1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phòng chống tội phạm công nghệ cao đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp

19 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 504,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở phân tích những điểm mới của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, so sánh với các quy định của pháp luật hình sự trước đây, bài viết xác định được tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Trên cơ sở xác định được nhóm tội phạm này vừa mang đặc điểm và tính chất của tội phạm xuyên quốc gia, vừa xâm hại tới nhiều quan hệ xã hội khác nhau, bài viết cũng sẽ đề xuất một số giải pháp có tính khoa học và thực tiễn góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp hình sự.

Trang 1

185

PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO ĐÁP ỨNG NHU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Hà Lệ Thủy

TÓM TẮT: Tội phạm công nghệ cao hay còn được gọi là tội phạm mạng chính là các

tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo quy định của pháp luật hình sự Tính mới của loại tội phạm này thể hiện ở chỗ các tội phạm này luôn gắn với các thiết bị công nghệ cao, đòi hỏi người thực hiện phải có kiến thức về máy tính và có sự cập nhật liên tục về sự thay đổi và phát triển của khoa học công nghệ Do đó, chủ thể phát hiện

và xử lý tội phạm cũng đòi hỏi phải là người am hiểu, có kiến thức hoặc kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghệ thông tin Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm

2017 đã có những quy định mới và tội phạm hóa một số hành vi liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin Điều đó cho thấy sự quan tâm và chú trọng của nhà nước đến việc đấu tranh phòng chống các tội phạm công nghệ cao và cũng cho thấy được chính sách của Nhà nước trong việc tăng cường bảo vệ an ninh mạng vốn có sự ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh khu vực và thế giới

Trên cơ sở phân tích những điểm mới của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, so sánh với các quy định của pháp luật hình sự trước đây, bài viết xác định được tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh trong lĩnh vực công nghệ thông tin Trên cơ sở xác định được nhóm tội phạm này vừa mang đặc điểm và tính chất của tội phạm xuyên quốc gia, vừa xâm hại tới nhiều quan hệ xã hội khác nhau, bài viết cũng sẽ đề xuất một số giải pháp có tính khoa học và thực tiễn góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp hình sự

Từ khóa: an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao, tội phạm

trong lĩnh vực công nghệ thông tin

ABSTRACT: High-tech crime, also known as cybercrime, is crimes in information technology and telecommunications networks in accordance with the criminal law The novelty of this type of crime is reflected in the fact that these crimes are always associated

TS GVC Phó Trưởng Khoa Luật hình sự, Trường Đại học luật, Đại học Huế; Email:

thuyhl@hul.edu.vn

Trang 2

186

with high-tech equipment, requiring the operator to have knowledge of computers and to have constant updates on the changes and development development of science and technology Therefore, criminal detection and handling entities are also required to be knowledgeable, knowledgeable or experienced in the information technology field The Vietnam Criminal Code 2015 amended and supplemented in 2017 had new regulations and criminalized a number of acts related to the information technology sector This shows the attention and attention of the state to the fight against high-tech crimes and also shows that the State's policy in enhancing cybersecurity protection has an impact small to regional and world security

Based on the analysis of new points of the Vietnam Penal Code on crimes in the information technology sector, compared with previous criminal law provisions, the article identifies the importance of security protection in the information technology sector On the basis of determining that this criminal group has the characteristics and nature of transnational crime and harms many different social relations, the article will also propose

a number of scientific solutions, the article will also propose a number of scientific and practical solutions to contribute to the criminal justice reform

Keywords: non-traditional security, cybersecurity, high-tech crime, information

technology crime

1 Khái niệm tội phạm công nghệ cao

Từ trước đến nay, nghiên cứu các tài liệu pháp lý, có thể thấy rằng, hầu hết các tài liệu đều nhắc đến và sử dụng các thuật ngữ khác nhau khi đề cập đến tội phạm công nghệ cao Chẳng hạn các thuật ngữ như: tội phạm máy tính (computer crime), tội phạm mạng (cybercrime), tội phạm sử dụng công nghệ cao (high-tech crime) được dùng để chỉ tội phạm

có yếu tố công nghệ cao Do đó việc xác định tội phạm công nghệ cao là như thế nào, được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp có có ý nghĩa nhất định, để từ đó xác định được mục đích phòng ngừa cho phù hợp

