1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÁC ĐỘNG của đô THỊ HOÁ đến TĂNG TRƯỞNG KINH tế tại hà nội

37 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Đô Thị Hoá Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Tại Hà Nội
Tác giả Bùi Thiên Bảo, Phạm Minh Hằng, Nguyễn Thị Thuý Huyền, Bùi Duy Nam, Nguyễn Quang Nhật, Đinh Vũ Ngọc Minh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Đô thị
Thể loại bài tập thuyết trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 103,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuấttrong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức vàđiều kiện sống theo kiểu đô t

Trang 1

Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

3 Nguyễn Thị Thuý Huyền – MSV:

4 Bùi Duy Nam – MSV:

5 Nguyễn Quang Nhật – MSV:

6 Đinh Vũ Ngọc Minh – MSV:

Lớp học phần:

Hà Nội, tháng 10 năm 2021

Trang 2

I - Tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế đô thị.

- Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân

đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khuvực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếutính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứhai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi làmức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa Tuynhiên muốn phản ánh đầy đủ mức độ đô thị hóa thì cần phải xem xét cả chấtlượng đô thị hóa như thế nào

Mức độ đô thị hóa = Dân số đô thị : Tổng số dân toàn quốc

- Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện quacác mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống Trên quan điểm một vùng: đôthị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theokiểu đô thị Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá hoá là một quá trình biến đổi

về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cưnhững vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theochiều sâu

Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuấttrong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức vàđiều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâutrên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số

1.2 Biểu hiện của đô thị hoá.

- Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành cáckhu đô thị mới, các quận, phường mới Với hình thức này dân số và diện tích đô thịtăng nhanh Sự hình thành các đô thị mới để phát triển đồng đều các khu vực, các đôthị mới được xây dựng trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp và các vùng kinh tế là

xu hướng tất yếu của sự phát triển Với hình thức này dân số và diện tích đô thị tăngnhanh chóng Sự hình thành các đô thị mới để phát triển đồng đều các khu vực, các đôthị mới được xây dựng trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp và các vùng kinh tế là

xu hướng tất yếu của sự phát triển

- Hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trình thườngxuyên và tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển Các nhà quản lý đô thị và cácthành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động nhằm làm giàu thêm cho

đô thị của mình Quá trình đô thị hóa đòi hỏi họ phải điều tiết, tận

Trang 3

dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội ở đô thị.

1.3 Đặc điểm của đô thị hoá.

- Điểm đầu tiên để chúng ta có thể nhận thấy quá trình đô thị hóa chính là

tỉ lệ dân số ngày một gia tăng, đặc biệt ở những khu vực tỉnh thành phố lớn Tỉ lệ này

có sự thay đổi đời theo thời gian Cụ thể được các tổ chức quốc tế thống kê như sau:uớc tính vào thế kỉ thứ XIX, số dân thành thị lên đến 30 triệu dân, con số này chiếm 3

% tỉ lệ dân số trên phạm vi toàn cầu, khi bước sang thế kỉ XX một cuộc khảo sát mớiđược tiến hành và con số đã thay đổi thêm 25 triệu người như vậy tỉ lệ dân số đã tănglên gần 14% trên tổng số dân toàn cầu, hiện tại thế kỉ XXI được các chuyên gia dựđoán tỉ lệ dân sẽ giao động khoảng 2,8 triệu người nâng mức dân số đô thị trên toàncầu lên đến 47%

- Điểm thứ hai để nhận biết quá trình đô thị hóa là dân cư sinh sống tậpchung ở những thành phố lớn Cư dân, từ nhiều tỉnh thành trên cả nước ồ ạt di chuyểnđến các thành phố lớn để sinh sống và phát triển kinh tế

- Các khu vực lãnh thổ đô thị ngày càng được mở rộng ra các vùng và tỉnhthành lân cận Nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế chung của ngườidân

- Chất lượng đời sống của dân cư được cải thiện rõ rệt qua các hoạt độngcủa cuộc sống hàng loạt các căn nhà cao tầng, trung tâm thương mại, khu vui chơi giảitrí … được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng hiện đại của con người

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa.

– Điều kiện tự nhiên: trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì đôthị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu thờitiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác sẽ thuhút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn hơn.Ngược lại những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn Từ đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng

– Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thịtương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó Kinh tếthị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Sự phát triển củalực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề cho

đô thị hóa

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản của nền kinh tế sẽ tạo ra quá trình đô thị hóa nông thôn và các vùng ven biển

Trang 4

– Văn hóa dân tộc: mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và nềnvăn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội…nóichung và hình thái đô thị nói riêng.

– Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết địnhtrong quá trình đô thị hóa Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính Đểxây dựng, nâng cấp, cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn Nguồn đó có thể từtrong nước hay từ nước ngoài Trình độ phát triển kinh tế thể hiện trên nhiềuphương diện: quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sựphát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của kếtcấu hạ tầng, trình độ văn hóa giáo dục của dân cư, mức sống dân cư

– Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau năm 1975, tốc độ đô thị hóa ngàycàng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt trong thời kỳ đổimới, với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượtbậc

2 Tăng trưởng kinh tế đô thị.

Tăng trưởng kinh tế đô thị là quá trình tích tụ, tập trung và lớn lên về quy

mô kinh tế xã hội đô thị Tăng trưởng kinh tế đô thị là tổ hợp có hệ thống, có đạo

lí của một số ngành kinh tế phi nông nghiệp, mà các ngành này có đặc trưng cơbản là tập trung về địa lí, tiến bộ về công nghệ, chuyên môn hóa hệ thống tổ chức

và hiệu quả kinh doanh cao

Tăng trưởng kinh tế được đo lường qua sự gia tăng của tổng sản phẩmquốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượngquốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh

tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước.Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Y = dY/Y.100 (%)

Trong đó: y là tốc độ tăng trưởng.

Y là quy mô của nền kinh tế.

Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ cótốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được

đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP)thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉtiêu danh nghĩa)

Trang 5

2.2 Những nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế đô thị.

2.2.1 Nhân tố kinh tế

Các nhân tố kinh tế quyết định đến tăng trưởng kinh tế đô thị bao gồm:

- Nhân tố tác động đến tổng cung: vốn (K), lao động (L), tài nguyên, đất đai (R), công nghệ kỹ thuật (T)

- Nhân tố tác động đến tổng cầu: chi tiêu dùng cá nhân (C), chi tiêu của chính quyền (G), đầu tư (I), xuất nhập khẩu (NX=X-M)

2.2.2 Nhân tố phi kinh tế

Các nhân tố phi kinh tế quyết định đến tăng trưởng kinh tế đô thị bao gồm:đặc điểm văn hoá, xã hội, thể chế chính trị-kinh tế- xã hội, cơ cấu dân tộc, tôngiáo và nhóm cộng đồng

2.2.3 Các chính sách công ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

- Các chính cách công bao gồm: chính sách giáo dục, y tế, phục vụ côngcộng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh doanh, chính sách thuế kinh doanh

đều có ảnh hưởng tới cung, cầu lao động trong đô thị

- Thuế địa phương

- Chương trình trợ cấp

- Trái phiếu đô thị

- Vay mượn và đảm bảo vay mượn

2.3 Tác động của các nhân tố lên tăng trưởng kinh tế đô thị.

Từ các nhân tố trên, có thể thấy, chúng có những tác động toàn diện đến việc tăng trưởng kinh tế đô thị như:

- Chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô thị

- Khuyến khích xuất khẩu và thay thế nhập khẩu

- Gia tăng tư bản và lao động

- Phát triển khoa học kỹ thuật

- Khuyến khích sự ra đời của các doanh nghiệp mới

- Gia tăng chất lượng cuộc sống đô thị

- Tăng cường tính kinh tế nhờ kết hợp

3 Thực trạng đô thị hoá chung tại nước ta.

Qua nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đô thị hóa cả nước đã tăng nhanh từ 30,5%năm 2010 lên khoảng 40% năm 2020; tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinhtế-xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Không gian đô thị được mở rộng Đã hình thànhmột số cực tăng trưởng chủ đạo tại các đô thị lớn, nhất là tại hai đô thị loại đặcbiệt là Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Hạ tầng kỹ thuật đô thị được chútrọng đầu tư theo hướng đồng bộ và từng bước hiện đại, hạ tầng xã hội đô thị

Trang 6

được đa dạng hóa, tăng quy mô và cải thiện chất lượng phục vụ Chất lượng sống tại đô thị từng bước được nâng cao Kinh tế đô thị tăng trưởng ở mức cao.

Tuy nhiên, đô thị hóa, phát triển đô thị và phát triển kinh tế đô thị nước tavẫn còn nhiều hạn chế Đô thị hóa không đồng đều giữa các vùng, miền; tỷ lệ đôthị hóa còn thấp so với mức trung bình của các nước trong khu vực ASEAN vàbình quân của thế giới Quá trình đô thị hóa phát triển theo chiều rộng là chủ yếuvới mật độ thấp và phân tán, gây lãng phí về đất đai, hạn chế tích tụ kinh tế

II Tác động của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế Hà Nội.

1 Khái quát về thành phố Hà Nội.

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng làkinh đô của hầu hết các vương triều phong kiến tại Việt Nam trước đây Do đó,lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương và là thành phố có diện tích lớnnhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phươngđứng thứ nhì về dân số với hơn 8 triệu người (năm 2019)

1.1 Vị trí địa lý.

Có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độĐông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên - Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam - HòaBình ở phía Nam; Bắc Giang- Bắc Ninh- Hưng Yên ở phía Đông và Hòa Bình-Phú Thọ ở phía Tây

Hà Nội hiện nay vừa có núi, có đồi và địa hình thấp dần từ Bắc xuốngNam, từ Tây sang Đông, trong đó đồng bằng chiếm tới ¾ diện tích tự nhiên củathành phố

Độ cao trung bình của Hà Nội từ 5 đến 20 mét so với mặt nước biển, cácđồi núi cao đều tập trung ở phía Bắc và Tây

Trang 7

hạng 26) (báo cáo của địa phương, Tổng cục Thống kê sẽ công bố số liệu đánhgiá lại) Thu nhập bình quân đầu người sơ bộ năm 2019 là 6,403 triệu đồng/tháng(xếp hạng 3).

Năm 2020, GRDP của Thành phố tăng 3,98% so với năm 2019 (quý 1 tăng4,13%; quý II tăng 1,76%; quý III tăng 3,95%; quỷ IV tăng 3,77%), đạt mức thấp

so với kế hoạch và mức tăng trưởng của năm 2019, chủ yếu do ảnh hưởng nặng

nề từ đại dịch Covid-19

2 Thực trạng đô thị hoá tại thành phố Hà Nội thời kỳ 2010 đến năm 2020.

2.1 Tình hình kinh tế.

Tổng quy mô GRDP (giá hiện hành) của Hà Nội năm 2010 đạt 310,7 nghìn

tỷ đồng, tăng lên 497,5 nghìn tỷ đồng năm 2015 và đạt 968,4 tỷ đồng (tươngđương với trên 42 tỷ USD) năm 2020, tăng gấp 3,12 lần so với quy mô GRDPnăm 2010, đứng đầu toàn vùng Đồng bằng sông Hồng, chiếm trên 47,6% tổngGRDP toàn vùng Đồng bằng sông Hồng, đứng thứ hai cả nước (sau thành phố HồChí Minh), và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước và đóng góp 16,6% vàoGDP cả 16,9% thu ngân sách quốc gia, thu hút 16,2% vốn đầu tư xã hội của cảnước Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ trọng đóng góp vào quy mô tăngtrưởng GDP cả nước của Hà Nội ở mức 13 - 16%/năm So với 5 đô thị trực thuộctrung ương, Hà Nội luôn có mức tăng trưởng kinh tế vượt trội so với 3 thành phố

là Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh Quy môGRDP của Hà Nội bằng 61,5% thành phố Hồ Chí Minh

