1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (8,5đ)

45 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Pháp Tự Học Của Sinh Viên Lớp Thanh Tra 21B, Khoa Pháp Luật Hành Chính, Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội
Trường học Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật hành chính
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN LỚP THANH TRA 21B, KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI Học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học Mã phách Hà Nội 2022 LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian học môn phương pháp nghiên cứu khoa học em đã được giảng viên bộ môn truyền đạt cho những kiến thức lý luận nhưng chưa có nhiều cơ hội va chạm thực tiễn, qua bài thi kết thúc học phần, em đã có.

Trang 1

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN LỚP THANH TRA 21B, KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học

Mã phách:………

Hà Nội - 2022

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học môn phương pháp nghiên cứu khoa học em đã được giảng

viên bộ môn truyền đạt cho những kiến thức lý luận nhưng chưa có nhiều cơ hội va

chạm thực tiễn, qua bài thi kết thúc học phần, em đã có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về học

phần phương pháp nghiên cứu khoa học, môn đem lại lại nhiều lợi ích cho quá trình thi

và phục vụ cho em sau khi ra trường làm việc

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến giảng viên bộ môn đã chỉ bảo tận

tình giúp đỡ em trong quá trình học và thi kết thúc học phần

Nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm nên bài vẫn còn nhiều thiếu sót trong quá

trình tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của

thầy cô để bài em hoàn thiện hơn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học “Phương pháp tự học của sinh viên

lớp Thanh Tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội” là

công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung của đề tài dựa trên quan điểm cá nhân của riêng tôi, trên cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn với sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn phương pháp nghiên cứu khoa học

Các số liệu được trình bày trong đề tài là nguồn số liệu mà tôi khảo sát thực tiễn

để có được Không sao chép bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào Các số liệu kết quả trong đề tài đều trung thực và rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 04 tháng 03 năm 2022

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 5 1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.1 Khái niệm tự học 5

1.1.2 Khái niệm sinh viên 5

1.1.3 Khái niệm phương pháp tự học của sinh viên 6

1.2 Đặc điểm và vai trò cơ bản của tự học 6

1.3 Vấn đề tự học của sinh viên 7

1.3.1 Mục đích học của sinh viên 7

1.3.2 Thời gian tự học của sinh viên 8

1.3.3 Ý thức và hình thức tự học của sinh viên trong lớp học 9

1.3.4 Chuẩn bị bài trước khi lên lớp 10

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự quá trình tự học của sinh viên 11

1.4.1 Yếu tố khách quan 11

1.4.2 Yếu tố chủ quan 11

Tiểu kết chương 1 12

Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN LỚP THANH TRA 21B, KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 13

Trang 5

2.1 Giới thiệu khái quát về lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính,

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 13

2.3 Khảo sát thực trạng vấn đề tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 13

2.3.1 Mục đích học của sinh viên 14

2.3.2 Thời gian tự học của sinh viên 15

2.3.3 Ý thức và hình thức tự học trong lớp học 16

2.2.4 Chuẩn bị bài trước khi lên lớp 18

2.4 Khó khăn trong quá trình tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 19

Tiểu kết chương 2 20

Chương 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN LỚP THANH TRA 21B, KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 21

3.1 Một số giải pháp 21

3.1.1 Trang bị kỹ năng cho sinh viên trong quá trình tự học 21

3.1.2 Tăng cường trang bị phương pháp tự học cho sinh viên 22

3.1.2 Nâng cao trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, cố vấn học tập trong việc nâng cao hiệu quả tự học cho sinh viên 25

3.2 Khuyến nghị 26

3.2.1 Đối với nhà trường 26

3.2.2 Đối với tập thể đội ngũ giảng viên, cố vấn học tập 27

3.2.3 Đối với sinh viên 28

Tiểu kết chương 3 29

KẾT LUẬN 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU Danh Mục Bảng

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát mục đích học tập của sinh viên 14

Bảng 2.2 Kết quả khảo sát thời gian tự học của sinh viên 15

Danh Mục Biểu Đồ Biểu đồ 1 Kết quả khảo sát mức độ tương tác với giảng viên của sinh viên 16

Biểu đồ 2 Kết quả khảo sát hình thức học của sinh viên 17

Biểu đồ 3 Kết quả khảo sát việc chuyển bị bài của sinh viên 18

Biểu đồ 4 Kết quả khảo sát những khăn trong quá trình tự học của sinh viên 19

Danh Mục Sơ Đồ Sơ đồ 1 Sáu bước thực hiện kỹ năng lập kế hoạch 21

Sơ đồ 2 Các bước của phương pháp Feynman 23

Trang 7

Tuy nhiên, đa số sinh viên viên hiện nay chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học do lực cản của sự lười biếng; thiếu ý chí; thiếu tự giác; không có thói quen

tư duy độc lập, nản chí khi đứng trước những khó khăn, không xác định được mục đích của việc học như học chỉ để lấy bằng chứ hầu như sinh không biết được học để làm việc, học để sống hoặc không phải ai cũng có thể tiếp cận được phương pháp tự học làm sao cho hiệu quả nhất, vẫn lúng túng với việc tự học của mình và thường tự đặt ra câu hỏi cho chính mình: Tự học như thế nào? Bắt đầu tự học từ đâu? Tự học để làm gì? Tự học cần có kỹ năng và phương pháp gì? Nếu tự học hiệu quả thì được gì? Nếu không tự học thì làm sao?