Với việc sử dụng thuật ngữ “tội phạm công nghệ cao”, hiện nay luật pháp của nhiều nước trên thế giới như Australia, Mỹ, Anh đã có định nghĩa liên quan đến tội phạm này Chẳng hạn như trong luật hình sự năm 1995 của Australia quy định tội phạm công nghệ cao

Trang 3

187

“là sự xâm nhập máy tính một cách trái phép; sự sửa đổi trái phép dữ liệu bao gồm việc phá hủy dữ liệu; tấn công từ chối dịch vụ (DoS); Tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DdoS) có sử dụng botnets; tạo ra và phân phối phần mềm độc hại”1 Tội phạm công nghệ cao được hiểu

là những hành vi phạm pháp có chủ đích đối với một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức nào đó, gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của nạn nhân hoặc gây hại về mặt vật chất hoặc tinh thần cho nạn nhân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng những công nghệ hiện đại liên quan đến mạng viễn thông như Internet (việc này cũng bao gồm các nhóm chat, email, mạng xã hội, ) và điện thoại (các công nghệ Bluetooth, 3G, SMS, MMS, 2

Với việc sử dụng thuật ngữ tội phạm máy tính, trong các tài liệu nước ngoài, trước đây các nhà khoa học sử dụng thuật ngữ tội phạm máy tính hay tội phạm mạng để chỉ những hành vi vi phạm luật hình sự được thực hiện trên mạng máy tính Các nhà tội phạm học trên thế giới đã đưa ra khái niệm: tội phạm máy tính là các hành vi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự hoạt động của máy tính, mạng máy tính, các thiết bị ngoại vi, các cơ sở dữ liệu, các quá trình điều khiển dựa trên sự hoạt động của các thiết bị tin học nhằm mục đích phá hoại, lừa đảo, che dấu, đánh cắp thông tin Các hành vi lạm dụng máy tính, mạng máy tính

để tiến hành những hoạt động gây nguy hại cho xã hội.3

Việc sử dụng máy tính ngày càng rộng đã dẫn đến tội phạm liên quan đến máy tính phát sinh Trong khoảng thời gian tồn tại của internet, nhiều thay đổi đã xảy ra khiến cho cho các pháp nhân, cá nhân đã có những cách thức giao dịch mới bằng hình thức trực tuyến, đặc biệt thông qua phương tiện truyền thông xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích rõ ràng của việc sử dụng internet, điều này cũng dẫn đến việc tạo ra một loạt các hoạt động tội phạm, khiến cho người dùng gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm Các dạng tội phạm này được thực hiện nhằm hướng tới việc lừa đảo cá nhân, tổ chức, xâm nhập và làm phá vỡ hệ thống tài chính ngân hàng để thu lợi nhuận, thậm chí tấn công trẻ em, bóc lột tình dục trẻ em hay làm gián đoạn các dịch vụ trực tuyến Bọn tội phạm đã thành công trong việc chuyển đổi tội phạm theo hình thức truyền thống thành tội phạm hiện đại được thực hiện một cách dễ dàng

1 Xem Hoàng Việt Quỳnh, Một số trao đổi về tội phạm sử dụng Công nghệ cao theo quy định của pháp luật

Việt Nam,Tạp chí Khoa học giáo dục cảnh sát nhân dân, số 79, tháng 8/2016

2 Halder, D., & Jaishankar, K (2011), Cyber crime and the Victimization of Women: Laws, Rights, and Regulations. Hershey, PA, USA: IGI Global ISBN 978-1-60960-830-9

3 Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr.507

Trang 4

188

thông qua thiết bị điện tử là một máy tính xách tay hay một chiếc điện thoại thông minh Rõ ràng là mạng internet cũng đã là mảnh đất màu mỡ cho bọn tội phạm sử dụng, lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội hoặc để che giấu hành vi, che giấu danh tính của bọn chúng Điều này đã làm gia tăng đáng kể các tội phạm tình dục và tài chính, lừa đảo, trộm cắp rửa tiền…