Tốc độ trưởng kinh tế: Giai đoạn 2011-2020, thành phố Hà Nội duy trì tốc

độ tăng trưởng ở mức khá cao, trung bình đạt 12%/năm, luôn cao hơn tốc độ tăngtrưởng chung của cả nước Trong đó, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt cao nhấttrong 3 khối ngành, ở mức 13,4%/năm, tiếp theo là ngành công nghiệp - xâydựng đạt 9,4%/năm, ngành nông nghiệp của Hà Nội đang chịu nhiều sức ép từviệc giảm diện tích đất nhanh trong quá trình phát triển đô thị song tốc độ tăngtrưởng vẫn đạt trung bình 10 năm ở mức 4,7%

GRDP bình quân đầu người của Hà Nội năm 2020 đạt 6,4 triệuđồng/người/tháng, cao hơn trên 1,61 lần so với GDP bình quân đầu người cảnước, tốc độ tăng sản phẩm nội địa đạt 7,12%

Cơ cấu kinh tế ngày càng hiện đại, hiệu quả và tiếp tục chuyển dịch theohướng tích cực, giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷtrọng khu vực dịch vụ - công nghiệp theo hướng Dịch vụ - công nghiệp - nôngnghiệp Năm 2020 cơ cấu khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ còn chiếm2,0% tổng sản phẩm trên địa bàn, công nghiệp - xây dựng chiếm 22,8%, dịch vụ

Trang 8

chiếm 63,8% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 11,4% Giá trị đónggóp của khối ngành nông nghiệp của thành phố Hà Nội chỉ chiếm 3,1%.

Hà Nội có số lượng làng nghề thủ công truyền thống của lớn nhất cả nướcvới khoảng 1350 làng nghề truyền thống, chiếm 1/3 tổng số làng nghề của toànquốc Do đó, Hà Nội cũng được coi là vùng đất trăm nghệ, là nơi hội tụ tinh hoacủa các làng nghệ với những sản phẩm đặc sắc và được ưa chuộng như: làm tranhdân gian (tranh Hàng Trống, | tranh Đông Hồ), gốm sứ Bát Tràng, nghệ làm giấy

dó lụa, dệt tơ lụa, dệt khăn, dệt vải ở Bưởi, làng lụa Vạn Phúc; nghề thêu ở YênThái, nghề chạm bạc, khảm trai, làm sơn mài, mây tre đan, nón Chuông, quạtVác, tượng gỗ Sơn Đồng, đồ mộc mỹ nghệ, rèn, kim khí, đan lưới võng, làm búnmiến bánh đa, giò chả Ước Lễ, thuốc nam thuốc Bắc (Ninh Hiệp

- Gia Lâm) sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, dệt, giấy, tranhdân gian, gỗ, đá, trồng hoa, cây cảnh Nếu biết gìn giữ và phát huy giá trị, đây là mộtđiều kiện thuận lợi và thế mạnh đặc thù của Hà Nội so với các địa phương khác đểchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp, xây dựng các khucụm công nghiệp, trong đó tận dụng thế mạnh các cụm công nghiệp gắn liền với tiểuthủ công nghiệp, làng nghề, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

2.2 Tình hình xã hội.

a Dân số.

Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong mười năm qua (2009-2019) của HàNội là 2,22%/năm, cao hơn mức tăng của cả nước (1,14%/năm) và cao thứ 2trong vùng Đồng bằng sông Hồng, chỉ sau Bắc Ninh (2,90%/năm) Trong thờigian qua, tốc độ đô thị hóa ở thành phố Hà Nội đang diễn ra mạnh mẽ, đây cũng

là xu thế tất yếu của các thành phố lớn, thể hiện qua tỷ lệ dân số khu vực thànhthị tăng nhanh: từ 36,8% năm 1999 lên 41% năm 2009 và 49,2% năm 2019.Mật độ dân số ở Hà Nội khá cao, nhưng phân bố dân số không đồng đều;khoảng cách về dân số giữa quận và huyện, giữa thành thị và nông thôn và ngay

cả giữa các huyện ngoại thành còn khá lớn với xu hướng tiếp tục gia tăng

Hàng năm có đến 300 ngàn người di cư vào thành phố, chủ yếu là khu vựcnội thành Hà Nội cũ Tỷ lệ gia tăng không đồng đều giữa các khu vực Trình độhọc vấn và nghề nghiệp của những người di cư vào Hà Nội khá cao, chủ yếu đến

từ vùng ĐB sông Hồng, trung du và miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

b Nhà ở.

Mặc dù là thủ đô của một quốc gia thu nhập bình quân đầu người trungbình thấp, nhưng Hà Nội lại là một trong những thành phố đắt đỏ nhất thế giới vàgiá bất động sản không thua kém các quốc gia giàu có

Trang 9

Đến hết năm 2020, diện tích nhà ở bình quân toàn TP Hà Nội đạt 26,8 m2/người, vượt sớm mục tiêu đến năm 2020 đã đặt ra (26,3 m2/người); năm 2021,

Hà Nội đặt chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân/người toàn Thành phố:27,2m2/người

Mỗi năm, thành phố xây dựng mới hàng triệu mét vuông nhà, nhưng giávẫn ở mức quá cao so với phần lớn người dân Gần như 100% các gia đình trẻ ở

Hà Nội chưa có nhà ở, phải sống ghép chung hoặc thuê nhà ở tạm Bên cạnhnhững khu chung cư mới mọc thêm ngày càng nhiều, vẫn còn những bộ phận dân

cư phải sống trong những điều kiện hết sức lạc hậu

Trong 10 năm qua, điều kiện nhà ở của các hộ dân cư đã được cải thiện rõrệt, đặc biệt ở khu vực thành thị Hầu hết các hộ dân cư đều có nhà ở và chủ yếusống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố; diện tích nhà ở bình quân đầungười tăng lên đáng kể, sát với mục tiêu Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyếtđịnh số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011

Do sự phát triển không đồng đều, những bệnh viện lớn của Hà Nội, cũng

là của cả miền Bắc, chỉ tập trung trong khu vực nội ô thành phố Các bệnh việnViệt Đức, Bạch Mai, Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Phụ sản Hà Nộiđều trong tình trạng quá tải

