Logistics Administration Council quan niệm “logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -
CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS NHỮNG BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Họ và tên : Nguyễn Linh Nga
MSV: 19063111
HÀ NỘI – 2022
Trang 21
Mục Lục
Đặt vấn đề 2
I.Tổng quan về dịch vụ logistics 2
1.1 Khái niệm Logistics 2
1.2 Đặc điểm của dịch vụ logistics 4
1.3 Các hình thức logistics 5
1.4 Dịch vụ E - logistics (dịch vụ logistics điện tử) 6
II Thực trạng của pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam 7
2.1 Khung pháp lý cho hoạt động logistics 7
2.2 Bất cập trong khung pháp luật 8
Tài liệu tham khảo 11
Trang 32
Đặt vấn đề
Kinh tế Việt Nam qua những năm sau chiến tranh đã vô cùng phát triển cùng với đó khối lượng hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều Điều này gắn liền với sự phát triển của dịch vụ Logistics Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, dịch vụ logistics đã trở thành một ngành dịch
vụ rất quan trọng trong giao thương nội địa và quốc tế mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp đầu tư và khai thác Pháp luật nước ta đã chú trọng đến vấn đề về logistics tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập trong các quy định điều chỉnh về dịch vụ này Do đó trong bài viết này em sẽ trình bày về vấn đề “ Các vấn đề pháp lý về dịch vụ logistics- những bất cập trong pháp luật hiện hành”
I.Tổng quan về dịch vụ logistics
1.1 Khái niệm Logistics
Logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực quân sự Logistics được các quốc gia sử dụng rất nhiều qua các cuộc chiến tranh nhằm điều động lực lượng quân đội cùng với đó là vận chuyển vũ khí, lượng thực đảm bảo khâu hậu cần cho lực lượng chiến đấu Do đó hoạt động logistics có tác động rất lớn tới các cuộc chiến đấu trên chiến trường
Khái niệm logistics bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực kinh doanh từ những năm
50 của thế kỉ XX khi mà dịch vụ cung ứng và vận tải trên thế giới ngày càng phức tạp do quá trình toàn cầu hóa Khái niệm logistics trong hoạt động kinh doanh có thể được định nghĩa là dịch vụ cung ứng đúng hàng hoá, đúng chất
Trang 43
lượng, đúng thời gian, đúng địa điểm và đúng giá đồng thời là khoa học về quy trình (science of process) và nó liên quan đến tất cả các ngành kinh tế 1
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về dịch vụ logistics :
Năm 1988, Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC- The US Logistics
Administration Council) quan niệm “logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”.2
Theo tài liệu giảng dạy của trường Đại học hàng hải thế giới thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu
tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” 3
Chủ tịch học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward Frazelle
thì cho rằng “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng” 4
Luật Thương mại năm 2005, lần đầu tiên, đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics
tại điều 233 như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ
1 TS Bùi Ngọc Cường, Pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số 5/2008
2 Douglag M Lambert (1998), Fundermental of logistics, McGraw – Hill., tr 4
3 Ma Shou (1999), Logistics and Supply Chain Management, World Marintime University., tr 5
4 Edward Frazelle (2003), Supply Chain Strategy, Logistics Management Library, tr 6
Trang 54
khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics
có thể chia làm hai nhóm:
Nhóm định nghĩa hẹp tiêu biểu là định nghĩa trong Luật Thương mại 2005 coi logistics hầu như tương tự với hoạt động giao nhận và vận chuyển hàng hóa mang yếu tố vận tải là chính
Nhóm định nghĩa rộng thì logistics gắn liền với tất cả giai đoạn, từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, khai thuê hải quan, giao nhận, phân phối, ….với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình từ nhập nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng 5
1.2 Đặc điểm của dịch vụ logistics
Về chủ thể, Chủ thể tham gia vào dịch vụ logistics bao gồm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng sử dụng dịch vụ logistics Trong đó, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng là người có nhu cầu cần sử dụng dịch vụ giao nhận vận chuyển hàng hóa Khách hàng sử dụng dịch vụ logistics có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân, có thể là chủ sở hữu hàng hoá hoặc không phải chủ sở hữu hàng hoá
Về nội dung, nội dung của dịch vụ logistics rất đa dạng: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách
5 Tạ Thị Thùy Trang (2018), Pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics trong hoạt động thương mại điện tử, Nghiên cứu Lập pháp, số 17(369), T9/2018.
