1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cấu trúc của nguồn pháp luật ASEAN và vai trò của nguồn bổ trợ

7 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 25,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 1 Khái quát chung về pháp luật cộng đồng ASEAN 3 2 Cấu trúc nguồn pháp luật cộng đồng ASEAN 3 2 1 Nguồn cơ bản 3 2 2 Nguồn bổ trợ 4 3 Vai trò của nguồn bổ trợ ( Luật mềm – soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN 4 KẾT LUẬN 6 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 7 MỞ ĐẦU Trải qua 40 năm tồn tại và phát triển, Cộng đồng ASEAN đã xây dựng một hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật theo hướng chặt chẽ, đúng pháp luật quốc tế, đồng thời có các quy định linh hoạt để p.cấu trúc của nguồn pháp luật ASEAN và vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – soft law) đối với hoạt động hợp tác các nước ASEAN

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trải qua 40 năm tồn tại và phát triển, Cộng đồng ASEAN đã xây dựng một

hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật theo hướng chặt chẽ, đúng pháp luật quốc tế, đồng thời có các quy định linh hoạt để phù hợp với trình độ phát triển và những nét đặc thù của ASEAN Chính vì vậy, pháp luật Cộng đồng ASEAN là công cụ pháp lý điều chỉnh các hoạt động hợp tác của ASEAN trong các lĩnh vực chung trong khu vực, nhưng đồng thời nó cũng mang tính chất của pháp luật của tổ chức quốc tế liên chỉnh phủ, mang bản chất của pháp luật quốc tế

Cấu trúc nguồn của pháp luật ASEAN đã có vai trò rất to lớn trong hoạt

động hợp tác của các nước ASEAN Bài viết này e xin chọn đề tài “ Phân tích cấu

trúc của nguồn pháp luật ASEAN và vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – soft law) đối với hoạt động hợp tác các nước ASEAN”.

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái quát chung về pháp luật cộng đồng ASEAN.

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN do năm quốc gia thành viên sáng lập trên cơ sở tuyên bố Bangkok (1967) Tới nay ASEAN đã có 10 quốc gia thành viên Tại hội nghị cấp cao lần thứ 9 năm 2003 đã thông qua Tuyên bố hòa hợp ASEAN chính thức thành lập cộng đồng ASEAN Việc thành lập cộng đồng ASEAN có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành và phát triển của ASEAN Hoạt động của ASEAN được điều chỉnh bởi hệ thống phát luật của cộng đồng ASEAN | Pháp luật cộng đồng ASEAN được hiểu là là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN, phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh, và văn hóa - xã hội Như vậy, phạm vi điều chỉnh của pháp luật cộng đồng ASEAN là quan hệ các giữa các quốc gia trong cộng đồng ASEAN phát sinh trong tất cả các lĩnh vực bao gồm kinh tế, chính trị, an ninh và văn hóa xã hội,

do vậy, pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng được phân chia thành ba lĩnh vực chính: Luật Cộng đồng chính trị an ninh, Luật cộng đồng kinh tế và luật Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN Khái quát về công pháp quốc tế Công pháp quốc tế

là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật được quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mội lĩnh

vự của đời sống quốc tế

2 Cấu trúc nguồn pháp luật cộng đồng ASEAN

Nguồn luật là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật Cũng như công pháp quốc tế, pháp luật cộng đồng ASEAN cũng có hai loại nguồn cơ bản là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ hay nguồn phái sinh

2.1.Nguồn cơ bản

Nguồn luật cơ bản chính là các điều ước quốc tế Điều ước quốc tế được hiểu là thỏa thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào thỏa thuận đó được ghi chép trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện

có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó"

Trang 4

Các điều ước quốc tế là nguồn của công pháp quốc tế cũng như của ASEAN được thể hiện ở những tên gọi như hiến chương, hiệp ước, nghị định thư, tuyên bố, Nội dung của điều ước quốc tế là những nguyên tắc, quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên kí kết, có giá trị pháp lí ràng buộc đối với các bên Những nguyên tắc, quy phạm này phải được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là bình đẳng

và tự nguyện

Nguyên tắc thực hiện, Một là, theo nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (nguyên tắc Pacta Sunt Servanda) Tiền thân của nó là nguyên tắc Tuân thủ điều ước quốc tế xuất hiện từ thời La mã cổ đại và tồn tại hàng ngàn năm dưới dạng tập quán pháp lý quốc tế trước khi được ghi nhận chính thức trong điều ước quốc tế Đây là nguyên tắc được ghi nhận trong hầu hết các văn bản pháp luật quan trọng của luật quốc tế: Khoản 2 điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định "tất cả các thành viên Liên hợp quốc thiện chí thực hiện các nghĩa vụ do Hiến chương đặt ra“; Công ước Viên năm 1969 quy định "mỗi điều ước quốc tế hiện hành đều ràng buộc các bên tham gia và đều được các bên thực hiện một cách thiện chí“; Tuyên bố 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế cũng ghi nhận nguyên tắc này

