Từ sự phân tích trên có thể rút ra định nghĩa quy phạm là nệnh lệnh thể hiện ý chí của con người, mang tính điểu chỉnh dựa trên cơ sở phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên tà xã
Trang 1ĐỀ BÀI: Quy phạm pháp luậ t: khái niệ m, cấ u trúc, các loạ i quy phạ m
pháp luật và cho ví dụ minh hoạ
BÀI LÀM
I KHÁI NIỆM QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1 Khái niệ m quy phạm
Quy phạm theo tiếng Latinh là quy tắc, khuôn mẫu, mệnh lệnh xác định Hay nói cách khác, quy phạm là quy tắc hành vi cần thiết trong những điều kiện xác định
Các quy phạm chứa đựng các thông tin khác nhau nhưng đều có cùng trật tự hình thành giống nhau Đó là do con người trong quá trình hoạt động nhận thức được hiện thực quanh mình, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành quy tắc hành vi Các quy tắc hành vi chính là quá trình con người tích luỹ trị thức và kinh nghiệm Do đó, sự hình thành các quy tắc hành vi là quá trình thống nhất các nhân tố chủ quan và khách quan Khách quan vì đó là quá trình phản ánh quy luật vận động của tự nhiên hay xã hội Chủ quan vì là sự phản ánh của cá nhân hay nhóm xã hội đối với tính quy luật đó, và phụ thuộc vào mục đích, kết quả, và suy cho cùng là lợi ích và nhu cầu của chủ thể nhận thức ( phản ánh ) Như vậy, ý chí thể hiện trong quy phạm được hình thành dưới sự tác động của hai phía Phía này là sự tác động của các quy luật khách quan của đời sống xã hội hay
tự nhiên Phía kia là dưới ảnh hưởng của lợi ích và nhu cầu của chủ thể nhận thức Sự liên kết hai yếu tố đó quyết định nội dung ý chỉ cua quy phạm
Như vậy, quy phạm là phương tiện đăng tải những lượng thông tin xác định
về các tình huống của hành vi Nó trở thành một trong những khả năng điều chỉnh hành vi của con người Do vậy, mỗi một quy phạm có các thuộc tính sau:
- Thứ nhất , quy phạm là khuôn mẫu , thước đo của hành vi xử sự
Trang 2- Thứ hai, quy phạm được hình thành trên cơ sở nhận thức được các quy luật vận động khách quan của tự nhiên hay xã hội Do đó mỗi quy phạm là một phương
án xử sự hợp lý hành vi phù hợp với mục đích của cá nhân, giai cấp, nhóm xã hỏi hay xã hội nói chung
- Thứ ba, nội dung của quy phạm phản ánh chức năng điều chỉnh hành vi, do đó quy phạm có cấu trúc xác định Thông thường, cấu trúc của quy phạm bao gồm ba bộ phận: thông tin về trật tự hoạt động, thông tin về các điều động thông tin về hậu quả của
vi phạm quy tắc
Từ sự phân tích trên có thể rút ra định nghĩa quy phạm là nệnh lệnh thể hiện ý chí của con người, mang tính điểu chỉnh dựa trên cơ sở phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên tà xã hội, chứa đựng những thông tin tên một trật tự hợp lý của hoạt động trong một điều kiện nhất định.