Trang 65
hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá Dịch vụ logistics mang tính chất là một quá trình liên hoàn không mang tính chất đơn lẻ Các khâu trong quá trình đều được được tiến hành theo kế hoạch đã định trước, tính toán chi tiết để hàng hoá được dịch chuyển liên tục trong các khâu của chuỗi từ đó tiết kiệm tối đa thời gian cũng như chi phí vận chuyển
Về mặt hình thức: Dịch vụ logistics được thực hiện trên cơ sở hợp đồng song
vụ có tính đền bù
1.3 Các hình thức logistics
Các hình thức logistics được phân loại theo số lượng bên liên quan, cụ thể có 4 hình thức logistics chủ yếu sau:
1PL – First Party Logistics (logistics tự cấp): là việc những người sở hữu hàng hóa tự tổ chức, thực hiện các hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân họ
2PL- Second Party Logistics (Cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai): Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là chuỗi những người cung cấp dịch vụ dịch vụ đơn lẻ trong dịch vụ logistics như( vận tải, kho vận, thủ tục thanh toán)
3PL- Third Party Logistics (Cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba hay logistics theo hợp đồng): là những người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các các hoạt động logistics có thể là toàn bộ quá trình logistics hoặc một số hoạt đôgnj được ký kết trong hợp đồng
4PL- Four Party Logistics (Cung cấp dịch vụ logistics thứ tư hay logistics chuỗi phân phối, hay nhà cung cấp logistics chủ đạo): là người rích hợp, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các tổ chức khác
để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics
Trang 76
Trong những năm gần đây gắn liền với sự bùng nổ của internet gắn liền với đó
là thương mại điện tử Hình thức 5PL-Fifth Party Logistics (cung cấp dịch vụ logistics bên thứ năm) còn được gọi là E-Logistics ra đời Dịch vụ bao gồm các 3PL và 4PL quản lý và vận hành các bên liên quan trong chuối phân phối trên sàn thương mại điện tử.6
Bên cạnh đó theo quy định của pháp luật Việt Nam dịch vụ logistics còn được phân ra làm 17 loại hình theo quy định nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ bao gồm: 1 Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay; 2 Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; 3 Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải; 4 Dịch vụ chuyển phát; 5 Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa; 6 Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan); 7 Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải; 8 Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán
lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng; 9 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển; 10 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa; 11 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt; 12 Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ; 13 Dịch vụ vận tải hàng không; 14 Dịch vụ vận tải đa phương thức; 15 Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật; 16 Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác; 17 Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật Thương mại.7
1.4 Dịch vụ E - logistics (dịch vụ logistics điện tử)
6 https://pdf.usaid.gov/pdf_docs/PA00TNSB.pdf
7 Điều 3, nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017
Trang 87
Dịch vụ E-logistics là một loại dịch vụ hậu cần được thực hiện thông qua môi trường Internet Hiện nay thương mại điện điện tử đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam: có hơn 70% dân số Việt Nam tiếp cận với mạng internet, trong đó 53% người dân sử dụng ví điện tử và thanh toán mua hàng qua mạng Theo Cục Thương mại điện tử và kinh tế số, thương mại điện tử Việt Nam tăng trưởng ấn tượng trong năm 2020 với mức tăng 18%, quy mô thị trường 11,8 tỉ USD, ước tính chiếm 5,5% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước Theo Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021-2025, đến năm 2025 sẽ có 55% dân số tham gia mua sắm trực tuyến với giá trị mua hàng hóa, dịch vụ trực tuyến bình quân đạt 600 USD / người / năm.8
Với sự tăng vọt về số người dùng các sàn thương mại điện tử, đã phát sinh một loại hình logistics mới là E-logistics Loại hình này có nhiều khác biệt lớn so với loại hình dịch vụ logistics truyền thống khi mang tính chất hiện đại áp dụng nhiều công nghệ để đem lại những hiệu quả cao hơn, hướng đến phát triển theo khuynh hướng dịch vụ logistics bên thứ năm (fifth party logistics- 5PL) Tuy nhiên loại hình này vẫn chưa được định nghĩa cụ thể trong các văn bản pháp luật dẫn đến sự nhầm lẫn về bản chất của logistics và E - logistics