Hai là, nguyên tắc thi hành hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế trên phạm vi lãnh thổ quốc gia thành viên Điều 29 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế ghi “Một điều ước ràng buộc mỗi quốc gia thành viên trong phạm vi toàn

bộ lãnh thổ của quốc gia thành viên đó” trừ trường hợp có thỏa thuận khác Các quy định về các nguyên tắc áp dụng điều ước quốc tế đảm bảo các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật quốc tế vừa tạo điều kiện cho các quốc gia sử dụng điều ước quốc tế để điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong đời sống quốc tế

Nguồn cơ bản có giá trị pháp lí bắt buộc đối với các thành viên kí kết hoặc tham gia điều ước

2.2.Nguồn bổ trợ

Nguồn bổ trợ (nguồn phái sinh) bao gồm khuyến nghị của các nhóm đặc trách cấp cao, thông cáo báo chí của các thiết chế cộng đồng, các văn bản này chỉ mang tính chất tham khảo, không có giá trị bắt buộc chung đối với các quốc gia thành viên, làm cơ sở để hình thành nên điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau

Trang 5

nghĩa vụ đối với nhau Điều ước quốc tế được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: Hiến chương, Hiệp ước, Công ước, Nghị định thư, tuyên bố, thông báo, tạm ước

3 Vai trò của nguồn bổ trợ ( Luật mềm – soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN

Được áp dụng điều chỉnh các mối quan hệ trong ASEAN: Thực tế thì nguồn

bổ trợ chỉ cần thỏa thuận sau đó được ký kết từ các chủ thể tham gia là được hình thành và được áp dụng nhanh, từ đó kịp thời áp dụng điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng ASEAN góp phần thúc đẩy hoạt động hợp tác của các nước ASEAN

Theo một trong những nguyên tắc khi ký kết nguồn bổ trợ dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng và tận tâm Nhưng thực tế vẫn có một số quốc gia không tham gia việc ký kết nhưng vẫn thực hiện theo những quy định về nghĩa vụ của Điều ước quốc tế Điều này chứng tỏ rằng Điều ước quốc tế được coi là cách xử sự chung được áp dụng phổ biến

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, nguồn bổ trợ của pháp luật ASEAN là một trong những công cụ hiệu quả nhất mà các quốc gia có thể sử dụng

để thiết lập các quan hệ đối ngoại Chính vì thế, trong pháp luật các nước nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng, nguồn bổ trợ đóng một vai trò quan trọng và thường được ưu tiên áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột giữa các vấn đề trong khu vực Các nhóm đặc trách cấp cao, thông cáo báo chí của các thiết chế cộng đồng trong ASEAN sẽ thu thập các thông tin và đưa ra các khuyến nghị có ích cho các bên tham gia để tham khảo, thảo luận là đánh giá Từ đó các bên có liên quan sẽ đưa ra ý kiến của mình Thông qua nguồn bổ trợ các thành viên dễ đạt được những lợi ích cũng như các hoạt động hợp tác khu vực với các nước, thúc đẩy hoạt động phát triển các nước trong khu vực ASEAN

Việc nguồn bổ trợ của ASEAN không có giá trị bắt buộc nhằm tránh xảy ra xung đột ý kiến giữa các nước trong khu vực khi không đồng ý với các ý kiến mà nhóm đặc trách cấp cao, thông cáo báo chí của các thiết chế cộng đồng trong ASEAN đưa ra

Do vậy, nguồn bổ trợ của ASEAN muốn có tác dụng góp phần thúc đẩy hoạt động hợp tác phát triển các nước trong khu vực thì các bên tham gia phải trên cơ sở

tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi

Trang 6

KẾT LUẬN

Từ cấu trúc của nguồn pháp luật ASEAN có thể thấy pháp luật Cộng đồng ASEAN mang bản chất luật quốc tế Pháp luật Cộng đồng ASEAN nói riêng và luật quốc tế nói chung đều hình thành trên cơ sở ý chí và thỏa thuận của các quốc gia, được các quốc gia tôn trọng và đảm bảo thực hiện vì lợi ích quốc gia và lợi ích chung của cả cộng đồng Vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm – soft law) đã tác động sâu sắc và góp phần lớn trong thúc đẩy hoạt động hợp tác các nước trong khu vực ASEAN

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

https://text.123doc.net/document/3401181-so-sanh-phap-luat-cong-dong-asean-voi-cong-phap-quoc-te-va-luat-lien-minh-chau-au.htm

https://text.123doc.net/document/5329666-phan-biet-nguon-cua-phap-luat-cong-dong-asean-voi-nguon-cua-luat-lien-minh-chau-au-ly-giai-su-khac-biet-nay.htm

https://text.123doc.net/document/4776609-thong-qua-dac-diem-va-he-thong- nguon-cua-phap-luat-cong-dong-asean-chung-minh-rang-phap-luat-cong-dong-asean-mang-ban-chat-luat-quoc-te.htm

Ngày đăng: 11/05/2022, 15:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w