Ở châu Âu, các nước cũng đã có những chính sách và chiến lược chống lại tội phạm công nghệ cao Đây được xem là một trong những loại tội phạm có tổ chức thậm chí còn có yếu tố xuyên quốc gia Các nước G8 cũng đã đưa ra bản thỏa thuận về Nguyên tắc và kế hoạch hành động để chống lại tội phạm công nghệ cao trong đó có 10 nguyên tắc về tội phạm công nghệ cao, 25 khuyến nghị về tội phạm có tổ chức Trong khi đó, Hội đồng châu

Âu (EU) cũng đã thành lập ủy ban chuyên gia về tội phạm trong không gian mạng vào tháng 2/1997, tức là chỉ một thời gian ngắn sau khi nhóm G8 đưa ra các khuyến nghị nói trên và ban hành Công ước của Hội đồng châu Âu về tội phạm mạng Các tổ chức này đã liên kết với nhau vì có cùng chung quan điểm và mối quan tâm hàng đầu đến tội phạm công nghệ cao, sau đó đã đi đến cuộc họp về “hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc chiến chống lại tội phạm tham nhũng, rửa tiền, tội phạm công nghệ cao, bóc lột tình dục, tội phạm có tổ chức” dưới sự chủ trì của Vương quốc Anh (chủ tịch EU) và tháng 3/19984 Có thể nói rằng, công ước của Hội đồng châu âu về tội phạm mạng là thành tựu có ý nghĩa nhất thể hiện phản ứng của quốc tế đối với loại tội phạm này Mục tiêu của công ước là đảm bảo sự hài hòa trong luật hình sự của các nước trong việc quy định tội phạm, đồng thời đưa ra quy chế nhằm thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình xử lý tội phạm, nhất là tội phạm mạng có tính chất xuyên quốc gia

Ở Việt Nam, cho đến hiện nay không có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm

về loại tội phạm này Trong cuốn sách Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, một trong ít công trình sớm nhất nghiên cứ về tội phạm công nghệ cao, tác giả đã cho rằng: Tội

phạm sử dụng công nghệ cao là một loại tội phạm mới đã và đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế, an ninh, quốc phòng ở nhiều nước trên thế giới.5 Hay “Tội

phạm sử dụng công nghệ cao là tội phạm sử dụng những thành tựu công nghệ cao làm công

4 Hans Joachim Schneider (2009), Internationales Handbuch der Kriminologie, Band 2: Besondere probleme

der Kriminologie, De Gruvter Recht, Berlin

5 Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr.506

Trang 5

189

cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội” 6 Cách định nghĩa này mang tính chung chung Trong một số công trình nghiên cứu khác, các tác giả cũng đã cố gắng đưa ra khái

niệm về tội phạm này một cách cụ thể hơn Chẳng hạn như, tội phạm sử dụng công nghệ cao

là “Tội phạm được thực hiện bằng việc cố ý sử dụng tri thức, kỹ năng, công cụ, phương tiện

công nghệ thông tin ở trình độ cao tác động trái pháp luật đến thông tin số được lưu trữ, xử

lý, truyền tải trong hệ thống máy tính, xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin, gây tổn hại lợi ích của Nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân”7

Hay, tội phạm sử dụng công nghệ cao là tội phạm sử dụng tri thức, kỹ năng, công cụ, phương tiện công nghệ ở trình độ cao tác động trái pháp luật đến thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số, xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin, có thể gây tổn hại tới quyền và các lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, quốc gia8

Theo Khoản 1 điều 3 Nghị định số 25/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 4

năm 2014 quy định: “Tội phạm có sử dụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội

được quy định trong Bộ luật Hình sự có sử dụng công nghệ cao” Đồng thời tại khoản 1 điều