Sự ra đời của hệ thống khám, chữa bệnh từ xa kết nối 1.500 bệnh viện giúpngười dân được hưởng dịch vụ y tế tuyến trên ngay tại tuyến cơ sở; 97,5 triệu hồ

sơ sức khỏe người dân được thiết lập tạo tiền đề xây dựng nền y tế thông minh…Toàn ngành tích cực thực hiện chuyển đổi số với sự ra đời của hàng loạt nền tảng,ứng dụng y tế số, công khai giá thuốc, trang thiết bị, dịch vụ y tế… tạo điều kiệncho người dân và doanh nghiệp Năm 2020 cũng ghi nhận những kỹ thuật vượtbậc của y khoa trong ghép tạng, phẫu thuật tách cặp Song Nhi

Trong thời kỳ COVID - 19, ngành y tế đã phát huy truyền thống đoàn kết,sáng tạo, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng trụ vững tại mọi điểm nóng đãthành công trong việc khống chế các ổ dịch, hạn chế thấp nhất số người mắc bệnh

tử vong cũng như mức độ lây lan của dịch bệnh Nhờ đó, chúng ta đã thực hiệnđược mục tiêu kép vừa chống dịch hiệu quả, vừa phát triển kinh tế

Trang 10

d Giáo dục.

Trình độ dân trí đã được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biếtđọc, biết viết đạt 99,2%, đứng đầu cả nước Hầu hết trẻ em trong độ tuổi đi họcphổ thông đang được đến trường, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường giảm mạnh.Thành phố Hà Nội đã rất thành công trong nỗ lực tăng cường bình đẳng giới,cũng như trong lĩnh vực giáo dục nhiều năm qua

Trải qua 65 năm phát triển, đến nay, ngành giáo dục và đào tạo Thủ đô cóquy mô lớn nhất cả nước Mạng lưới trường, lớp được mở rộng, cơ sở vật chấtđược tăng cường đầu tư, cơ bản từng bước được kiên cố hóa, chuẩn hóa và hiệnđại, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân Thủ đô và yêu cầu đào tạonhân lực trong thời kỳ mới.Năm học 2018 - 2019, Hà Nội tiếp tục khẳng định vịtrí dẫn đầu cả nước, giành thành tích cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia,quốc tế

e Giao thông

Qua 10 năm thực hiện việc điều chỉnh địa giới hành chính, cơ sở hạ tầnggiao thông của Thủ đô đã có những bước phát triển vượt bậc Nhiều dự án hoànthành, đưa vào khai thác đã từng bước khớp nối và hoàn chỉnh mạng lưới kết cấu

hạ tầng giao thông khung; hiện tượng ùn tắc đã được cải thiện và được dư luậnnhân dân đánh giá cao

Mật độ đường giao thông vẫn chưa đồng đều giữa các vùng trên địa bànthành phố Mật độ đường khu vực lõi đô thị tương đối cao, nhưng phần lớn chưađạt được quy mô theo quy hoạch do công tác giải phóng mặt bằng còn khó khăn

Ở khu vực ngoại thành, mật độ đường giao thông còn thấp Nguyên nhân chủyếu là do nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng hạn chế; mạng lướiđường giao thông vẫn chưa hoàn thiện, nhiều tuyến đường vành đai, đường hướng tâmchưa hoàn chỉnh và khép kín Việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luậtvẫn chưa đạt được tính khoa học về dự báo phát triển của hoạt động xã hội, dẫn tới cónhững dự án, công trình phải xin cơ chế đặc thù mới thực hiện được Thậm chí, cónhững hạng mục còn phải xin ý kiến của chính cơ quan ban hành văn bản quy phạmpháp luật…

Về quy mô, tốc độ bao phủ của mạng lưới như hiện tại còn rất chậm so vớiyêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng

f Lao động

Theo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, giai đoạn 2015-2020,trung bình mỗi năm, toàn thành phố tuyển sinh, đào tạo nghề cho hơn 202.000lượt người, đạt 132% so với kế hoạch Nhờ đó, đã góp phần nâng tỷ lệ lao độngqua đào tạo từ 53,14% vào năm 2015 lên 70,25% vào năm 2020 Cũng trong

Trang 11

giai đoạn 2015-2020, mỗi năm Hà Nội giải quyết việc làm mới cho hơn 154.000lao động, vượt kế hoạch đề ra Trong 5 tháng đầu năm 2021, dù gặp rất nhiều khókhăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, toàn thành phố vẫn giải quyết được việclàm cho gần 79.000 người, đạt 49,1% kế hoạch cả năm.

Thực tế, trong số lao động qua đào tạo ở Hà Nội, tỷ lệ lao động có bằng, chứngchỉ mới đạt 48% Nguồn nhân lực sẵn sàng cung ứng cho thị trường chủ yếu làlao động phổ thông và đang rất thiếu nguồn nhân lực có kỹ năng, nhất là ở một sốngành nghề như công nghệ thông tin, tự động hóa, điện tử, cơ điện tử

Số người học nghề tăng lên, góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Thủ

đô tăng từ 34,2% vào năm 2010 lên 70,25% vào năm 2020, thuộc nhóm cao của

cả nước, dự kiến, tỷ lệ này sẽ tăng lên 71,5% vào cuối năm 2021

g Môi trường.

Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt, chất thải y tế đạt 99 - 100%; cơ bản xử

lý xong ô nhiễm nguồn nước tại các hồ trong nội thành; hoàn thành đưa vào vậnhành 35 trạm quan trắc không khí tự động để làm căn cứ triển khai các giải pháp

xử lý ô nhiễm Đặc biệt, Hà Nội đã xóa được 96,23% lượng bếp than tổ ong;giảm 70 - 90% số vụ đốt rơm rạ sau thu hoạch; 4 huyện Gia Lâm, Thanh Trì, SócSơn, Quốc Oai đã tổ chức ký cam kết không đốt rơm rạ trên địa bàn huyện, sửdụng chế phẩm nhằm tái sử dụng rơm rạ…

Qua rà soát, đánh giá hiện trạng môi trường thành phố, ngành Tài nguyên

và Môi trường xác định: Các nguồn ô nhiễm môi trường ở Hà Nội chủ yếu là ônhiễm nước mặt trong các sông, hồ, kênh thoát nước; ô nhiễm không khí và ônhiễm chất thải rắn, rác thải sinh hoạt do chưa được phân loại, xử lý dứt điểm

Cụ thể, mỗi ngày Hà Nội xả ra khoảng 900.000m3 nước thải, trong khi công suấtcác nhà máy xử lý nước thải trên địa bàn hiện chỉ đạt 276.000m3 (khoảng28,8%), phần còn lại được xả vào hệ thống ao hồ, kênh, mương và sông ngòi, dẫntới tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các sông nội đô như Tô Lịch, KimNgưu, Lừ, Sét, Nhuệ có một vài chỉ số ô nhiễm vượt quy chuẩn cho phép

Tương tự, ô nhiễm không khí cũng ở mức cao, nhất là vào mùa đông Theo sốliệu của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, vào giai đoạn cuối năm 2020, đầunăm 2021, chỉ số chất lượng không khí trong khu vực nội thành thường ở mứckém và xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân Ô nhiễm chủ yếu ghinhận do bụi PM10 và bụi mịn PM2.5…

Từ việc phân công rõ trách nhiệm cho các sở, ngành, cơ quan, đơn vị cóliên quan nên công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố bước đầu đạtđược nhiều kết quả đáng ghi nhận Trong đó nổi bật là: Tỷ lệ thu gom chất thảisinh hoạt, chất thải y tế đạt 99 - 100%; cơ bản xử lý xong ô nhiễm nguồn nước tạicác hồ trong nội thành; hoàn thành đưa vào vận hành 35 trạm quan trắc

Trang 12

không khí tự động để làm căn cứ triển khai các giải pháp xử lý ô nhiễm Đặc biệt,

Hà Nội đã xóa được 96,23% lượng bếp than tổ ong; giảm 70 - 90% số vụ đốt rơm

rạ sau thu hoạch; 4 huyện Gia Lâm, Thanh Trì, Sóc Sơn, Quốc Oai đã tổ chức kýcam kết không đốt rơm rạ trên địa bàn huyện, sử dụng chế phẩm nhằm tái sửdụng rơm rạ…

h Điều kiện sống thiết yếu.

- Nước sinh hoạt: trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá ngày nay,ngầm hóa mạng lưới điện được áp dụng ở các thành phố lớn, nhiều khu tái chế nướcsạch được xây dựng.Cấp nước cho Hà Nội hiện nay chủ yếu sử dụng mạch nước ngầmcông suất 700.000 m3/ngđ.Định hướng cấp nước đạt 90-100% người dân được sửdụng nước sạch

- Điện dân sinh: Năm 2009 tổng công suất điện tại Hà Nội 1650 MW dựbáo đến năm 2030 là 10000 MW.Để đáp ứng nhu cầu tăng thêm này cần phải đảm bảođúng tiến độ xây dựng và dựa vào việc vận hành các nhà máy cấp điện tại Sơn La, LaiChâu , các nhà máy ở Quảng Ninh, Hải Phòng

Cần xây dựng thêm một số trạm để nâng công suất của cả thanh phố

- Về hệ thống năng lượng: Bên cạnh các nguồn năng lượng đã sử dụng, HàNội đang khuyến khích sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn năng lượng có sẵntrong tự nhiên như năng lượng gió, năng lượng mặt trời

3 Tác động của quá trình đô thị hoá đến tăng trưởng kinh tế đô thị tại thành phố Hà Nội.

Hà Nội là một trong những thành phố lớn của nước ta, có mức đô thị hoá

rõ rệt xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển đất nước Điều này ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc tăng trưởng kinh tế tại thành phố lớn này nói riêng và tăngtrưởng kinh tế Việt Nam nói chung Trong đó, đô thị hoá tác động lên hai mặt củavấn đề, bao gồm cả tích cực và tiêu cực

3.1 Đánh giá tác động chung của quá trình độ thị hoá lên tăng trưởng kinh tế.

- Có thể nói quá trình đô thị hóa là đòn bẩy lớn nhất trong công cuộc mở cửa hội nhập của đất nước với các nền kinh tế phát triển trên thế giới

- Tạo sức hút mạnh mẽ trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng trên phạm trong

và ngoài nước

- Mang đến hàng ngàn cơ hội nghề nghiệp cho các doanh nghiệp lớn nhỏtrên cả nước Giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho nhân công lao động trên cả nước.Ngoài ra, quá trình này sẽ giúp cho người dân lao động tăng thu nhập lên mức khá

Trang 13

- Những hoạt động trước kia chưa thực sự phát triển hoặc chưa khai tháchết tiềm năng này sẽ được đưa vào áp dụng các phương pháp tiên tiến khoa học nhấtnhằm khai thác tối đa tiềm năng cho ngành nghề dịch vụ đó.

- Tạo nên thị trường kinh tế mở, các chủ đầu tư có sân chơi lớn hơn thoảimái và tự doa trong đầu tư và phát triển không không bị phụ thuộc nhà nước Bên cạnh

đó quá trình đô thị hóa cũng tạo nên thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn và đa dạng hơn

- Hội nhập thế giới điện tử 4.0 gắn kết thế giới trong thời gian ngắn

3.2 Tác động tích cực của đô thị hóa đến tăng trưởng kinh tế Hà Nội

Trong kết quả tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước có sự đóng góp mộtphần to lớn của khu vực đô thị, trong đó phần của Hà Nội rất đáng kể và là độnglực quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước Mức sống của ngườidân được tăng lên Hạ tầng cơ sở được nâng cấp dù chưa theo kịp với đà của đôthị hoá, các khu công nghiệp xuất hiện, nhiều công trình xây dựng hiện đại đượctiến hành, công việc quy hoạch được thúc đẩy Các dịch vụ đô thị được phát triểnphục vụ cho người đô thị Trình độ học vấn được nâng cao hơn trước, trình độ trithức đáp ứng được phần nào yêu cầu của thời đại Đời sống văn hoá đa dạng,phong phú với nhiều loại hình mới xuất hiện Nông thôn xích lại gần hơn vớithành thị về mặt không gian và lối sống

3.2.1 Đô thị hóa gắn với tăng trưởng kinh tế đô thị.

Những dấu ấn đó đã góp phần đưa Thủ đô vượt qua mọi khó khăn, bứtphá, trở thành một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng cao, xứng đángvới vị thế đầu tàu của cả nước Trong đó, đáng chú ý là GRDP tăng 7,39%, caohơn giai đoạn trước

Dưới dự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ TP, kinh tế Hà Nội liên tục tăngtrưởng và đạt mức khá trong cả nhiệm kỳ Bình quân giai đoạn 2016 - 2020, tổngsản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 7,39%, đạt mục tiêu đề ra (từ 7,3 -7,8%), cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (6,93%) Năm 2020, quy mô GRDP ướcđạt 1,06 triệu tỷ đồng, khoảng 45 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người ước đạt5.420 USD, tăng 1,5 lần so với năm 2015, gấp 1,8 lần bình quân cả nước

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, theo hướng hiện đại, tỷ trọng khu vựccông nghiệp và dịch vụ tăng; khu vực nông nghiệp giảm còn 2,09%; tăng trưởngkhu vực dịch vụ bình quân 7,12%/năm Du lịch dần trở thành ngành kinh tế mũinhọn có mức tăng doanh thu 12,1%/năm; năm 2019 đón hơn 7 triệu khách quốc

tế - Hà Nội nằm trong top 10 điểm đến hàng đầu thế giới Kim ngạch xuất khẩutăng trung bình 9,0%/năm, cao hơn 1,7 lần giai đoạn 2011 - 2015

Trang 14

Hà Nội cũng luôn là địa phương dẫn đầu cả nước về doanh thu côngnghiệp ICT (năm 2019 đạt gần 300.000 tỷ đồng), với 16.000 DN công nghệthông tin trên địa bàn và có 2 trên tổng số 5 khu công nghiệp công nghệ thông tintập trung của cả nước Nhiều sản phẩm công nghệ cao, thiết bị thông minh đượcsản xuất tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc.

Một điểm nhấn nữa là thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn liên tục tăng vàvượt dự toán; lũy kế giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt gần 1.200 nghìn tỷ đồng, tăng11,1%/năm, gấp 1,64 lần giai đoạn 2011 - 2015 Cơ cấu thu chuyển dịch tích cực,

tỷ trọng thu nội địa và các khoản thu bền vững từ sản xuất kinh doanh tăngnhanh, giảm dần các khoản thu liên quan đến tài nguyên, đất đai

Hà Nội ngày càng khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế Mặc dù chỉ chiếm 1% vềdiện tích, 8,5% về dân số nhưng Hà Nội đóng góp trên 16% GDP, 18,5% thungân sách, 20% thu nội địa và 8,6% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước,ngày càng xứng đáng vai trò là trung tâm lớn về kinh tế và giao dịch quốc tế, mộtđộng lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước

3.2.2 Đô thị hóa gắn với quá trình công nghiệp hóa, hình thành nhiều khu công nghiệp, công xưởng.

60 năm qua, nền công nghiệp Thủ đô Hà Nội đã lớn mạnh không ngừng

Từ vài chục nhà máy, xí nghiệp quốc doanh và vài trăm HTX thủ công nghiệp,đến năm 2013, Hà Nội có gần 100 nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp, bao gồm

131 doanh nghiệp Nhà nước, 10.730 xí nghiệp, công ty dân doanh, 410 doanhnghiệp có vốn nước ngoài FDI Ngoài ra, Hà Nội còn có hơn 1.200 làng nghề thủcông và hàng chục nghìn hộ thủ công nghiệp cá thể

Cơ cấu các ngành công nghiệp đã được sắp xếp lại hợp lý hơn theo quyhoạch, hình thành các KCN chuyên ngành và KCN công nghệ cao Hội nhập kinh

tế quốc tế cho phép Hà Nội thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhậncông nghệ mới chuyển giao từ các nước phát triển Bên cạnh những sản phẩmtruyền thống như: máy công cụ, biến thế, bóng đèn, săm lốp, bia, bánh kẹo ,công nghiệp Hà Nội đã có thêm nhiều sản phẩm chủ lực mới như máy in, linhkiện quang học, máy tính, ô-tô, xe máy, dây chuyền chế biến thực phẩm, đá gra-nít xuất khẩu, Giá trị hàng công nghiệp xuất khẩu đã chiếm tới 30%, bao gồm

cả các sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao như: sản phẩm công nghệthông tin, cơ khí, thiết bị điện, Vùng Thủ đô Hà Nội đã có tên trên bản đồ côngnghiệp toàn cầu với tư cách là trung tâm sản xuất điện thoại, máy in, máy scanvăn phòng, trung tâm lắp ráp xe máy lớn của thế giới

Sản xuất công nghiệp Hà Nội đã phát triển trên 30 phân ngành với hàngnghìn loại sản phẩm Cơ cấu công nghiệp đã có sự thay đổi cả về quy mô lẫn chấtlượng Ðội ngũ công nhân Thủ đô đã lớn mạnh với hơn 700 nghìn lao động 60%

số lãnh đạo các doanh nghiệp công nghiệp có trình độ từ đại học trở lên

Trang 15

Các hệ thống quản lý sản xuất, quản lý chất lượng quốc tế của Mỹ, châu Âu,Nhật Bản được doanh nghiệp nắm bắt và ứng dụng mạnh mẽ, tạo ra bước độtphá mới trong quản lý điều hành Về quy mô, công nghiệp Hà Nội đã có 500doanh nghiệp đạt quy mô doanh thu hơn 100 tỷ đồng/năm.

Thời gian tới, thành phố tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao, cógiá trị gia tăng cao, phấn đấu đưa Hà Nội trở thành trung tâm công nghiệp côngnghệ cao của cả nước, có nền công nghiệp hiện đại dựa trên tri thức, trình độkhoa học công nghệ và nguồn nhân lực có trình độ cao

3.2.3 Đô thị hóa gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đãđược Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanhthoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh,hiện đại Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí,

tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợpthành Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ lệ thành phần trong cơ cấukinh tế, sự thay đổi cả về mặt số lượng và chất lượng trong nội bộ cơ cấu nhằm cóđược sự phát triển tốt hơn và toàn diện hơn Trong những năm qua thực hiện chủtrương, đường lối của Đảng và Nhà nước Thành phố Hà Nội đã xây dựng và triểnkhai các nhiệm vụ về phát triển kinh tế xã hội, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững là một trong những mục tiêu quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Thủ đô đến năm 2020, tầm nhìn2030

Hà Nội là Thủ đô của cả nước, năm 2008 địa giới Thủ đô Hà Nội đã được

mở rộng, với diện tích là 334853,3 ha gấp 3.6 lần so với diện tích cũ của Hà Nội,dân số cũng tăng, năm 2012 dân số Hà Nội là: 6.957.300 người với tổng số, 42%dân thành thị và 58% dân số sống ở nông thôn Với điều kiện tự nhiên phong phú,nguồn lực cho phát triển dồi dào Hà nội có nhiều tiềm năng và lợi thế so với cáctỉnh, thành phố khác đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức lớn cho việc phát triểnkinh tế - xã hội của Thủ đô Trong những năm qua kinh tế Hà Nội đã có sự tăngtrưởng liên tục, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước Năm

2012, với dân số chiếm 7,84% cả nước, thành phố Hà Nội đã đóng góp 10,06%GDP, 9% kim ngạch xuất khẩu, 13,5% giá trị sản xuất công nghiệp, 23,5% vốnđầu tư phát triển, 19,73% thu ngân sách và 23,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Giai đoạn 2006 – 2010 mức tăng trưởng bình quân là 10,73%/năm (cả nước là6,2%) Năm 2011 GDP tăng 10.14 % gấp 1.7 lần so với mức tăng GDP của cảnước (5.89%); năm 2012 GDP tăng 8.3% gấp 1.6 lần so với mức tăng GDP của

cả nước (5.03%) Năm 2013 là năm bản lề của kế hoạch

Trang 16

phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, trước những khó khăn của nền kinh

tế, Hà Nội đã vượt lên, tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng và có những bước pháttriển, đóng góp 10,1% GDP; 7,5% kim ngạch xuất khẩu; 17,2% thu ngân sách và21,64% tổng vốn đầu tư của cả nước Tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 8,25% đạt

kế hoạch đề ra là từ 8,0-8,5% và bằng 1,53 lần mức tăng chung của cả nước(5.4%) Theo Sở Kế hoạch Đầu tư, kinh tế Thủ đô 6 tháng đầu năm 2014 tiếp tụcduy trì tăng trưởng nhưng còn thấp hơn mức cùng kỳ năm trước Tổng sản phẩmtrên địa bàn (GRDP) quý II tăng 8,1% - cao hơn quý I (6,6%) và cùng kỳ năm

2013 (7,85%)

Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn địnhcủa GDP, cơ cấu ngành kinh tế của Hà Nội đang hình thành một hình thái vớichất lượng cao hơn, cơ cấu ngành chuyển biến khá nhanh theo hướng tích cực,giảm nhanh tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp

và dịch vụ, trong đó dịch vụ đóng vai trò chủ đạo, từ năm 2008 đến nay ngànhdịch vụ luôn chiếm trên 50% trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn, tỷ trọngngành nông nghiệp giảm từ 6,6% năm 2008 xuống còn 5,36% năm 2013 Theo sốliệu báo cáo Cục Thống kê Hà Nội, năm 2013, giá trị tăng thêm ngành nông, lâmnghiệp, thuỷ sản tăng 2,46% (đóng góp 0,14% vào mức tăng chung của GDP).Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 7,57% (đóng góp 3,21%).Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng 9,42% (đóng góp 4,9% ) Điều này cho thấy

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm và chưa rõ nét, năm 2013 cơ cấu cácngành (dịch vụ 53.08%, công nghiệp xây dựng 41.56%, nông lâm nghiệp thủysản 5.36%) không thay đổi nhiều so với năm 2009 (dịch vụ 52.3%, công nghiệpxây dựng 41.5%, nông lâm nghiệp thủy sản 6.2%)

3.2.4 Đô thị hoá giúp tăng hiệu quả và tăng khả năng thu hút đầu tư Nhờ

các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, môi trường đầu tư, kinh doanh của

TP Hà Nội đã được cải thiện rõ nét Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)năm 2019 của Hà Nội đạt 68,8 điểm, tăng 3,4 điểm so với năm 2018, xếp vị tríthứ 9/63 địa phương, tăng 4 bậc so với năm 2017 Đây là năm thứ 7 liên tiếp, Chỉ

số PCI của Hà Nội tăng hạng, đạt mục tiêu đã đề ra là “đến năm 2020, Chỉ số PCIcủa Hà Nội thuộc nhóm 10 tỉnh, TP dẫn đầu cả nước” Nhiều chính sách hỗ trợ

DN được triển khai TP cũng thường xuyên, định kỳ tổ chức các hội nghị chuyên

đề đối thoại với DN nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy sản xuất, kinhdoanh

Hội nghị Hà Nội - Hợp tác đầu tư và phát triển đã trở thành sự kiện thườngniên của thành phố kể từ năm 2016 Nhờ nỗ lực và cam kết mạnh mẽ của Đảng

bộ, chính quyền thành phố trong việc tạo dựng môi trường thuận lợi, thôngthoáng, minh bạch, Hà Nội từng bước trở thành điểm đến hấp dẫn và tin

Trang 17

cậy cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xãhội giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 1,74 triệu tỷ đồng, gấp 1,65 lần giai đoạntrước, bằng 39,2% GRDP, đạt mục tiêu đề ra Thu hút đầu tư vốn ngoài ngânsách với trên 2.775 dự án, vốn đăng ký trên 1,4 triệu tỷ đồng Xã hội hóa đầu tưđược đẩy mạnh, nhất là đối với các lĩnh vực: Cấp nước, bãi đỗ xe, xử lý chất thải,nước thải, hạ tầng công nghệ thông tin, giáo dục, y tế Đặc biệt, vốn đầu tư nướcngoài của Hà Nội năm 2019 đạt 8,67 tỷ USD, cao nhất sau hơn 30 năm mở cửa

và hội nhập, năm thứ hai liên tiếp dẫn đầu cả nước Trong 9 tháng năm 2020,tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Hà Nội ước đạt 3,28 tỷ USD Lũy kế giai đoạn

