HỒ CHÍ MINHKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬNMÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC –LÊNIN QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LENIN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VỚI THỰC TRẠNG Ô NHI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬNMÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC –LÊNIN QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LENIN VỀ
VẬT CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ VỚI THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
GVHD: ThS Nguyễn Thị Tri Lý Sinh viên thực hiện:
3 Lê Nguyễn Nhật Tân 20132101
4 Đỗ Quốc Lê Khang 20132087
5 Lương Ngọc Hải Đăng 20132180
Mã lớp học: LLCT130105
Thành phố Hổ Chí Minh, Tháng 12 năm 2020
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Điểm:…………
Ký tên
Trang 3MỤC LỤC
A Phần mở đầu 1
B Đặt vấn đề 2
C Mục tiêu nghiên cứu 3
D NỘI DUNG 1
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM VỀ VẬT CHẤT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT 1
1.1 Quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học trước Mác 1
1.1.1 Quan niệm về vật chất trong triết học Trung Quốc cổ đại 1
1.1.2.Quan niệm về vật chất trong triết họcHy Lạp cổ đại 2
1.1.3.Quan niệm về vật chất trong triết học phương Tây 3
1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về vật chất 4
1.2.1 Khái niệm vật chất 4
1.2.2 Phương thức tồn tại của vật chất 5
1.2.3 Hình thức tồn tại của vật chất 6
1.3 Ý nghĩa rút ra khi nghiên cứu phạm trù vật chất 8
1.3.1 Ý nghĩa lý luận 8
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 9
2.1.Khái niệm ô nhiễm môi trường 9
2.2 Những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 9
2.2.1 Nguyên nhân khách quan 9
2.2.2.Nguyên nhân chủ quan 9
2.3 Thực trạng của ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 12
2.3.1 Ô nhiễm môi trường đất 10
2.3.2 Ô nhiễm môi trường nước 11
2.3.2 Ô nhiễm môi trường không khí 11
2.4 Giải pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 13
2.4.1 Về phía nhà nước 13
2.4.2 Về phía người dân 14
2.4.3 Về phía sinh viên 14
E KẾT LUẬN 15
F TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4A Phần mở đầu
Từ khi ra đời cho đến nay, lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai trườngphái chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm Cuộc đấu tranh đó trước hết xuất phát
từ việc lý giải vấn đề căn nguyên của thế giới
Đứng trước vô số các sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới xung quanh, cácnhà triết học đều đưa ra câu hỏi cái gì đã tạo ra chúng trong rất nhiều ý kiến khác nhau
đó, tựu trùng lại, có hai loại ý kiến đối lập nhau
Có loại ý kiến cho rằng, cái sinh ra các sự vật, hiện tượng phong phú, đa dạngcủa thế giới xung quanh chúng ta là tinh thần quan điểm này là quan điểm duy tâm.Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng tư duy, ý thức của con người là xuất phát điểm,
là nguyên nhân, cội nguồn của mọi sự vật, hiện tượng chúng chẳng qua chỉ là nhữngphức hợp của các cảm giác, tư giác vv… của chúng ta mà thôi Còn chủ nghĩa duy tâmkhách quan thì luận giải rằng có một thực thể tinh thần tồn tại trước thế giới vật chất,
tự nhiên, xã hội và con người là ý niệm tuyệt đối Đối lập với chủ nghĩa duy tâm là chủnghĩa duy vật, chủ nghĩa duy vật cho rằng thế giới này là vật chất, vật chất là cơ sở tồntại của mọi sự vật, hiện tượng; mọi sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta chỉ là sựbiểu hiện các dạng khác nhau của vật chất đang vận động ( quan điểm duy vật ) Đốivới chủ nghĩa duy vật nói chung, phạm trù vật chất là phạm trù xuất phát, cơ bản,trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống triết học của mình
Hiện nay nước ta đang là một nước đang phát triển, tiến lên không ngững nỗ lực
để cải thiện nên kinh tế, làm cho nền kinh tế ngày một vững mạnh hơn nữa Chúng takhông ngừng trau dồi kinh nghiệm học hỏi bạn bè năm châu Nhưng cũng chính vìmuốn phát triển kinh tế nhanh như vậy mà chúng ta lại bỏ qua vần để ô nhiểm môitrường hiện nay