Chính vì những lí do trên, thúc đẩy tác giả lựa chọn vấn đề “Phương pháp tự học

của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội

vụ Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phương pháp tự học luôn là dấu hỏi lớn trong quá trình học tập của các bạn sinh viên các trường đại học Nhờ chính sự quan tâm đó, đã thu hút các nhà nghiên cứu và người làm công tác thực tiễn Nhiều công trình về lĩnh vực này được công bố:

Tác giả Nguyễn Hoàng đã viết bài “Vai trò của tự học với việc phát triển phẩm chất và năng lực người học” Ông đã khẳng định “Điều cốt lõi mà hiện nay chúng ta

Trang 8

2

hướng tới khi thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là: chuyển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu là truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất của người học Ngoài việc học ở trường lớp thì tự học, tự rèn luyện

có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển năng lực và phẩm chất con người”

[3]

Tác giả Nguyễn Đông Triều “Kỹ năng học tập đại học” Tác giả cho người đọc

biết tổng quan về môi trường học tập Đại học và kỹ năng học đại học [16]

Nguyễn Đình Duy Nghĩa và cộng sự viết bài “Các biện pháp nâng cao nâng cao hiệu quả tự học trong mô hình đào tạo tín chỉ của Khoa giáo dục thể chất- ĐH Huế”

Tác giả đã giới thiệu cho người đọc khái niệm, đặc điểm, thực trạng và phương pháp tự học [10]

Tác giả Trần Thị Minh Ngọc viết về “Tự học - kỹ năng học tập cần thiết đối với

sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” Bài viết, cho thấy đặc điểm và các pháp

nâng cao hiệu quả tự học của cả giảng viên và sinh viên [9]

Như vậy, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề phương pháp tự học của sinh viên nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về phương pháp tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Chính vì thế, đề tài mang tính mới và cần được nghiên cứu ở các khái cạch khác nhau

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Từ việc khảo sát thực trạng vấn đề tự học của sinh viên lớp TTR 21B, Khoa PLHC, Trường ĐHNVHN, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tự học của sinh

viên lớp TTR 21B, Khoa PLHC, Trường ĐHNVHN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Cơ sở lý luận về phương pháp tự học của sinh viên

- Khảo sát thực trạng vấn đề tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Trang 9

3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp tự học của sinh viên

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi thời gian: 2021 - 2022

- Phạm vi về không gian: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

- Phạm vi khách thể: 30 bạn sinh viên năm thứ nhất, hệ chính quy trúng tuyển năm 2021, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội cơ sở chính tại Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Thu thập, tổng hợp và phân tích đánh giá các tài liệu và các nghiên cứu trước đó

để kế thừa có chọn lọc xây dựng tổng quan và lịch sử vấn đề nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp xây dựng bảng hỏi (Anket): Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài nhằm thu thập những thông tin về mục đích tự học, thời gian tự học, ý thức, hình thức tự học của sinh viên và việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của sinh viên, những khó khăn trong quá trình tự học của sinh viên Với đề tài này tác giả sử thiết kế nghiên cứu điều tra một lần theo lát cát ngang và sử dụng phương pháp xây dựng bảng hỏi với 1 phiếu cho SV (Phụ lục 01); Tác giả sử dụng hình thức bằng phiếu online thông qua các trang mạng xã hội Facebook, Messenger,… Trước khi gửi phiếu và khi nhận phiếu trả lời của nghiệm thể, tác giả đã thực hiên bước làm sạch phiếu Kết quả 30 phiếu

thu về đạt yêu cầu, đảm bảo tính khách quan trong quá trình nghiên cứu

- Phương pháp thống kê toán học: Thông qua quá trình khảo sát, tác giả thu thập được những dữ liệu mà sinh viên cung cấp, đưa ý kiến Để thống kê và khái quát hóa thành những con số có ý nghĩa tôi sử dụng phương pháp thống kê toán học để tính phần

trăm cho các lựa chọn

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Để thu thập thông tin về thực trạng tự học của sinh viên, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu với sinh viên (Phụ lục 02)

- Phương pháp chuyên gia: Quá trình triển khai đề tài, tác giả đã xin ý kiến chuyên gia (Giảng viên và cố vấn học tập) là người các kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong

Trang 10

4

hoạt động định hướng phương pháp tự học cho sinh viên để làm cơ sở lý luận, xây dựng

khung lý thuyết cho đề tài

Chỉ ra những thực trạng đang tồn tại để thấy được những thuận lợi và khó khăn trong việc tự học của sinh viên lớp TTR 21B, Khoa PLHC, Trường ĐHNVHN

Trên cơ sở lý luận và thực trạng, đề xuất các giải pháp và khuyến nghị thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên lớp TTR 21B, Khoa PLHC, Trường ĐHNVHN

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có kết cấu 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về phương pháp tự học của sinh viên

Chương 2 Thực trạng vấn đề tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Chương 3 Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Trang 11

5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm tự học

Khái niệm tự học nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu với nhiều góc nhìn khác nhau, mỗi tác giả đưa ra khái niệm tự học dựa trên hướng nghiên cứu của mình:

Tác giả Nguyễn Văn Phi đưa ra khái niệm tự học “Tự học sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho bản thân mình”[12] Theo Luanvanpanda.com trong luận văn thạc sĩ đưa ra khái niệm “Tự học ở đây chính là một quá trình tự giác tích cực, gắn liền với ý thức, thái độ, động cơ, tình cảm,

ý chí,… của người học nhằm biến những kiến thức và kỹ năng nhận được từ kho tàng tri thức của nhân loại thành tài sản riêng của người đọc; bên cạnh đó, người đọc đào sâu kiến thức và mài giũa các kỹ năng, cố gắng liên hệ và áp dụng chúng vào cuộc sống thực tiễn của mỗi cá nhân người học” [7]

