VD: A giật dây chuyền của B, dây chuyền mắc vào áo khiến chiếc áo bị rách toạc giữa đường
Tuy nhiên cũng có những trường hợp, ban đầu người phạm tội đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản nhưng không thành Sau đó người đó lại thực hiện hành vi cướp tài sản, khi ấy người này sẽ bị xem là phạm tội Cướp tài sản
Trang 105
Trang 11Ví dụ: A chạy nhanh qua giật túi xách của B nhưng bị B tóm được, A quay lại chĩa
dao đe dọa rồi tẩu thoát
2 Phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản
Giống nhau
Mặt khách thể: Xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác và quyền nhân thân Mặt chủ thể: Đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự (từ đủ 14 tuổi trở lên) Tuy nhiên đối với cưỡng đoạt tài sản thì “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Theo đó, nếu tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì phải từ đủ 16 tuổi mới chịu trách nhiệm hình sự
Lỗi: Cố ý trực tiếp với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản (mục đích bắt buộc) Loại cấu thành tội phạm: Đều là cấu thành hình thức tức là thời điểm hoàn thành tội phạm là thời điểm thực hiện hành vi không xét đến việc đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa
Khác nhau
Hành vi: Đe dọa dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản có yếu tố “ngay tức khắc”, nó có tính chất mãnh liệt hơn làm cho người bị đe dọa thấy rằng khi bị đe dọa nếu họ không làm theo yêu cầu của người phạm tội thì người phạm tội sẽ dùng vũ lực ngay với mình và
họ sẽ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi, việc này Còn đe dọa dùng vũ lực trong Tội cưỡng đoạt tài sản thì có tính chất nhẹ hơn, người bị đe dọa cảm nhận được giữa hành vi
đe dọa và việc dùng vũ lực có khoảng cách về thời gian
Yếu tố hành vi khác, thủ đoạn khác: Thủ đoạn khác trong Tội cưỡng đoạt tài sản là việc uy hiếp về tinh thần người chủ tài sản, đe dọa gây thiệt hại về mặt danh dự, uy tín, đe dọa hủy hoại tài sản của họ để bắt họ đưa tài sản cho mình Tức là, trong trường hợp này người bị tấn công chỉ bị khống chế về tinh thần do đó vẫn còn khả năng chống cự, còn hành vi, thủ đoạn khác trong Tội cướp tài sản khiến nạn nhân không thể chống cự
Ý chí của nạn nhân: Tội cướp tài sản: Nạn nhân không có sự lựa chọn, bị tê liệt ý chí và tê liệt sự phản kháng, họ buộc phải thỏa mãn yêu cầu của người phạm tội nhằm tránh bị người phạm tội tấn công "tức khắc” Ngược lại, Tội cưỡng đoạt tài sản nạn nhân chưa