2016 - 2020 ước đạt 25 tỷ USD, gấp 3,9 lần giai đoạn 2011 - 2015 Khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài đóng góp 12,8% về vốn, 10,4% về thu ngân sách của TP;góp phần chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và đào tạo kỹ năng cho người laođộng, tham gia vào mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu

Hà Nội ngày nay đã tích cực đối thoại, tháo gỡ, tạo điều kiện cho mọithành phần kinh tế phát triển Hà Nội đã tôn vinh DN; hợp tác tháo gỡ những bấtcập, xây dựng hệ thống chính trị liêm chính, hành động, phục vụ người dân vàdoanh nghiệp Nhờ đó, thành phố đã thu hút nhiều dự án đầu tư nước ngoài,nhiều tập đoàn đa quốc gia và nhiều dự án quy mô lớn Hiện, thành phố đang cóđầy đủ cả ba yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” trong phát triển Theo Với vịthế mới, Hà Nội ngày nay không nên chỉ khiêm tốn với định nghĩa là trung tâmchính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam, mà trong dòng chảy lịch sử 1010 nămcủa mình, ở thời đại Hồ Chí Minh, Hà Nội cần được định nghĩa là trung tâmchính trị, kinh tế, văn hóa của Đông Nam Á

3.2.5 Đô thị hoá giúp tăng mức sống dân cư tại Hà Nội.

Phát triển đồng bộ, hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị Chính

quyền thành phố chú trọng triển khai phát triển đô thị theo hướng

bền vững, đô thị thông minh Chủ động rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đểđẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, khu nhà ở theo hướngđồng bộ, văn minh, hiện đại với nhiều khu đô thị đã và đang xây dựng làm thayđổi diện mạo kiến trúc Thủ đô, như khu đô thị Ciputra, khu đô thị An Khánh, khu

đô thị Vincity Sportia, Đặc biệt, những năm gần đây, thành phố chủ động pháttriển nhà ở thương mại phục vụ tái định cư theo cơ chế đặt hàng Từng bước thựchiện cụ thể hóa chủ trương phát triển nhà ở thành phố, với tổng diện tích sàn nhà

ở từ năm 2016 đến nay đạt khoảng 25,3 triệu m2 (trong đó, nhà ở xã hội là 3,5triệu m2, nhà ở phục vụ tái định cư là 0,84 triệu m2, nhà ở thương mại là 20,96triệu m2); đến hết năm 2019, diện tích nhà ở bình quân đạt 27,09m2/người, dựkiến đến năm 2020 đạt 27,25m2/người, vượt mục tiêu đề ra Tích cực tháo gỡ khókhăn, đẩy nhanh công tác lập quy hoạch cải tạo 22 khu

Trang 18

chung cư cũ theo kế hoạch Diện tích đô thị ngày càng được mở rộng và nâng caochất lượng, dân số đô thị ngày một tăng lên; dự kiến đến cuối năm 2020 tỷ lệ đôthị hóa đạt 49,2%.

Thành phố cũng đã hoàn thành Chương trình trồng một triệu cây xanhtrước 2 năm và trồng thêm 600 nghìn cây xanh; nhiều vườn hoa, công viên đượccải tạo, xây mới, các tuyến phố được chỉnh trang hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, ngầmhóa đường dây đi nổi kết hợp chỉnh trang đồng bộ hạ tầng đô thị, tỷ lệ ngầm hóađạt 100% Tình trạng nhà siêu mỏng, siêu méo trên địa bàn thành phố cơ bảnđược khắc phục; hành lang an toàn lưới điện được bảo đảm, cung cấp điện ổnđịnh, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân; các chỉ số cung ứng điệnđược cải thiện đáng kể Thành phố cũng chú trọng đầu tư hệ thống chiếu sáng,trang trí đô thị, bảo đảm tỷ lệ chiếu sáng đạt 95 - 98%

Đời sống văn hóa, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được nâng cao Hệ

thống thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm đầu tư (tăng 60 nhà văn

hóa cấp xã, 508 nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng so với năm 2016) Tínhđến nay, thành phố có 2.155/2.394 số thôn (đạt 90%) đã có nhà văn hóa, có1.689/5.452 số tổ dân phố (đạt 31%) có nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng.Nguồn chi ngân sách đầu tư phát triển văn hóa tăng 30% so với nhiệm kỳ trước.Hoạt động nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp có nhiều khởi sắc, với nhiều sảnphẩm có chất lượng cao đứng đầu tại các cuộc thi nghệ thuật toàn quốc Phongtrào văn hóa, nghệ thuật quần chúng tiếp tục phát triển Giao lưu văn hóa trongnước, khu vực và quốc tế tiếp tục được mở rộng Nhiều sự kiện văn hóa, nghệthuật lớn, có uy tín, chất lượng cao được tổ chức thường niên tại Thủ đô Đặcbiệt, thời gian qua, thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa”, tỷ lệ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại các huyện ngoạithành Hà Nội đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” qua các năm ngày càng tăng.Công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc ngày càngđược chú trọng, tích cực vận động đồng bào xóa bỏ dần các hủ tục lạc hậu, ngănchặn, phòng ngừa tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh Cáchuyện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn đều xây dựng đề

án, kế hoạch bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại địa phương Các sở,ban, ngành thành phố đã phối hợp với ủy ban nhân dân các huyện vùng đồng bàodân tộc thiểu số và miền núi triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia

về văn hóa, nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân nói chung,đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng

Các chính sách đối với người có công, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượngbảo trợ xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số… đượcthực hiện đúng, đủ và kịp thời Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 90,1%; tỷ lệ laođộng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp đạt 95%; tốc

Ngày đăng: 11/05/2022, 08:42

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w