Theo Tailieumienphi.Vn “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ

và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định”[17]

Như vậy, có nhiều tác giả đưa khái niệm tự học khác nhau Do đó, để thống nhất

trong quá trình nghiên cứu tác giả cho rằng có thể hiểu ngắn ngọn tự học “Quá trình chủ thể học tập tự giác, tự lực, tích cực tiếp thu những kiến thức mà thực tế đạt ra bằng hành động để đạt được mục đích chủ thể đó mong muốn đạt được”

1.1.2 Khái niệm sinh viên

Theo quy chế công tác học sinh sinh viên trong các trường đào tạo: Sinh viên là những người đang theo học hệ đại học và cao đẳng

Trong từ điển tiếng Việt của Trần Hằng - Bình Minh “Sinh viên là người học ở bậc đại học” [16]

Theo Trần Linh Chi và các cộng sự “Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Tại đó học được truyền đạt kiến thức bài bản về một nghành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học” [2]

Trang 12

6

Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê “Thuật ngữ này được dùng để chỉ người đang theo học ở bậc đại học Theo chúng tôi, sinh viên là những người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lí, đó là những người ở độ tuổi khoảng 18 – 25 và đang theo học tại các trường Cao Đẳng, Đại học” [13]

Theo Nguyễn Thị Quỳnh cho rằng “Sinh viên là những người trẻ tuổi khoảng từ

18 đến 25 tuổi, là người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý đang theo học tại các trường cao đẳng, đại học để tìm hiểu khai thác tri thức và làm chủ công nghệ” [14]

Như vậy, khái niệm sinh viên đã được nhiều tác giả đề cập đến là cơ sở quan trọng

để tác giả nghiên cứu kế thừa và phát triển khái niệm sinh viên của mình Trong phạm

vi nghiên cứu tác giả đưa ra khái niệm sinh viên như sau “Là những người trẻ tuổi có

độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi, là những người trưởng thành về cả sinh lý và tâm lý, đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng để tìm hiểu, khai thác tri thức một cách bài bản về một lĩnh vực mà họ chọn để phục vụ cho công việc của họ sau khi tốt nghiệp”

1.1.3 Khái niệm phương pháp tự học của sinh viên

Theo Dân Luật và các cộng sự phương pháp là “Cách thức đường lối có tính hệ thống được đưa nhằm giải quyết một vấn đề nào đó” [8] Tác giả Phạm Kim Oanh đưa ra khái niệm phương pháp “Phương pháp là cụm từ dùng để chỉ các cách thức hoặc đường lối có tính hệ thống đưa ra để có thể giải quyết một vấn đề nào đó, theo đó thì phương pháp có thể được rút ra từ những kết quả mà con người nhận thức được từ thực tiễn” [11]

Để thống nhất trong quá trình nghiên cứu tác giả đưa ra khái niệm phương pháp

theo quan điểm của tác giả phương pháp được hiểu rất đơn giản “Phương pháp là cách thức để làm một vấn đề nào đó đặt ra trong thực tế”

Tổng hợp và phân tích lại trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả mạnh

dạn đưa ra quan điểm phương pháp tự học của sinh viên “Cách thức sinh viên tự giác,

tự lực, tích cực tiếp thu những kiến thức mà thực tế đạt ra bằng hành động để đạt được mục đích sinh viên mong muốn”

1.2 Đặc điểm và vai trò cơ bản của tự học

Hiện nay, có rất nhiều tài liệu viết về đặc điểm của tự học trên cơ sở kế thừa đó, tác giả đã khái quát một số đặc điểm nổi bật của tự học như sau:

Thứ nhất, tự học là quá trình học tập tự giác, tự lực, tích cực của sinh viên

Trang 13

7

Thứ hai, tự học điễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của giảng viên Thứ ba, trong quá trình tự học sinh viên huy động các chức năng tâm lý của bản

thân, bằng những hành động cụ thể lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm,…

Thứ tư, tự học diễn ra trong môi trường học tập, chịu tự tác động trực tiếp bởi các

điều kiện học tập của sinh viên

Thứ năm, tự học là thời điểm quá độ của nghiên cứu khoa học (quan hệ chặt chẽ

với nhau “1-1”)

Thứ sáu, tự học tồn tại dưới rất nhiều hình thức (đọc sách, đọc truyện, xem Tivi,

nói chuyện,…)

Với những đặc điểm cơ bản trên thì tự học có vai trò đối với sinh viên, tác giả đưa

ra một số quan điểm của các nhà nghiên cứu trước về vai trò của tự học:

Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền viết vai trò của tự học “Trong vấn đề giáo dục nói chung và việc học nói riêng thì tự học có một vai trò hết sức quan trọng Tự học giúp người học hiểu sâu, mở rộng, củng cố và ghi nhớ bài học một cách vững chắc nhờ vào khả năng tự phân tích, tổng hợp tài liệu, từ đó có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới Đồng thời, tự học giúp người học hình thành được tính tích cực, độc lập tự giác trong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học Từ đó quyết định sự phát triển các phẩm chất nhân cách và quyết định chất lượng học tập của Sinh viên” [4]

Theo TaiLieuSo cho biết vai trò của tự học “Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học đại học của sinh viên Tự học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu Việc tự học đối với sinh viên có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân” [14]

Để tránh chồng chéo giữa các quan điển trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu

đề tài, tác giả đưa ra quan điểm của mình về vai trò của tự học “Giúp cho sinh viên nhớ lâu, vận dụng tốt, giúp sinh viên có tư duy độc lập, trở nên năng động sáng tạo, không phụ thuộc vào người khác”