Quy phạm chia làm hai loại: quy phạm kỹ thuật và quy phạm xã hội, quy phạm
kỹ thuật là mệnh lệnh dựa trên những nhận thức về các quy luật tự nhiên, còn quy phạm xã hội lại dựa trên nhận thức của các quy luật vận động của xã hội, quy phạm
kỹ thuật điều chỉnh hành vi trong mối quan hệ " con người - máy móc " , còn quy phạm xã hội lại điều chỉnh hành vi trong mối quan hệ qua lại giữa con người với nhau Sự phân định làm hai loại quy phạm nói trên căn cứ vào hậu quả của sự vi phạm quy phạm Sự không tuân thủ quy phạm kỹ thuật sẽ bị sự phản ứng từ phía tự nhiên Ví dụ, sự xem thường các quy tắc sử dụng máy truyền hình thì sẽ dẫn đến hư hỏng và thiệt hại cho người vi phạm mà không có một sự can thiệp nào của xã hội đối với người vi phạm Tuy nhiên, các quy phạm kỹ thuật tổn tại trong môi trường xã hội nên việc không tuân thủ các quy tắc kỹ thuật còn ảnh hưởng đến các thành viên khác của xã hội Vì vậy, việc sử dụng các quy phạm kỹ thuật có quan hệ với tính chất của chế độ kinh tế của xã hội và với nhà nước Do đó, không nên đối lập quy phạm
kỹ thuật với quy phạm xã hội Đồng thời, cũng không nên đồng nhất quy phạm kỹ thuật với quy phạm xã hội vì ý nghĩa giai cấp, xã hội có những nét khác biệt nhau
2 Khái niệ m quy phạm pháp luật 2
Trang 3Quy phạ m pháp luật, quy phạm đạo đức, quy phạm của các tổ chức
chính trị - xã hội, quy phạm tập quán và quy phạm tôn giáo là các quy phạm xã hội Chúng đều có thuộc tính chung là điều chỉnh các quan hệ xã hội, có tính chất giai cấp và tạo nên hệ thống các quy phạm xã hội
Quy phạm pháp luật là một dạng của quy phạm xã hội, vừa có những dấu hiệu chung của quy phạm xã hội, vừa có những đặc điểm riêng Đặc điểm riêng của quy phạm pháp luật trước hết bắt nguồn trong mối quan hệ với nhà nước Đó là:
- Theo nội dung, quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Điều đó có nghĩa là suy cho cùng quy phạm pháp luật được hình thành trên cơ sở của một phương thức sản xuất nhất định
Quy phạm pháp luật là quy tắc của hành vi có tính bắt thuộc chung, phổ biến đối với tất cả mọi người tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh
Việc thực hiện các quy phạm pháp luật được nhà nước thừa nhận và đảm bảo bằng sức mạnh cường chế của nhà nước
So với các quy phạm xã hội khác, quy phạm pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Từ những điều nói trên có thể định nghĩa: quy phạm pháp luật là quy tắc
hành vi có tính bắt buộc chung, do nhà nược đặt ra hoặc thưa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Như vậy, khái niệm quy phạm pháp luật trong một mức độ nào đó trùng với khái niệm pháp luật Điều đó là tất nhiên bởi le quy phạm pháp luật là tế bào tạo nên pháp luật.
Do đó nó phải có tất cả các dấu hiệu của pháp luật nói chung Tuy nhiên, không phải vì thế mà cho rằng quy phạm pháp luật là hình thức biểu hiện bên ngoài của pháp luật Bởi
vì quy phạm pháp luật có tất cả các thuộc tỉnh về nội dung của pháp luật Còn nguồn hay hình thức bên ngoài của pháp luật là phương thức biểu hiện của các quy phạm pháp luật
Đó chính là các văn bản quy phạm pháp luật sẽ nghiên cứu ở phần sau.