II Thực trạng của pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam
Dịch vụ logistics đang đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Do vậy các nhà làm luật đã chú ý và xây dựng bộ khung pháp lý để quản
lý hoạt động dịch vụ này tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập trong những quy định của pháp luật
2.1 Khung pháp lý cho hoạt động logistics
8
https://vietnamcredit.com.vn/news/overview-of-vietnams-e-commerce-market-in-2021_14374#:~:text=Vietnam's%20e%2Dcommerce%20market%20is,modern%20and%20prestigious%20distri bution%20channel
Trang 98
Việt Nam đã ban hành nhiều quy định pháp luật, chính sách, chủ trương liên quan tới hoạt động logistics, đặc biệt là hai văn bản Luật Thương mại 2005 và Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh và trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là hai văn bản pháp lý cao nhất trực tiếp điều chỉnh dịch
vụ logistics tại Việt Nam Các quy định trong những văn bản pháp luật này trực tiếp điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên khi sử dụng dịch vụ logistics, điều kiện để kinh doanh, những nội dung trong hợp đồng dịch vụ logistics và đồng thời hướng dẫn đến những quy phạm về logistics trong văn bản pháp luật khác
Ngoài hai văn bản trên thì những quy định điều chỉnh dịch vụ logistics còn nằm rải rác ở một số luật và nghị định khác như Luật Đầu tư 2014, Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định số 28/2018/NĐ-CP ngày 01/03/2018, Nghị định số 69/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương…
2.2 Bất cập trong khung pháp luật
Thứ nhất, về khái niệm dịch vụ logistics được quy định trong văn bản pháp luật nước ta vẫn đang còn hẹp Như đã đề cập ở phần khái niệm logistics thì Luật Thương mại 2005 mới chỉ định nghĩa dịch vụ logistics theo nghĩa hẹp Trong khi loại hình dịch vụ này không phải một hành động đơn lẻ mà là toàn bộ chuỗi các hoạt động liên tục từ bắt đầu lưu chuyển nguyên liệu vật tư cho đến khi giao đến tay người dùng thì trong định nghĩa của pháp luật nước ta chỉ cần thực hiện một hoặc nhiều công việc là không đúng với thực tế bản chất của dịch vụ logistics
Thứ hai, pháp luật hiện hành thiếu những quy định pháp lý về dịch vụ
e-logistics Dù cho hoạt động thương mại điện tử đang phát triển rất mạnh mẽ đặc biệt là sau đại dịch COVID- 19 tuy nhiên dịch vụ e-logistics vẫn chưa được quy định một cách rõ ràng trong các văn bản pháp luật Việt Nam đã ban hành rất nhiều những văn bản điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử như Luật giao
Trang 109
dịch điện tử của Việt Nam có hiệu lực từ 1/3/2006, Luật Công nghệ thông tin ngày 29/11/2015, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ
về thương mại điện tử… Tuy nhiên, hiện nay, do chưa có những quy định cụ thể nên nhiều người không phân biệt hai khái niệm e-logistics và logistics dẫn đến việc không ít người còn đồng nhất hai khái niệm này với nhau Việc nhầm lẫn này dẫn đến việc đánh giá không đúng vị trí của hoạt động này đồng thời ảnh hưởng đến chức năng của chúng trong hoạt động giao dịch
Thứ ba, hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh logistics đang còn
chưa thống nhất nhiều quy định đang còn nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau ví dụ quy định về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng dịch vụ Logistics nằm rải rác trong nhiều văn bản Những điều luật này không nằm tập trung tại một văn bản pháp lý nhất định mà nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, việc này gây ra nhiều khó khăn trong quá trình thỏa thuận và ký kết giữa các bên khi phải tuân thủ và đáp ứng đủ tiêu chuẩn ở các văn bản
Thứ tư, quy định về thẩm quyền quản lý dịch vụ logistics đang còn thiếu đồng
bộ Việc quy định về phân cấp quản lý hoạt động logistics hiện nay ở nước ta đang còn chồng chéo dẫn đến việc tốn kém cho doanh nghiệp Theo quy định của Nghị định số 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức và Nghị định số 144/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định về vận tải đa phương thức (Nghị định số 87/2009/NĐ-CP) thì Bộ Giao thông Vận tải là cơ quan cấp giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức Trong khi đó, theo quy định của LTM 2005, Bộ Công Thương là cơ quan quản lý nhà nước về logistics, việc đăng ký kinh doanh lại do Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện Trong khi đó, theo quy định của Điều 8 Luật Giao dịch điện tử năm 2005, nếu hoạt động Logistics thông qua các phương tiện điện tử thì hoạt động này còn chịu sự quản lý của Bộ Thông tin và