3 của Luật Công nghệ cao năm 2008 quy định: Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng

cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học

và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có

Như vậy có thể nhận xét rằng, hiện nay có nhiều cách gọi và sử dụng thuật ngữ khác nhau để đề cập đến tội phạm có yếu tố công nghệ cao tùy thuộc vào cách tiếp cận và đánh giá về bản chất của hành vi phạm tội Dưới góc độ bài báo, tác giả cho rằng, việc sử dụng thuật ngữ tội phạm công nghệ cao cũng có tính bao quát Nó đang được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật có liên quan và là xu hướng sử dụng của các nước trên thế giới

hiện nay Chính vì vậy, có thể rút ra khái niệm về tội phạm công nghệ cao như sau: Tội

6 Cao Anh Đức, Tính chất của tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam, thủ đoạn phạm tội và

dự báo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 16(296), tháng 8/2015

7 Hoàng Việt Quỳnh, Một số trao đổi về tội phạm sử dụng Công nghệ cao theo quy định của pháp luật Việt

Nam,Tạp chí Khoa học giáo dục cảnh sát nhân dân, số 79, tháng 8/2016

8 Đinh Thế Hưng, Lê Thị Hồng Xuân, Tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng ở

Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tòa án nhân dân số 7 năm 2019

Trang 6

190

phạm công nghệ cao là tội phạm có sử dụng các thiết bị công nghệ, thiết bị số để thực hiện hành vi phạm tội làm xâm phạm đến an ninh mạng máy tính, điện tử, viễn thông hoặc xâm hại đến những lĩnh vực khác có liên quan

2 Tội phạm công nghệ cao theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành

Nghị quyết 49/NQ TW về chiến lược cải cách tư pháp (Nghị quyết 49) đã đề ra các nhiệm vụ cải cách tư pháp trong đó có nhiệm vụ hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự,

pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp tại mục 2.1 Cụ thể là: Sớm hoàn thiện hệ thống

pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế9 Với nhiệm vụ này, có thể thấy chính sách hình sự rõ ràng và nhất quán trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự bằng việc tội phạm hóa, hình sự hóa các hành vi nguy hiểm cho

xã hội mới xuất hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực công nghệ

đã được nêu rõ trong Nghị quyết 49

BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 ra đời thay thế BLHS năm 1999 sửa đổi đã

có những sửa đổi, bổ sung đáng kể, trong đó có những điểm mới liên quan đến tội phạm công nghệ cao Trên cơ sở nhận thức về các hành vi phạm tội liên quan đến công nghệ cao, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước, có thể phân tội phạm này làm hai nhóm: nhóm các tội phạm có liên quan trực tiếp đến công nghệ cao hay còn gọi là nhóm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nhóm các tội phạm có dấu hiệu lợi dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội

a Nhóm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Đây là nhóm tội sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông gây tổn hại tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính khả dụng của hệ thống máy tính, là những tội thuần túy xâm phạm đến trật tự an toàn trong lĩnh vực công nghệ thông tin Trong khi BLHS

1999 chỉ quy định 5 tội danh liên quan trực tiếp đến tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin thì BLHS 2015 đã dành riêng một mục để quy định về nhóm tội này tại mục 2 chương XXI, BLHS với 9 tội danh

9 Xem Nghị quyết sô 49/NQ-TW Đảng ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách đến năm

2020

Trang 7

191

Bảng so sánh quy định của BLHS 1999 với BLHS 2015 về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông 10

Điều 285 Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm

để sử dụng vào mục đích trái pháp luật Điều 224 Tội tạo ra và lan truyền, phát

tán các chương trình vi - rút tin học

Điều 286 Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử Điều 225 Tội vi phạm các quy định về

vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy

tính điện tử

Điều 287 Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử

Điều 226 Tội sử dụng trái phép thông tin

trên mạng và trong máy tính

Điều 288 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông

Điều 226a.Tội truy cập bất hợp pháp vào

mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng

Internet hoặc thiết bị số của người khác

Điều 289 Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác

Điều 226b.Tội sử dụng mạng máy tính,

mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết

bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Điều 290 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Điều 291 Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin

về tài khoản ngân hàng Điều 293 Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh

Điều 294 Tội cố ý gây nhiễu có hại

10 Xem Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2019 và Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm

2017

Trang 8

192

Chúng tôi cho rằng, việc mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với tội phạm mà trước đó

đã được quy định trong BLHS 1999 (Điều 226b) hay việc tội phạm hóa một số hành vi mới trong BLHS 2015 (Điều 285, Điều 291, Điều 293, Điều 294) cùng với việc quy định thành một mục riêng cho thấy được tính chất và mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này, đồng thời cũng cho thấy được sự chủ động kịp thời trong chủ trương và chính sách của nhà nước

về đấu tranh và xử lý đối với nhóm tội phạm này

Một điểm mới nữa đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm này, đó chính là việc xây dựng các dấu hiệu định lượng thiệt hại trong cấu thành tội phạm Có thể nói rằng việc quy định dấu hiệu định lượng trong cấu thành các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin xuất phát từ nhu cầu thống nhất về nhận thức và áp dụng các quy định về dấu hiệu định tội và định khung hình phạt để xác định tội phạm và khung hình phạt, đối với những cấu thành tội phạm mô tả định tính thiệt hại do tội phạm gây ra11 Trong khi đó, hậu quả của tội phạm là thiệt hại gây ra cho quan hệ xã hội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có thể là những thiệt hại đó vô cùng lớn, những thiệt hại đó cần phải xác định ở mức độ cụ thể để từ đó làm căn cứ xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm BLHS 1999 chỉ quy định dấu hiệu hậu

quả mang tính chất định tính “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc thậm chí không quy định dấu hiệu hậu quả mà chỉ có hành vi cộng với dấu hiệu nhân thân “đã bị xử lý kỉ luật, xử phạt

hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” làm dấu hiệu định tội Điều này đã khiến cho cơ

quan tiến hành tố tụng khó có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội vì khó có thể chứng minh được dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng là như thế nào Trên cơ sở thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp, BLHS 2015 đã thay thế dấu hiệu định tính nói trên bằng các dấu hiệu có tính định lượng đồng thời cũng là các

dấu hiệu để định tội hoặc định khung hình phạt như: “thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở

lên”, “gây thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên”, “lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử trở lên”… Việc cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả cùng với các dấu hiệu định tội, định khung khác là

điều cần thiết và qua đó tránh được các trường hợp truy tố oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm

11Nguyễn Quý Khuyến, Dấu hiệu định lượng thiệt hại của các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo Bộ luật hình sự năm 2015, Tạp chí Kiểm sát số 18/2017

Trang 9

193

Bên cạnh việc xây dựng các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo hướng cụ thể hơn, sự thay đổi các chế tài xử lý nhóm tội này cũng đáp ứng được đòi hỏi của xã hội Trong các

nhiệm vụ cải cách tư pháp, vấn đề “Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình

phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm”12 cũng được đặt ra Chính vì vậy, BLHS 2015 đã có những thay đổi đáng kể trong việc quy định mức hình phạt tiền, mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền không chỉ đối với tội ít nghiêm trọng mà còn đối với tội nghiêm trọng tại khoản 2 của các điều 285, 286, 287, 289 và 291, nâng mức phạt tiền tối thiểu lên cao Có thể nói rằng, các hình phạt chính không tước tự do có vai trò quan trọng không chỉ bảo đảm nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt mà còn thể hiện được rõ chính sách nhân đạo của luật hình sự Việc tăng cường hiệu quả của các hình phạt không tước tự do trong đó có hình phạt tiền đã đạt được mục tiêu tiếp tục tăng cường chính sách nhân đạo, tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội đã được thể hiện trong Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị

b Nhóm tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội

Hiểu theo nghĩa rộng thì đây là những tội phạm có liên quan đến công nghệ cao Đây là những tội phạm có sử dụng thiết bị máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông làm công cụ, phương tiện phạm tội Các tội phạm này được quy định ở các chương khác nhau mà dấu hiệu sử dụng công nghệ cao để phạm tội không được coi là dấu hiệu bắt buộc nên khi định tội vẫn theo các tội danh đó Tuy nhiên, rõ ràng là công nghệ thông tin, máy tính và mạng máy tính có vai trò, mức độ nhất định trong việc thực hiện, che giấu và gây ra những hậu quả tác hại đối với xã hội của hành vi phạm tội, do vậy việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội phải được coi là dấu hiệu tăng nặng phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cao hơn so với các hành vi thông thường của các tội phạm truyền thống