3
Trang 4II CẤU TRÚC CỦA QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Quy phạm pháp luật có cấu trúc rất đặc biệt Bởi vì nó không chỉ mô
tả quy tắc hành vi của những người tham gia quan hệ xã hội mà còn chỉ
ra hoàn cảnh tồn tại quy tắc, đồng thời mô tả cả hậu quả của sự không tuân thủ quy tắc Ở dưới dạng chung nhất, cấu trúc của quy phạm pháp luật có thể hình dung dưới dạng công thức sau: " nếu… thì… khác " Tương ứng với ba yếu tố của công thức là ba bộ phận tạo thành cấu trúc của một quy phạm pháp luật như: giả định, quy định, chế tài
1 Giả định
Giả định là bộ phận của quy phạm, quy định địa điểm, thời gian, các chủ thể, các hoàn cảnh thực tế mà trong đó mệnh lệnh của quy phạm được thực hiện, tức là xác định môi trường của sự tác động của quy phạm pháp luật Thí dụ, Điều 3 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 ghi: " Cơ sở sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có nghĩa vụ khai báo nộp thuế đầy đủ theo đúng quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt " Bộ phận giả định là " cơ sở sản xuất mặt hàng thuộc diện thuế tiêu thụ đặc biệt " Một thí dụ khác, khoản 1 Điều 137 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 viết: “ Việc điều tra kết thúc khi cơ quan điều tra ra quyết định để nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra " Ở đây, bộ phận giả định là " khi cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra " Giả dịnh có thể chia
ra giả định xác định và giả định tương đối
- Giả định xác định là sự liệt kê một cách chính xác, rõ ràng các hoàn cảnh cụ thể mà trong hoàn cảnh đó các mệnh lệnh của quy phạm
đòi hỏi phải thực hiện Ví dụ: Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình nước
Trang 5ta ban hành năm 1987 viết: " Khi ly hôn, nếu một trong hai bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng… " là giả định xác định
- Giả định tương đối, mặc dù cũng được gọi là điều kiện môi trường tác động của quy phạm, nhưng lại giới thiệu cho chủ thể áp dụng pháp luật khả năng giải quyết vấn đề trong mỗi trường hợp cụ thể có thể có mặt hoặc vắng mặt điều kiện đó Về nguyên tắc, giả định tương đối không tồn tại trong quy phạm pháp luật một cách độc lập Nó chỉ là phản bổ sung thêm cho giả định xác định Ví dụ, cũng Điều 43 nói trên viết tiếp: " Nếu hai bên không thỏa thuận dược với nhau…
" là giả định tương đối Nó chỉ là phần bổ sung thêm cho phần giả
định xác định ở trên
Để áp dụng các quy phạm pháp luật một cách chính xác, nhất quán, phần giả định phải mô tả rõ ràng, những điều kiện,
hoàn cảnh nêu ra phải sát hợp với thực tế Do đó, tính xác định là tiêu chuẩn hàng đầu của một giả định Có thể có nhiều cách phân loại giả định Căn cứ vào khối lượng có thể phân loại thành giả định đơn giản ( chỉ gồm một điều kiện tác động của quy phạm) và giả định phức tạp ( bao gồm một số điều kiện tác động của quy phạm) Theo tiêu chuẩn khả năng biểu hiện, có thể có giả định cụ thể ( điều kiện tác động của quy phạm được thể hiện dưới dạng các dấu hiệu cụ thể) hoặc giả định trừu tượng ( điều kiện tác động
của quy phạm được xác định bằng các dấu hiệu chung cùng một loại) Tuy nhiên, dù giả định nào cũng phải có tính xác thực
Quy định là yếu tố ttrung tâm của quy phạm pháp luật Bởi vì,
trong quy phạm trình bày ý chí và lợi ích của nhà nước, xã hội và cá
5
Trang 6nhân con người trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội nhất định Do
đó, trong bộ phận quy định thể hiện một cách chính xác, trực tiếp bản chất, chức năng của quy phạm và vai trò xã hội của nó Do đó, cần nắm vững bộ phận quy định của một quy phạm pháp luật là điều kiện quan trọng để thực hiện đúng đắn quy phạm
Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu quy tắc xử sự buộc mọi chủ thể phải xử sự theo khi ở hoàn cảnh
đã nêu trong phần giả định của quy phạm Thí dụ, trong quy
phạm: " Khi một bên thực hiện hợp đồng kinh tế chậm so với thời hạn ghi trong hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền không nhận sản phẩm, hàng hoa dù đã hoàn thành, có quyền đòi phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại" ( khoản 1 Điều 33 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 29/9/1989 ) thi phần quy định là" có quyền không nhận sản phẩm, hàng hoá dù đã hoàn thanh, có quyền đòi phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại ”
Tuỳ thuộc vào mức độ xác định của quy tắc hành vi mà bộ phận quy định có thể phân ra quy định xác định, quy định tuy nghi và quy định mẫu
- Quy định xác định là quy định chỉ ra một cách chính xác,
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ thể thực hiện
- Quy định tùy nghi có lúc còn gọi là quy định xác định
tương đối, quy định này nêu lên cho chủ thể một phạm vị có thể của hành vi
và chủ thể có quyền lựa chọn một phương án trong số các phương án đó của hành vi
- Quy định mẫu là quy định thiết lập quy tắc của hành vi dưới
dạng chung nhất Việc giải thích và cụ thể hoá nó thể hiện trong một văn bản pháp luật khác Đặc điểm của quy định mẫu thể hiện ở chỗ nó
Trang 7không có quan hệ vớ i mộ t quy phạ m cụ thể nào đó mà chỉ quan
hệ với một nhóm, một tập hợp quy phạm Do vậy, quy định mẫu là những quy định nguyên tắc chung hay quy định định nghĩa
Tuỳ thuộc vào khả năng thể hiện, quy định được chia ra quy
định đơn giản và quy định chi tiết Quy định đơn giản chỉ diễn tả quy
tắc của hành vi mà không nhằm vào các dấu hiệu đặc trưng và chi tiết hoá nó, quy định này khá phổ biến trong pháp luật Do vậy, kỹ thuật thể hiện đòi hỏi phải chính xác, rõ ràng, không gây ra sự nghi ngờ về
nội dung và ý nghĩa của quy định Quy định chi tiết là quy định mà
trong đó quy tắc của hành vi được chi tiết hóa thành dấu hiệu quan trọng riêng biệt và cụ thể Ví dụ, Điều 38 của Bộ luật hình sự quy định chi tiết những tình tiết giảm nhẹ
Ngoài ra còn tùy thuộc vào tính chất, phương pháp tác động lên các quan hệ xã hội mà có thể phân loại thành quy định
cấm đoán, bắt buộc hay giao quyền.
3 Chế tài
Chế tại là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối tới chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật Thí dụ, trong quy phạm " Người nào vì vụ lợi
hoặc động cơ cá nhân khác mà buộc người lao động thôi việc trái pháp luật thì bị cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù
từ ba tháng đến một năm " ( Điều 123 Bộ luật Hình sự Việt Nam ), bộ phận chế tài là " thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt từ ba tháng đến một năm "
7
Trang 8Nét đặc trưng của chế tài thể hiện ở chỗ nó là một trong những phương tiện đảm bảo thực hiện bộ phận quy định ở quy phạm pháp luật Chế tài chính là những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật
Dựa vào mức độ xác định, chế tài có thể phân ra làm ba loại: chế tài xác định, chế tài xác định tương đối, chế tài lựa chọn
- Chế tài xác định: là những biện pháp cố định của sự tác
động Đây là chế tài khá phổ biến bởi vì nó sẽ hạn chế sự tùy tiện trong việc áp dụng chế tài của các cơ quan bảo vệ pháp luật
- Chế tài xác định tương đối : là biện pháp tác động được hạn chế
bằng các giới hạn cao và thấp Khi áp dụng cho phép tính toán các
đặc điểm cá nhân người vi phạm và hoàn cảnh người vi phạm Ví dụ, trong Phần riêng Bộ luật hình sự thông thường chế tài dưới dạng xác định tương đối