Trang 5B Đặt vấn đề
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm Ngay cảlúc mới ra đời , xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoannhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Đồng thời , giống lâu thời phạm trùkhác , phạm trù vật chất có quá trình phát sinh và phát triển gắn liền với hoạt động thựctiễn của con người và với sự hiểu biết của con nguời về thể giới tự nhiên
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thể giới, cơ sở của mọi sựtồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là " ý chí của thượng đế " là " ý niệmtuyệt đối " Chẳng hạn, Platon nhà hiểt học duy tâm khách quan lớn nhẩt thòi cổ cho rằng,vật chất bắt nguồn từ " ý niệm '', sự vật cảm tính là cái bóng của " ý niệm" Mặt khác, ông
tỏ ra căm thù chủ nghĩa duy vật, nhắt là cảc môn đồ của Đômôcrit Hêghen nhà duy tâmkhách quan của triết học cổ điển Đức cho rằng vật chất là do " ý niệm tuyệt đối sinh ra ".Mặt khác, ông có thái độ thiên lệch đối với chủ nghĩa duy vật, đã cố tinh xuyên tạc, vukhống triết học duy vật của Hêrclít và Êpiquya Béccli đã hệ thống hóa quan điểm của chủnghĩa duy tâm chủ quan đưa ra một công thức chung " tổn tại tức là được tri giác " Ýnghĩa của công thức này là mọi sự vật chỉ tồn tại trong chừng mực con người cảm thấychúng, cái gì ngoài tri giác là không tồn tại, không có chủ thể thì không có khách thể Côngthức này đã phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chẩt, kể cả con ngưòi, tất yếu dẫn tớichủ nghĩa duy ngã , nghĩa là ngoài cái" tôi " ra thì không có cái gì hết
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thể giới là vật chất, cái tồntại một cách vĩnh cửu , tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng với những thuộc tính củachúng
Trang 6C Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích được quan điểm của triết học Mác – Lênin về vật chất
Phân tích được quan điểm của triết học Mác – Lênin về phương thức và hìnhthức tồn tại của vật chất
Phân tích được ý nghĩa của phương pháp luận
Liên hệ được cơ sở lý thuyết với vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam nhằmthấy được quan điểm của triết học Mác - Lênin về nguyên nhân xảy ra ô nhiễm môitrường Từ đó, tạo cơ sở cho mỗi người hướng giải pháp cá nhân và giải pháp chungcủa nhà nước ta
Trang 7D NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM VỀ VẬT CHẤT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT 1.1 Quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học trước Mác
1.1.1 Quan niệm về vật chất trong triết học Trung Quốc cổ đại
Triết học Trung Quốc cổ đại bàn nhiều đến những vấn đề chính trị – xãhội, đến những vấn đề đạo đức, cách ứng xử của con người trong các quan hệ
xã hội Tuy nhiên, triết học Trung Quốc cổ đại cũng có những trường phái triếthọc, khi giải thích các hiện tượng tự nhiên đã nêu lên quan niệm của mình vềvật chất
Theo cuốn Lịch sử triết học do NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm
1998, (GS TS Nguyễn Hữu Vui chủ biên), thì: Thuyết Âm – Dương cho rằng
có hai lực lượng âm – dương đối lập nhau, nhưng lại gắn bó, cố kết với nhautrong mọi vật, là khởi nguyên của mọi sự sinh thành, biến hoá Âm – dương làđiều kiện tồn tại của nhau, là động lực của mọi sự vận động và phát triển Âm –dương biểu hiện dưới dạng cụ thể như: mặt trời – mặt trăng; sáng – tối; cao –thấp; ngắn – dài; cứng – mềm; nóng – lạnh; nam – nữ; cha – mẹ; chồng – vợ;nhanh – chậm; thịnh – suy, v.v Không có cái gì thuần âm, hay thuần dương
Phái Ngũ hành cho rằng có 5 yếu tố vật chất nguyên thuỷ là Kim (Kimloại), Mộc (Cây cối), Thuỷ (Nước), Hoả (Lửa), Thổ (Đất) Các yếu tố vật chấtnguyên thuỷ ấy không ở trạng thái tĩnh tại, đứng im mà luôn vận động, không
cô lập với nhau mà quan hệ mật thiết với nhau và chuyển hoá lẫn nhau tạo nêncác vật trong thế giới Cơ chế của sự chuyển hoá đó được biểu hiện ở chỗ: Cáinày sinh ra cái kia (tương sinh), hoặc cái này khắc cái kia, kìm hãm, chế ngự,thủ tiêu cái kia (tương khắc) theo một chu kỳ tuần hoàn:
“Tương sinh: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinhHỏa, Hỏa sinh Thổ và lại tiếp tục quá trình Thổ sinh Kim
Tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắcMộc, Mộc khắc Thổ và lại tiếp tục quá trình Thổ khắc Thủy
Họ còn cho rằng 5 yếu tố vật chất này có 5 tính năng gọi là 5 đức để giảithích nguồn gốc, chủng loại của các hiện tượng tự nhiên
Ngũ hành: Thổ (Đất) – Kim (Kim loại) – Thuỷ (Nước) – Mộc (Cây cối)– Hỏa (Lửa)
1
Trang 8tự vận động biến đổi của thế giới Họ giải thích nguyên nhân của sự biến đổicủa thế giới là do sự tác động của thế giới, tức tính tự tồn tại, tự vận động biếnđổi của thế giới Họ giải thích nguyên nhân của sự biến đổi của thế giới là do sựtác động của 2 hoặc 5 yếu tố vật chất đầu tiên, từ đó tạo nên các dạng vật chất
vô cùng đa dạng trong thế giới Sự tồn tại, biến hoá của các vật trong thế giớikhông phải do tinh thần, hay do lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên nào đóquyết định, mà do sự tác động lẫn nhau của chính các yếu tổ vật chất quyếtđịnh
1.1.2 Quan niệm về vật chất trong triết học Hy Lạp cổ đại
Ở Hy Lạp cổ đại, từ thế kỷ VI đến thế kỷ IV tr.CN với sự phát triếnmạnh mẽ của sản xuất, của nghề thủ công, sự giao lưu buôn bán mở rộng, sự rađời, tồn tại hai quốc gia thành bang hựng mạnh nhất là Athenes và Spartes,cũng là lúc văn hoá cổ Hy Lạp phát triển rực rỡ nhất Điều kiện kinh tế, vănhoá, xã hội của Hy Lạp cổ đại đó tạo điều kiện cho tư tưởng triết học phát triểnrất phong phú Các trường phái triết học thể hiện khá rõ nét, trong đó trườngphái duy vật và duy tâm là chủ yếu Sự đấu tranh giữa hai trường phái triết họcnày là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy triết học Hy Lạp cổ đạiphát triển Trong khi giải thích thế giới, các nhà triết học ở Hy Lạp cổ đại đãđưa ra nhiều quan niệm khác nhau về vật chất
Anaximan cho rằng nguồn gốc và cơ sở của mọi vật không phải là nước
mà là Apeirôn (theo tiếng Hy Lạp Apeirôn hay Apâyrông – nghĩa là treo lơlửng) Theo ông, Apeirôn là cái không có hình thức xác định, là vô cùng, vôtận, tồn tại vĩnh viễn khắp mọi nơi trong vũ trụ Apeirôn không phải là nước,cũng không phải là lửa, là cái trung gian giữa nước và lửa, nhưng mọi vật đềuđược sinh ra từ nó Quan niệm của Anaximan về Apeirôn thể hiện sự cố gắngcủa nhà triết học muốn thoát khỏi tính hạn chế của việc đồng nhất vật chất nóichung với một dạng cụ thể của nó Nhưng do trình độ hiểu biết của con người
về thế giới còn rất hạn chế, nên vẫn coi có một dạng vật chất đầu tiên làApeirôn (do tưởng tượng ra) làm cơ sở của mọi vật
Anaximen (khoảng 588 – 525 tr.CN) (là học trò của Anaximan) lại chorằng không khí là nguồn gốc của tất thảy mọi vật, là cái vô định hình mà ngay
cả Apeirôn cũng chỉ là tính chất của không khí Không khí loãng ra thì tạothành lửa, sau đó là một dạng ête, không khí đặc lại thì tạo thành gió, mây, sau
đó là nước, đất, đá Mặt trời thực chất cũng chỉ là đất bị đốt cháy do chuyểnđộng quá nhanh Ngay cả linh hồn của con người cũng chỉ là không khí, vì thếngười ta không thể sống nếu thiếu không khí Điều trình bày trên đây chothấy thích một số hiện tượng tự nhiên, tìm mối liên hệ giữa các hiện tượng đó,thậm chí cả mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất Tuy nhiên Anaximen vẫn chorằng thế giới được sinh ra từ vật chất đầu tiên và đồng nhất vật chất đầu tiên đóvới một dạng cụ thể của vật chất là không khí
2
Trang 9Hêraclit (sinh khoảng 544 – 541 tr.CN và không rõ mất thời gian nào) lànhà triết học Hy Lạp cổ đại có nhiều tư tưởng biện chứng rất sâu sắc Ông chorằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi vật trong thế giới, cho nên mọi vật linh độngnhư ngọn lửa Mọi cái biến thành lửa và lửa thành mọi cái tương tự như trao đổivàng thành hàng hoá và hàng hoá thành vàng Lửa là cơ sở của mọi vật, đồngthời là khởi nguyên sinh ra mọi vật, lửa không chỉ sản sinh ra các sự vật vậtchất mà còn sinh ra cả những hiện tượng tinh thần, cả linh hồn con người.
Đêmôcrit (khoảng 460-370 tr.CN), cho rằng khởi nguyên thế giới khôngphải là một sự vật cụ thể nào đó như nhiều nhà triết học trước đó quan niệm mà
là các nguyên tử (tức tồn tại) và khoảng không (tức cái không – tồn tại).Nguyên tử và khoảng không đều là các nguyên nhân vật chất (theo nhận xét củaArixtốt) Nguyên tử và khoảng không có nhiều đặc tính khác nhau: Nguyên tửthì đậm đặc, vững chắc không thể phân chia, khoảng không thì trống rỗng;nguyên tử thì đa dạng, khoảng không thì thuần nhất; nguyên tử thì có kíchthước hình dạng nhất định, còn khoảng không thì vô tận và không có hình dạngnhất định nào cả
Theo Đêmôcrít, nguyên tử có nhiều hình dạng khác nhau như hình cầu,hình tam giác, hình lõm v.v Các nguyên tử còn khác nhau về thể trạng và tưthế Các nguyên tử không thể biến hoá từ nguyên tử này sang nguyên tử kia màtồn tại vĩnh viễn Chính sự đa dạng về hình thức của các nguyên tử và sự kếthợp các nguyên tử trong khoảng không tạo nên sự đa dạng của các sự vật trongthế giới Quan niệm của Đêmôcrit về nguyên tử là sự kết họp quan niệm củaHêraclít và Parmanít về tồn tại, vừa cho rằng tồn tại là bất biến (nguyên tử làbất biến) vừa cho rằng thế giới luôn luôn biến đổi (Sự kết họp các nguyên tử tạonên các vật thường xuyên thay đổi) Quan niệm của Đêmôcrít về nguyên tử đãgiải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên, là đỉnh cao của quan niệm triết họcduy vật.thời kỳ cổ đại về phạm trù vật chất Quan niệm đó đã khẳng địnhnguyên nhân vật chất của thế giới, đồng thời cho rằng có vật chất ban đầu lànguyên tử Nguyên tử là giới hạn cuối cùng của vật chất, không thể có yếu tốvật chất nào là bộ phận của nguyên tử
1.1.3 Quan niệm về vật chất trong triết học phương Tây
Từ cuối thế kỷ XVI, do nhu cầu của sản xuất, khoa học tự nhiên thựcnghiệm bắt đầu được phát triển Đen thế kỷ XVII – XVIII khoa học tự nhiênphát triển mạnh mẽ nhờ ứng dụng được các thành tựu của toán học và cơ học.Nhiều môn khoa học mới ra đời và đạt được những kết quả mới trong việcnghiên cứu tự nhiên, như quang học, điện và từ, thiên văn học, hoá học, độngvật học và thực vật học Những thành tựu của khoa học tự nhiên trên các lĩnhvực khác nhau đã tạo điều kiện cho sự khái quát triết học về phạm trù vật chấttiến lên một bước mới, không dừng lại ở các giả định mà là những khái quátdựa trên những tài liệu thực tế của khoa học Tuy nhiên, khoa học thế kỷ XVII
3
Trang 10– XVIII mới là những khoa học nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của thế giới,những tài liệu về mối liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau còn chưa có Phươngpháp nghiên cứu khoa học thời kỳ này chủ yếu là phương pháp phân tích, tiến
từ cái toàn thể đến cái bộ phận, sự phân chia thế giới thống nhất ra thành các bộphận để tìm hiểu Chính do ảnh hưởng của phương pháp nghiên cứu khoa họcthời kỳ này nên quan niệm về vật chất trong thời kỳ này mang tính chất siêuhình, máy móc
Các nhà triết học quy thế giới vào 1 chỉnh thể thống nhất từ đó đi tìmbản nguyên VC đầu tiên cấu tạo nên TG đó, chẳng hạn người ta cho rằng vậtchất là nước, không khí, lửa Một số quan điểm điển hình thời kỳ này là:Taket coi vật chất là nước, Anaximen coi vật chất là không khí, Heraclitus coivật chất là lửa, Anximangdo coi vật chất là hạt praton, đây là một thực thểkhông xác định về chất Đặc biệt đỉnh cao của quan niệm về vật chất của thời
kỳ Hy Lạp cổ đại là thuyết nguyên tử của Leucipe và Democritos Theo thuyếtnày thì thực thể tạo nên thế giới là nguyên tử và nó là phần tử nhỏ bé nhất vàkhông thể phân chia được, khôg thể xâm nhập và quan sát được, chỉ có thể nhậnbiết được bằng tư duy Các nguyên tử không khác nhau về chất mà chỉ khácnhau về hình dạng Sự kết hợp các nguyên tử khác nhau theo một trật tự khácnhau sẽ tạo nên vật thể khác nhau Thuyết nguyên tử tồn tại đến cuối thế kỷ 19đầu thế kỷ 20 mới bị khoa học đánh đổ và có hạn chế lịch sử nhất định Tuynhiên nó có ý nghĩa to lớn đối với sự định hướng cho sự phát triển khoa học nóichung đặc biệt là lĩnh vực vật lý sau này Đồng thời nó có tác dụng to lớn trongcuộc đấu tranh chống CNDT, thần học, tôn giáo…
1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về vật chất
1.2.1 Khái niệm vật chất
Kế thừa tư tưởng của C Mác và Ph ăngghen; tổng kết những thành tựukhoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấutranh chống chủ nghĩa duy tâm, V.I Lênin đã định nghĩa:
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đượcđem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
Ở định nghĩa này, V.I.Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng:
Trước hết là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học vớicác quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể củacác đối tượng các dạng vật chất khác nhau Vật chất với tư cách là phạm trùtriết học dùng chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mấtđi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giớihạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, không thể quyvật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với
4
Trang 11những dạng cụ thể của vật chất như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận đại
đã làm
Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biếtvật chất chính là thuộc tính khách quan Khách quan, theo V.I.Lênin là "cáiđang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người" Trong đờisống xã hội, vật chất "theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức
xã hội của con người" Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không
có nghĩa gì khác hơn: "thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người
và được ý thức con người phản ánh"
Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung cơbản sau:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức,bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lêngiác quan của con người
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất
Với những nội dung cơ bản như trên định nghĩa vật chất của V I Lênin có nhiều ýnghĩa to lớn
- Khi khẳng định vật chất là "thực tại khách quan được đem lại cho con người trongcảm giác", "tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác", V.I.Lênin đã thừa nhận rằng, trongnhận thức luận, vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ýthức Và khi khẳng định vật chất là cái "được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,phản ánh", V.I.Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khácnhau (chép lại, chụp lại, phản ánh ) con người có thể nhận thức được thế giới vậtchất Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩaduy tâm, bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc phục được những hạn chế trong cácquan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất Đồng thời, định nghĩa vật chấtcủa V.I.Lênin còn có ý nghĩa định hướng đối với khoa học cụ thể trong việc tìm kiếmcác dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới
- Khi nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất củaV.I.Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Từ đó giúp cácnhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến
cố xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; trên cơ
sở ấy, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội pháttriển
1.2.2 Phương thức tồn tại của vật chất
Ph Enghen định nghĩa: vận động hiểu theo nghĩa chung nhất – tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,
kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
5