1.3 Vấn đề tự học của sinh viên

1.3.1 Mục đích học của sinh viên

Theo các nhà nghiên cứu ở Anh, Mĩ và Úc đã chỉ ra rằng động lực lớn thôi thúc sinh viên học tập là để nhận một tấm bằng có thể giúp họ kiếm được một công việc tốt

Trang 14

8

Đa số sinh viên hiện nay nhất là sinh viên năm nhất nghĩ rằng hễ có cứ bằng đại học là được tuyển, đặc biệt là cộng thêm có quen biết thì cái ghế đấy chắc chắn của mình Ngoài ra, mục đích của việc học còn bị tác động động bởi gia đình cụ thể ở đây là học vì bố mẹ Trên thực tế, rất nhiều trường hợp được hỏi thì các bạn sinh viên đều trả lời học cho bố mẹ vui hoặc thậm chí là bị ép buộc học đại học, có rất nguyên nhân dẫn đến học cho bố mẹ điển hình một số trường hợp cụ thể sau: Học vì truyền thống gia đình; học để cho bố mẹ nở mày nở mặt với dòng họ và xã hội; bố mẹ ép học vì muốn con đỡ khổ Ngoài mục đích học tập vì bố mẹ còn học để theo trào lưu của xã hội tức là

có ngành gì đang được xã hội quan tâm thì học với hy vọng say này sẽ tìm được một

công việc như mình mong đợi hoặc thậm chí là chỉ vào học cho “bằng bạn bằng bè”

chứ không quan tâm đến tương lai của mình

Đa số sinh viên hiện nay vẫn chưa thực sự có suy nghĩ học để có thêm kiến thức, học để sống, học để làm việc đó là là một thiếu sót lớn của sinh viên Vì suy nghĩ học

để có thêm kiến thức, học để sống, học để làm việc chính là động lực trực tiếp khiến sinh viên lỗ lực, cố gắng từng ngày để đạt được kết quả như mong đợi

1.3.2 Thời gian tự học của sinh viên

Quản lý thời rất quan trọng đối với cuộc sống của mỗi người vì nó cho dạy cho con người biết giá trị của cuộc sống Sinh viên phải biết tôn trọng thời gian vì thời gian

là một nguồn lực đặc biệt vì không ai có lưu trữ thời gian hay tiết kiệm thời gian để một nào đó cần mang ra dùng tiếp Mỗi sinh viên điều có một quỹ thời gian như nhau đều có

24 tiếng/ngày để sống, học tập và làm việc, 1 tiếng của mỗi sinh viên đều có 60 phút chứ không người ngày này 60 phút người khác 50 phút Như vây, người thành công là

họ biết sử dụng thời gian hợp lý vì đơn giản họ biết thời gian không thể lấy lại được Có

một câu của Lý Thu Hà tác giả rất tâm đắc “Cuộc sống cho chúng biết sử dụng thời gian Còn thời cho chúng ta biết giá trị của cuộc sống” [5]

Theo quan điểm của tác giả, việc đầu tư thời gian dành cho tự học của sinh viên rất quan trọng vì thông qua đó thể hiện sự lỗ lực, sự chăm chỉ, sự tự giác, sự kiên kì, sự trách nhiêm, sự quyết tâm của sinh viên, nếu sinh viên bỏ qua sự đầu tư thời gian thì lúc

đó sẽ không thể nào hình thành được tự học đúng nghĩa Nhưng không phải sinh viên nào cũng biết đầu tư thời gian cho tự học bao nhiêu đủ Hiện nay, đa số sinh viên chỉ tự học từ 1 đến 2 giờ/ngày, thậm chí là không học bài cũ, đợi đến lúc thi mới ôn, ít sinh

Trang 15

9

nào dành từ 3 giờ trở lên/ngày để tự học Vì thế kết học tập lúc nào cũng không như

mong muốn, lúc đó quay lại nhận xét rằng “Tự học không có hiệu quả” thì đó là lỗi của

chính sinh viên vì đơn giản là không có sự đầu tư

1.3.3 Ý thức và hình thức tự học của sinh viên trong lớp học

1.3.3.1 Ý thức tự học trong lớp

Theo Tran Thao ý thức “Ý thức theo tâm lý học được định nghĩa là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người Ý thức là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan”

[18]

Giáo trình triết học Mác - Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận

chính trị) của Bộ Giáo dục và Đào tạo ý thức được định nghĩa “Một phạm trù song song với phạm trù vật chất Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào

bộ óc con người và có sự cái biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất” [1]

Trên cơ sở kế thừa và quan điểm tác giả cho rằng ý thức tự học được chia thành hai dạng đó là ý thức tự học tích cực và ý thức tự học tiêu cực:

Ý thức tích cực: Thể hiện qua sự tương tác của sinh viên với giảng viên thể hiện qua việc thường xuyên dơ tay phát biểu; đóng góp ý kiến xây dựng bài Ý thức tích cũng này là yếu tố đánh giá điểm chuyên cần của sinh viên nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập cuối cùng của sinh viên

Ý thức tiêu cực: Trái ngược hoàn toàn với ý thức tích cực thể hiện qua việc không tương tác tương với giảng viên và các sinh viên khác do các nguyên nhân sau: do quá lười, không chuyển bị bài; sợ phát biểu sai bị bạn bè cười nhạo; sợ bị coi là thích thể hiện; sinh viên cảm thấy không hứng thú với môn học; không tự tin vào bản thân, ngại ngùng trước đám đông

1.3.3.2 Hình thức tự học trong lớp của sinh viên

Theo tác giả có 2 hình thức tự học trong lớp như sau:

Thứ nhất, tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên: Quá trình học tập

là quá trình căn bản, cung cấp cho sinh kiến thức cơ bản Giảng viên giữ vai trò quan trọng, trọng việc định hướng và hướng dẫn sinh viên tự nghiên cứu, tự học ở nhà giúp sinh viên chủ động, nắm vững những kiến thức liên quan đến vấn đề đã hoặc chuẩn bị

Trang 16

10

học trên lớp Từ việc chủ động tự học đấy sẽ giúp sinh viên biết được những nội dung mình vẫn chưa hiểu để giờ học sau đặt câu hỏi khi tham gia thảo luận trên lớp hoặc tự tìm câu trả lời trên mạng internet, giáo trình, báo chí,… Qua đó, tăng sự tương tác giữa các sinh viên và rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho sinh viên

Thứ hai, tự học dưới sự hướng dẫn dán tiếp của giảng viên: Với hình thức tự

học này, giảng cung cấp các nguồn tài liệu tham khảo sinh viên phải tự chủ động tìm kiếm, nghiên cứu những vấn đề mang tính thực tiễn và chuyên sâu hơn hoặc không liên quan đến bài học nhưng những vấn đề đó có thể bổ trợ tốt cho nghành mà sinh viên đang học

Ngoài ra, nói các hình thức tự học mang ý thức tích cực, sinh viên thì còn một

số hình thức mang ý thức tiêu cực, trên thực tế còn tồn tại rất nhiều như: Ít đặt câu hỏi cho giảng viên vì ngại đám đông, sợ bị coi là thích thể hiện, không tự tin vào bản thân,…

Từ đó dẫn đến tình trạng không bao hỏi đặt câu hỏi cho giảng viên với những trường hợp trên chắc chắn sẽ không có kết quả học tập như mong đợi

1.3.4 Chuẩn bị bài trước khi lên lớp

Đa số giảng viên hiện nay đều giao bài tập cho sinh viên về chuyển bị bài cho tiết sau để tiết sau chỉ giảng những ý chính mà sinh viên thắc mắc cần giải đáp sâu Nên nếu không chuyển bị bài trước thì sẽ không thể bắt kịp được nội dung kiến thức liên quan Dưới đây là những lợi ích khi chuyển bị bài trước khi lên lớp:

Thứ nhất, tận dụng được tối đa thời gian trên lớp: Khi sinh viên đọc bài học trước

khi lên lớp, sinh viên có thể hiểu hơn về cấu trúc của bài học, từ đó giúp sinh viên phân biệt được phần nào quan trọng và phần nào kém quan trọng hơn trong bài Việc này giúp cho sinh viên có thể tập trung vào ý chính của bài một cách hiệu quả

Thứ hai, biết được nội dung bản thân chưa hiểu để hỏi giảng viên: Hành động này

sẽ giúp sinh viên ghi nhớ kiến thức lâu hơn

Thứ ba, thể hiện sự tôn trọng với giảng viên: Nếu cảm xúc của giảng viên không

phải là điều bạn đặt lên hàng đầu, thì bạn hãy nhớ rằng mối quan hệ của bạn với các giảng viên rất quan trọng và không phải dễ dàng gì để có thể thiết lập một mối quan hệ tốt đối với giảng viên phụ trách lớp mình, trong khi đó lại là một sự khởi đầu rất tốt đẹp

Thứ tư, giúp cho bạn làm việc nhóm hiệu quả: Học đại học thường xuyên là việc

nhóm Nếu bạn chuẩn bị trước bài bạn sẽ luôn luôn sẵn sàng tham gia vào bất kì nhóm

Trang 17

11

nào mà không e ngại điều gì Ngoài ra, bạn sẽ là dẫn đường cho nhóm khi đi lạc hướng thảo luận

Trên thực tế, nhiều sinh viên không quan tâm tâm đến những lợi ích của việc chuẩn

bị bài, thỉnh thoảng đến môn học mà giảng viên nghiêm khắc thì mới chuyển bị bài Thậm chí là không bao giờ chuyển bị bài từ khi học phổ thông

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự quá trình tự học của sinh viên

1.4.1 Yếu tố khách quan

Yếu tố thứ nhất, phương tiện và thiết bị để tiếp cận với các nguồn tri thức: Ai cũng

biết đã học tập là phải các các nguồn tri thức (sách, giáo trình, thư viện số, báo chí, tạp chí,…) để chủ thể tự học nghiên cứu và từ có nền tảng kiến thức vững chắc phục vụ cho tự học Trên thực tế, không sinh viên nào cũng có điều kiện để tiếp cận với các nguồn tri thức đặc biệt các nguồn từ Internet Mặt khác, không phải cơ sở giáo dục Cao đẳng, Đại học nào cũng có thư viện đủ các nguồn tri thức mà sinh viên cần; không phải

cơ sở giáo dục nào cũng có thư viện số để cho sinh tiếp cận với các nguồn tri thức nhất

là trong thời đại dịch Covid - 19 đang diễn biến phức tạp Vì vậy, điều kiện tiếp cận với các nguồn tri thức là nền tảng của quá trình tự học, nếu sinh viên bỏ qua bước tiếp cận các nguồn tri thức thì chắc chắn kết quả tự học sẽ không như mong muốn

Yếu tố thứ hai, phương pháp giảng dạy của giảng viên: Yếu tố này đòi hỏi phương

pháp giảng dạy của giảng viên phải phù hợp với trình đội của sinh Vì tất cả các giảng viên đại học đều có trình độ từ Thạc sĩ trở lên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, lên trong quá trình giảng dạy có thể giảng viên dạy vượt trình độ nhận thức của sinh viên, dẫn đến trường hợp sinh viên không hiểu bài

1.4.2 Yếu tố chủ quan

Yếu tố chủ quan đầu tiên, ý thức học tập và động cơ nhận thức của sinh viên: Có

ý nghĩa quyết định trong viêc hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Vì chất lượng học tập phải là kết quả tất yếu của sự nỗ lực của bản thân sinh viên Nếu sinh viên không xác định được mục đích và động cơ của việc học thì sẽ không bao giờ thành công Mà chỉ khi người học xác định được mục đích và động cơ học tập của bản thân mình là gì, từ đó sinh viên mới có thể phát được “nội lực” trong học tập, từ đó kết hợp với “ngoại lực” để sắp xếp hoạt động học tập hợp lí, chính xác và thu được kết quả mong muốn

Trang 18

12

Yếu tố chủ quan thứ hai, ảnh hưởng của vốn tri thức của sinh viên: Hầu hết các

môn học đều sắp xếp có thứ thức bậc liên hệ mật thiết với nhau (môn học trước là nền tảng cho môn học sau) cho nên để tự học một cách hiệu quả thì sinh viên phải tự trang

bị cho mình những kiến thức nền tảng, tối thiểu để tự nghiên cứu vấn đề mình quan tâm

Yếu tố chủ quan thứ ba, ảnh hưởng bảo mức độ tư duy của sinh viên: Gần như là

yếu tố quyết định khi sinh viên đã có nền tảng kiến thức thì khả năng tư duy gần như là yếu tố quyết định đến khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói chung (những người có khả năng tư duy tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có đủ kiến thức có khi học làm việc độc lập không cần sự hướng dẫn của giảng viên)

Yếu tố chủ quan thứ tư, ảnh hưởng bởi phương pháp tự học của sinh viên: Có thể

nói, tìm phương pháp tự học học là bước cuối cùng khi đã có có đầy đủ các yếu tố chủ quan và khách quan của quá trình tự học của sinh viên Vì phương pháp là cách thức để một người làm một việc một cách bài bản có hệ thống mà họ mong muốn đạt được, sinh viên cũng không ngoại lệ nếu không có phương pháp tự học hiệu quả thì chắc chắn sẽ

bị giậm chân tại tại chỗ mà cứ tưởng là đã đến đích Cho nên, cần học hỏi và phát triển các kỹ năng chưa có hoặc còn yếu của sinh viên, từ đó góp phân hình thành các phương pháp tự hiệu quả

Qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên (chủ quan và khách quan) theo đánh giá chủ quan của tác giả thì yếu tố chủ quan là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến kết quả học quả sinh viên Vì thông qua yếu tố chủ quan mới thể hiện được phẩm chất ý chí, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm,… của sinh viên, thì lúc đó mới trở thành tự học thật sự

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, chương 1 tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về phương pháp tự học của sinh viên về các nội dung sau: Các quan điểm khái niệm về tự học và phương pháp tự học của sinh viên; đặc điểm và vai trò của tự học; ý nghĩa của tự học; vấn đề tự học của sinh viên; các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên Từ các luận cứ khoa học trên làm tiền đề cho việc phân tích các nội dung phương pháp tự học của sinh viên

ở chương 2

Trang 19

13

Chương 2

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN LỚP THANH TRA 21B, KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu khái quát về lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 2016 /QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ nâng cấp Trường Cao đẳng Nội vụ

Hà Nội (Phụ lục ảnh 01) Cơ cấu tổ chức: Hội đồng trường; Hiệu trưởng và không quá

3 Hiệu phó; Hội đồng Khoa học và đào tạo, các hội đồng tư vấn khác; 8 phòng chức năng; 8 khoa chuyên môn; 3 trung tâm; 4 đơn vị trực thuộc trường

Khoa Pháp luật hành chính được thành lập theo Quyết định số 664 /QĐ-ĐHNV ngày 17/04/2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đổi tên Khoa Nhà nước và Pháp luật thành Khoa Pháp luật hành chính (Phụ lục ảnh 02) Khoa đào tạo hai nghành: Luật và Chuyên ngành Thanh tra

Lớp Thanh Tra 21B được thành lập theo Quyết định số 2434 /QĐ-ĐHNV ngày 13/12/2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tổ chức các lớp Đại học hình thức chính quy trúng tuyển 2021, học tại Hà Nội (Phụ lục ảnh 03) Lớp Thanh tra 21B có 71 sinh viên theo quyết định của nhà trường

2.3 Khảo sát thực trạng vấn đề tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Để tíến hành khảo sát thực trạng vấn đề tự học của sinh viên, tác giả đã đưa ra câu hỏi: Bạn đã từng tự học bao giờ chưa? Kết quả cho thấy 100% sinh viên lựa chọn “Đã từng” tự học rất phổ biến rất phổ biến với sinh viên Từ đó, làm cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát thực trạng tự học của sinh viên trên các khía cạnh sau: Mục đích học, thời gian học, ý thức, hình thức, chuẩn bị bài trước khi đến lớp và những khó khăn trong quá trình tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B trong giai đoạn hiện nay

Trang 20

14

2.3.1 Mục đích học của sinh viên

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát mục đích học tập của sinh viên

Mục đích tự học của sinh viên Số lượng chọn Tỷ lệ Thứ bậc

số 0 Như vây, có thể nói đa số sinh viên trong tổng 30 sinh viên lớp TTR 21B đã có mục đích học tập rõ ràng là học để có kiến thức chiếm 90% số lựa chọn mà theo tác mục đích học tập của 90% sinh viên này đã có mục đích học tập đúng đắn và chỉ cần cố gắng

và quyết tâm hơn nữa thì sẽ đạt được thành mông muốn Chia sẻ của sinh viên L H T

thì “Tớ đã chọn học để có bằng đơn giản vì học để làm việc, học để sống, học vì bản thân mình Chứ không phải học vì một ai cả” Ngoài ra, còn có sinh chọn học vì bố mẹ

chiếm 3.3% và học để có bằng chiếm 6.7% Như vậy, có 10% trong 30 sinh viên lớp TTR 21B có mục đích học tập này là hoàn toàn sai lầm, với mục đích học này sẽ dẫn tới tình trạng sinh viên học bâng thể không quan tâm đến điểm số, chỉ cần biết ra trường có bằng và cho bố mẹ vui là được Ngay bây giờ, các bạn sinh lớp TTR 21B có thể thay đổi được vì mới là sinh viên năm thứ nhất cò nhiều suy nghĩ chưa chính xác là điều bình

thường Theo bạn N T L sinh viên khóa 21 cho rằng “Tớ chọn học để có bằng là vì tớ nghĩ có bằng thì chắc chắn xin được việc” Theo ý kiến của tác giả “Có bằng thì đúng

là mới xin việc nhưng bằng loại trung thì chưa chắc”

Trang 21

15

2.3.2 Thời gian tự học của sinh viên

Bảng 2.2 Kết quả khảo sát thời gian tự học của sinh viên

Thời gian dành cho tự học Số lượng chọn Tỷ lệ

Không đọc sách, giáo trình… Chỉ đọc đọc sách, giáo

giờ/ngày Chia sẻ về vấn đề này, sinh viên L H T cho biết thêm “Nguyên sinh viên thường dành ít thời gian cho tự học là không có động lực để học, không có ai để trao đổi bài và một phần nào đó tính ì có sinh viên” Nguyên nhân của bạn L H T cũng được đa số số sinh viên đồng tình và đều cùng câu trả lời “Tớ cũng thế bạn ạ” Theo

tính toán của các nhà khoa học về yêu cầu của môn học tín chỉ thời gian 1 đến 2 giờ/ngày dành cho tự chưa thể đáp ứng được thời lượng yêu cầu của 1 học phần, trong đó theo quy chế đào tạo tín của trường Đại học Nội vụ Hà Nội thì mỗi kì mỗi sinh viên học tối thiểu 12 tín chỉ (Không bao gồm học phần: Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng

- an ninh), tương với 4 - 5 môn học Như vậy, dành từ 1 đến 2 giờ/ngày hoặc ít hơn là không đủ, để sinh viên hiểu và hoàn thành tốt môn học

Trang 22

H T khóa 21 cho biết “Tớ cũng là sinh viên thỉnh thoảng mới giao tiếp với giảng viên

vì tớ sợ hỏi những thứ nhỏ nhặt sẽ làm mất thời gian của giảng viên và các bạn nên thỉnh thoảng có gì quan trọng tớ mới hỏi” Ngoài ra, bạn L P T chia sẻ vì rằng “Tớ ít tương tác với viên vì kỹ năng giao tiếp của tớ vẫn chưa được tốt”

Ngoài ra, còn một nguyên dẫn đến tình trạng sinh viên lớp TTR 21B ít hoặc không tương tác với giảng viên là do các bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ đều làm trong trong thời gian ngắn - Tức là ngày mai nộp bài thì hôm nay lên mạng tìm các bài tượng rồi sao chép (CTRL + C) rồi dán (CTRL + V) vào Word để có nội dung rồi nộp cho giảng viên là xong nhiệm vụ, không tìm thấy các kiến cần thắc mắc với giảng viên từ hoạt động tương tác giảm đi đáng kể Hậu quả khi đi thi, đề rơi vào phần tự học mà không làm được sẽ lại đổ thừa

20%

Bạn có tương tác với giảng viên không

Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ

Ngày đăng: 10/05/2022, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2021
2. Trần Linh Chi và các cộng sự, “Sinh viên là gì? Khái niệm sinh viên?”, Hocluat.VN, https://bit.ly/3GCA1Hh, Truy cập ngày 25/02/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên là gì? Khái niệm sinh viên?”," Hocluat.VN, "https://bit.ly/3GCA1Hh
3. Nguyễn Hoàng, “Vai trò của tự học với việc phát triển phẩm chất và năng lực người học”, Cổng thông tin điện tử Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An, https://bit.ly/3oDeW9k, Truy cập ngày 26/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tự học với việc phát triển phẩm chất và năng lực người học”", Cổng thông tin điện tử Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An", https://bit.ly/3oDeW9k
4. Nguyễn Thị Thu Huyền, “Vai trò của kỹ năng tự học (Ngoài lớp học)”, Cổng thông tin trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh - Khoa Khoa học Giáo dục, https://bit.ly/34NyQaR, Truy cập ngày 26/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của kỹ năng tự học (Ngoài lớp học)”," Cổng thông tin trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh - Khoa Khoa học Giáo dục, "https://bit.ly/34NyQaR
5. Lý Thu Hà, “Tầm quan trọng của thời gian”, https://bit.ly/33fF8iW, Truy cập ngày 26/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tầm quan trọng của thời gian”, https://bit.ly/33fF8iW
6. Trần Hằng - Bình Minh (2011), Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh
Tác giả: Trần Hằng - Bình Minh
Nhà XB: Nxb. Từ điển Bách Khoa
Năm: 2011
7. Luanvanpanda.com, “Thực trạng về khả năng tự học của sinh viên các khoa và các hướng hỗ trợ hoạt động tự học”, Slideshare, https://bit.ly/3ssMrMN, Truy cập ngày 27/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về khả năng tự học của sinh viên các khoa và các hướng hỗ trợ hoạt động tự học”", Slideshare, "https://bit.ly/3ssMrMN
8. Dân Luật và các cộng sự, “Phương pháp là gì? Thế nào là phương pháp? Cho ví dụ?”, Hocluat.VN, https://bit.ly/3ryAJAZ, Truy cập ngày 28/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp là gì? Thế nào là phương pháp? Cho ví dụ?”," Hocluat.VN, "https://bit.ly/3ryAJAZ
9. Trần Thị Ngọc Minh, “Tự học - kỹ năng học tập cần thiết đối với sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”, Học Viện Báo Chí và Tuyên Truyền, https://bit.ly/3gxk3U3, Truy cập ngày 01/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học - kỹ năng học tập cần thiết đối với sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”, "Học Viện Báo Chí và Tuyên Truyền", https://bit.ly/3gxk3U3
10. Nguyễn Đình Duy Nghĩa và cộng sự, “Các biện pháp nâng cao nâng cao hiệu quả tự học trong mô hình đào tạo tín chỉ của Khoa giáo dục thể chất - ĐH Huế”, CSDL Khoa học và Công nghệ - Đại học Huế, https://bit.ly/35QgOoG, Truy cập ngày 03/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp nâng cao nâng cao hiệu quả tự học trong mô hình đào tạo tín chỉ của Khoa giáo dục thể chất - ĐH Huế”, "CSDL Khoa học và Công nghệ - Đại học Huế," https://bit.ly/35QgOoG
11. Phạm Kim Oanh, “Khái niệm phương pháp là gì? Ví dụ về phương pháp?”, Luật Hoàng Phi, https://bit.ly/34y4KrQ, Truy cập ngày 01/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm phương pháp là gì? Ví dụ về phương pháp?”," Luật Hoàng Phi, "https://bit.ly/34y4KrQ
12. Nguyễn Văn Phi, “Tự học là gì?”, Luật Hoàng Phi, https://bit.ly/3ozKjS8, Truy cập ngày 02/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tự học là gì?”", Luật Hoàng Phi", https://bit.ly/3ozKjS8
14. Nguyễn Thị Quỳnh (2020), “Sử dụng mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội, thực trạng và giải pháp”, Cổng thông tin Trường Đại học Nội vụ Hà Nội - Thư viện số, https://bit.ly/3JDh0Gr, Truy cập ngày 25/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sử dụng mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội, thực trạng và giải pháp”", Cổng thông tin Trường Đại học Nội vụ Hà Nội - Thư viện số, "https://bit.ly/3JDh0Gr
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh
Năm: 2020
15. TaiLieuSo, “Bài Tiểu Luận Môn PP Luận Nghiên Cứu Khoa Học Về Vấn đề Tự học Của Sv”, TaiLieuSo - Thư Viện Tài Liệu Việt Nam, https://bit.ly/3Lmk2AD, Truy cập ngày 04/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài Tiểu Luận Môn PP Luận Nghiên Cứu Khoa Học Về Vấn đề Tự học Của Sv”", TaiLieuSo - Thư Viện Tài Liệu Việt Nam, "https://bit.ly/3Lmk2AD
16. Nguyễn Đông Triều, “Kỹ năng học tập bậc đại học”, Viện Doanh Trí - Trường Đại học Văn Hiến, https://bit.ly/34G0TsC, Truy cập ngày 27/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ năng học tập bậc đại học”," Viện Doanh Trí - Trường Đại học Văn Hiến, "https://bit.ly/34G0TsC
17. Tailieumienphi.Vn, “Một số vấn đề lý luận và hoạt động về dạy tự học tại Trường Đại học Trà Vinh”, Tailieumienphi.Vn, https://bit.ly/3gQmXUp, Truy cập ngày 28/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và hoạt động về dạy tự học tại Trường Đại học Trà Vinh”", Tailieumienphi.Vn, "https://bit.ly/3gQmXUp
18. Tran Thao, “Ý thức là gì? Phân tích vai trò và tác dụng của ý thức”, Hoatieu.vn, https://bit.ly/3rAewTd, Truy cập ngày 02/03/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức là gì? Phân tích vai trò và tác dụng của ý thức”, "Hoatieu.vn, "https://bit.ly/3rAewTd
19. Wikimedia cộng tác viên, “Tư duy phản biện”, Wikipedia Bách khoa toàn thư mở, https://bit.ly/3swb9vA, Truy cập ngày 27/02/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy phản biện”", Wikipedia Bách khoa toàn thư mở, "https://bit.ly/3swb9vA

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Kết quả khảo sát từ bảng 2.1 cho thấy, mục đích học tập sinh viên đa số là để có thêm kiến thức có 27/30 ý kiến chọn chiếm 90% đứng vị trí số 1 - Phương pháp tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (8,5đ)
t quả khảo sát từ bảng 2.1 cho thấy, mục đích học tập sinh viên đa số là để có thêm kiến thức có 27/30 ý kiến chọn chiếm 90% đứng vị trí số 1 (Trang 20)
2.3.3. Ý thức và hình thức tự học trong lớp học - Phương pháp tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (8,5đ)
2.3.3. Ý thức và hình thức tự học trong lớp học (Trang 22)
Bên cạnh sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên thì hình tự hự học của sinh viên lớp TTR 21B cụ thể như sau: - Phương pháp tự học của sinh viên lớp Thanh tra 21B, Khoa Pháp luật hành chính, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (8,5đ)
n cạnh sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên thì hình tự hự học của sinh viên lớp TTR 21B cụ thể như sau: (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w