- Chế tài lựa chọn: là chế tài cho phép toà án hay các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền có quyền được lựa chọn một trong số các biện pháp tác động được quy định trong nội dung của chế tải
Theo tính chất của sự phản ứng đối với vi phạm bộ phận quy định, các chế tài có thể chia ra chế tài hình phạt, chế tài khôi phục pháp luật, chế tài phủ định pháp luật
- Chế tài hình phạt: là sự phản ứng gay gắt đối với hành vi
chống đối pháp luật Chế tài này thể hiện biện pháp cưỡng chế tích cực, nhằm hướng hình phạt đến người vi phạm và giáo dục, cải tạo họ Chế tài này thường gặp trong các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng theo quan điểm của giai cấp nắm quyền lực nhà nước
Trang 9- Chể t ải khôi phục pháp luật cũng là sự phản ứng tích cực
đối với hành vi chống đối pháp luật, nhưng không hướng hình phạt đến người
vi phạm mà hướng đến việc khôi phục trạng thái trước đây, phục hồi lại trật tự pháp luật
- Chế tài phủ định pháp luật là sự phản ứng tiêu cực của
nhà nước đối với việc thực hiện không đúng đắn các mệnh lệnh mang tính kỹ thuật pháp lý Chế tài này phản ánh việc không thừa nhận tính chất pháp lý của các quan hệ mới xuất hiện Ví dụ, chế tài tiêu hôn trong luật hôn nhân và gia đình nước ta
4 Phương thức và đặc điểm thể hiện cấu trúc của quy phạm pháp luật trong điều luật
Quy phạm pháp luật và điều luật không trùng với nhau Các yếu tố cấu trúc của quy phạm pháp luật thể hiện trong điều luật không giống nhau Có thể phân tích ra các phương thức thể hiện sau đây : trực tiếp, viện dẫn và hiện mẫu
- Phương thức thể hiện trực tiếp có nghĩa là tất cả các yếu
tố cấu thành quy phạm đều được thể hiện một cách trực tiếp trong điều luật
- Phương thức thể hiện viện dẫn là phương thức không
trình bày toàn bộ các yếu tố cấu thành quy phạm trong một điều luật, mà được viện dẫn ở một điều luật khác trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật Ví
dụ, chế tài thường được quy định ở một hay hai điều cuối cùng trong một văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay
- Phương thức thể hiện mẫu cũng giống như phương thức và
dẫn, nhưng khác với phương thức viện dẫn ở chỗ có một số
điều luật 9
Trang 10thể hiệ n mộ t số bộ phận của quy phạm chung cho nhiều điều luật ở trong các văn bản quy phạm khác nhau mà không ở trong cùng một văn bản
Phương thức viện dẫn và hiện mẫu cho phép tránh được việc lặp lại không cần thiết Xong, trong việc vận dụng
và áp dụng lại không thuận lợi bằng phương thức trực tiếp
III PHÂN LOẠI QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Có thể có nhiều cách phân loại quy phạm pháp luật Thông thường,
có ba cách phân loại phổ biến sau đây
1 Phân loại dựa vào vai trò khác nhau trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Dựa vào tiêu chí này các quy phạm pháp luật có thể chia
ra ba dạng cơ bản sau:
- Quy phạm điều chỉnh là các quy phạm thiết lập các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của những người tham gia các quan hệ xã hội Các quy phạm này hướng đến việc hình thành các hành vi hợp pháp Đây là dạng quy phạm khá phổ biến trong pháp luật xã hội chủ nghĩa
- Quy phạm bảo vệ là quy phạm xác định trước các biện pháp tác
động mang tính cưỡng chế nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật Đây là quy phạm đối với hành vi không hợp pháp và luôn luôn bị tác động bởi chế tài Các quy phạm của Bộ luật hình sự, đặc biệt là phần riêng thường là quy phạm bảo vệ Sự tác động qua lại của quy phạm điều chỉnh và quy phạm bảo vệ là ở chỗ quy phạm điều chỉnh nhằm điều chỉnh hành vi tích cực của con người còn quy phạm bảo vệ
10