Xuất phát từ cơ sở thực tiễn của các hành vi phạm tội này trong thời gian qua, có thể nhận thấy rằng, một số loại tội phạm đã sử dụng công nghệ cao vào việc phạm tội thay vì cách thức phạm tội theo kiểu truyền thống trước đây khiến cho việc phát hiện, điều tra và xử

lý tội phạm gặp nhiều khó khăn Chính vì thế, để đánh giá tình hình tội phạm công nghệ cao, việc đánh giá các tội phạm truyền thống có sử dụng công nghệ cao làm phương tiện, công cụ

12 Xem Nghị quyết sô 49/NQ-TW Đảng ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách đến năm

2020

Trang 10

194

phạm tội cũng là điều cần thiết Các tội phạm đó có thể là các tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, thuế, chứng khoán, bảo hiểm hay các tội xâm phạm sở hữu Đặc biệt là nhóm tội xâm phạm tình dục trong thời gian qua cũng đã cho thấy, không chỉ là những phương thức thủ đoạn phạm tội thông thường mà còn sử dụng thiết bị mạng máy tính, thiết bị số, viễn thông qua đó dễ dàng thực hiện tội phạm

Khi nghiên cứu các tài liệu của một số quốc gia về tội phạm sử dụng công nghệ cao, chúng tôi nhận thấy rằng, động cơ của tội phạm công nghệ cao có thể có và sẽ khác nhau tùy thuộc vào bản chất của tội phạm Các hành vi liên quan đến khiêu dâm có động cơ từ sự ham muốn, các hành vi xâm hại đến tài sản có động cơ từ sự mong muốn gây ra mất mát, thiệt hại cho người khác hoặc các hành vi hủy hoại, phá vỡ trang web của tổ chức, hành vi xâm hại hệ thống máy tính của một cá nhân có động cơ từ sự bất mãn và mong muốn trả thù Hoặc khác biệt hơn, có thể hành vi của tội phạm máy tính đến từ những đối tượng là những kẻ thách thức, kẻ nổi loạn, kẻ tò mò chỉ có thể với động cơ muốn được khám phá, muốn được phiêu lưu và muốn được mọi người biết đến Việc càng ngày càng được tiếp cận với công nghệ kĩ thuật số thì nhóm người có tiềm năng phạm tội ngày càng lớn

Dấu hiệu để phân biệt tội phạm công nghệ cao với tội phạm thông thường, đó là: thứ nhất, hành vi phạm tội có thể dễ dàng vượt ra khỏi biên giới quốc gia hay nói cách khác hành vi có tính xuyên biên giới và có tính quốc tế; thứ hai, tội phạm có khả năng gây hại một cách tuyệt đối….; thứ ba, sự thay đổi của hành vi dẫn đến khó đánh giá và xác định do sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, trong khi không có nhiều những bằng chứng về tội phạm công nghệ cao

3 Thực trạng tội phạm công nghệ cao và những vướng mắc bất cập

Hàng tỷ người trên thế giới đang sử dụng công nghệ trên nền tảng trực tuyến Càng nhiều lượng tiếp cận công nghệ và sử dụng chúng thì số lượng tội phạm phát sinh trong lĩnh vực này càng cao Chưa bao giờ xã hội công nghiệp lại phụ thuộc vào quá trình xử lý dữ liệu phức tạp và hệ thống thông tin liên lạc như hiện nay Sự can thiệp vào bất kỳ hệ thống công nghệ thông tin nào cũng đều có thể đưa đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng Đây cũng

Ngày đăng: 11/05/2022, 10:15

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm