1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam

13 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam
Tác giả Cao Thị Phương Chi
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 530,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-🕮 -

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN LUẬT

THƯƠNG MẠI 2

ĐỀ TÀI:

Hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam

Mã lớp học phần: BSL2002 3 Sinh viên thực hiện : Cao Thị Phương Chi Lớp K64A Luật học

Mã sinh viên :19061042

Hà Nội - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI 3

1.1 Khái niệm môi giới thương mại 3

1.2 Đặc điểm 4

1.2.1 Hoạt động môi giới thương mại là hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian 4

1.2.2 Bên thực hiện hoạt động môi giới thương mại phải có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba 4

1.2.3 Hoạt động môi giới thương mại tồn tại hai nhóm quan hệ song song 4 1.3 Phân biệt môi giới thương mại với các hoạt động trung gian thương mại khác 5

1.3.1 So sánh hoạt động môi giới thương mại và hoạt động đại diện cho thương nhân 5

1.3.2 So sánh hoạt động môi giới thương mại và hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa 6

1.3.3 So sánh hoạt động môi giới thương mại và hoạt động đại lý thương mại 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 7

2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về môi giới thương mại 7

2.1.1 Quy đinh của pháp luật về chủ thể tham gia hợp đồng môi giới thương mại 7

2.1.2 Quy định của pháp luật về hợp đồng môi giới thương mại 8

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng môi giới thương mại 8

2.1.4 Chấm dứt hợp đồng môi giới 9

2.2 Thực trạng thực thi pháp luật môi giới thương mại ở Việt Nam 9

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 10

3.1 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động môi giới thương mại 10

3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật 10

3.1.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 11

3.2 Một số giải pháp thực thi pháp luật môi giới thương mại ở Việt Nam 11

KẾT LUẬN 12

Trang 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

MỞ ĐẦU

Trong quy định của pháp luật Việt Nam thừa nhận hoạt động môi giới

thương mại là một trong những hoạt động trung gian thương mại, các tổ chức có đăng ký kinh doanh hoạt động môi giới thì được phép hoạt động và được pháp luật bảo hộ cho các hoạt động của mình Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các giao dịch kinh tế thương mai, dân sự ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu thì hoạt động môi giới thương mại cũng diễn ra thường xuyên và liên tục hơn Hoạt động môi giới thương mại là loại hoạt động có nhiều đặc thù riêng và gây rủi ro hơn cho tổ chức môi giới lẫn khách hàng nhưng pháp luật hiện hành chưa

có một hệ thống các quy định riêng, hoàn chỉnh và đồng bộ áp dụng cho hoạt động môi giới thương mại nên hiện vẫn phải áp dụng các quy định trong Luật thương mại

2005 và các nghị định, thông tư hướng dẫn kèm theo cho hoạt động môi giới thương mại

Trong quá trình áp dụng vào thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, pháp luật về môi giới thương mại đã nảy sinh nhiều bất cập, nhiều điểm chưa hợp lý, chưa tập trung

và chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật Việc quy định rời rạc ở nhiều văn bản pháp luật đã gây khó khăn không nhỏ cho các tổ chức môi giới, lẫn các cơ quan giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp phát sinh Điều này khiến các tổ chức hoạt động môi giới trở nên dè dặt, e ngại hơn khi khách hàng có nhu cầu thuê hoạt động môi giới

Để khắc phục tình trạng trên cần phải rà soát, bổ sung, sửa đổi để hoạt động môi giới thương mại có một hành lang pháp lý hoàn thiện đảm bảo cho hoạt động này diễn ra an toàn và hiệu quả hơn Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến môi giới thương mại cũng cần được hoàn thiện hơn để đảm bảo hoạt động này chắc chắn được thiết lập, hạn chế rủi ro cho các tổ chức môi giới và chính khách hàng thuê và nhận môi giới, tránh việc khách hàng lẫn nhà môi giới lợi dụng các kẽ hở trong quy định của pháp luật vì mục đích bất chính Trước nhu cầu của thực tế về việc cung ứng dịch vụ môi giới thương mại hiện nay thì hoạt động này cần phải được chuyên nghiệp hóa hơn nữa để có thể mang lại lợi ích cao nhất và tạo ra một thị trường thống nhất và ổn định

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm môi giới thương mại

Theo Luật thương mại 1997 “Người môi giới thương mại là thương nhân làm trung gian cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới” Như vậy, khi nói đến hoạt động môi giới thương mại là nhắc đến hoạt động trung gian của thương nhân giúp các bên mua bán tìm hiểu lẫn nhau và là cầu nối truyền đạt thông tin cho các bên chứ không tham gia trực tiếp vào hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ Tuy

Trang 4

nhiên, việc không đưa ra một định nghĩa cụ thể cho hoạt động môi giới thương mại cũng tạo ra sự khó phân biệt đối với các hoạt động trung gian thương mại khác

Để giải quyết thiếu sót này, Luật Thương mại 2005 đã đưa ra khái niệm cho hoạt động môi giới thương mại “là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới” Khái niệm này đã khái quát được đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại và cũng làm rõ được những đặc trưng để phân biệt với các loại hình trung gian thương mại khác Bên tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ môi giới thương mại chỉ được phép tham gia làm trung gian trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng chứ không trực tiếp tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ

1.2 Đặc điểm

1.2.1 Hoạt động môi giới thương mại là hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại được thực hiện theo phương thức giao dịch qua trung gian

Theo Luật thương mại “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại

và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Như vậy, một trong những đặc điểm để xác định các hành vi thực hiện trong lĩnh vực thương mại chính là yếu tố tìm kiếm lợi nhuận của các bên tham gia

1.2.2 Bên thực hiện hoạt động môi giới thương mại phải có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba

Trong hoạt động môi giới thương mại, bên môi giới là một chủ thể pháp lý độc lập, nhân danh bản thân để thực hiện các hoạt động cung ứng dịch vụ chứ

không phải là một phần của bên được môi giới Đây là cơ sở để phân biệt các chủ thể cung cấp dịch vụ môi giới thương mại với các chi nhánh, văn phòng đại diện, các đại diện theo pháp luật của thương nhân được ủy quyền thực hiện một số công việc nhất định hay những người lao động làm công việc mở rộng thị trường, thực hiện công việc môi giới cho chính doanh nghiệp đó,…

Luật Thương mại Việt Nam bắt buộc bên môi giới phải là thương nhân Quy định là cơ sở để phân biệt giữa bên môi giới với các chủ thể trung gian trong các khâu phân phối, tiêu thụ hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng bởi các đối tượng tham gia vào khâu phân phối, tiêu thụ hàng hóa không bắt buộc phải là

thương nhân

1.2.3 Hoạt động môi giới thương mại tồn tại hai nhóm quan hệ song song Môi giới thương mại là hoạt động cung ứng dịch vụ thông qua trung gian nên việc cung ứng dịch vụ này cũng có đặc điểm khác biệt chính là song song tồn tại hai quan hệ pháp luật cùng một lúc và giữa chúng có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Nhóm quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa bên môi giới và bên được môi giới đây là quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập trên cơ sở hợp đồng Nhóm quan hệ thứ hai

là quan hệ giữa bên môi giới, bên được môi giới và bên thứ ba được xác lập dựa

Trang 5

trên cơ sở là hoạt động của bên môi giới Do nhu cầu của bên được môi giới việc xác lập quan hệ môi giới là tất yếu tuy nhiên hoạt động môi giới thương mại không thể thực hiện được nếu chỉ tồn tại quan hệ giữa bên môi giới và bên được môi giới

Để thực hiện được hoạt động này, bên môi giới phải có liên hệ và thực hiện giao dịch với bên thứ ba để hoàn thành công việc đã giao kết trong hợp đồng Khi tham gia giao dịch với bên thứ ba, bên môi giới chỉ thực hiện nhiệm vụ giới thiệu cho các bên biết và gặp gỡ lẫn nhau mà không xác lập quan hệ trực tiếp với bên thứ ba 1.3 Phân biệt môi giới thương mại với các hoạt động trung gian thương mại khác 1.3.1 So sánh hoạt động môi giới thương mại và hoạt động đại diện cho thương nhân

Hoạt động môi giới thương mại Hoạt động đại diện cho thương nhân Khái

niệm

(Điều 150 LTM) (Điều 141 LTM)

Vai trò

của bên

trung

gian

Bên môi giới hỗ trợ cho bên

được môi giới trong việc đàm

phán, giao kết hợp đồng mua bán

hàng hóa; bên môi giới đóng vai

trò là cầu nối để người mua và

người bán gặp gỡ nhau

Bên đại diện thực hiện các hoạt động thương mại cho bên giao đại diện

Bên môi giới không tham gia vào

việc thực hiện hợp đồng giữa các

bên được môi giới, trừ trường

hợp có ủy quyền của bên được

môi giới

Bên đại diện được ủy quyền để thay mặt bên giao đại diện thực hiện giao dịch thương mại (bao gồm giao kết hợp đồng) với bên thứ ba

Bên môi giới không đại diện cho

quyền lợi của bên nào

Bên đại diện làm việc theo sự chỉ dẫn của bên giao đại diện, đại diện cho quyền lợi của bên giao đại diện Bên

nhân

danh

Bên môi giới thực hiện hoạt động

môi giới với danh nghĩa của

chính mình

Bên đại diện thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa của bên giao đại diện

Thời

điểm

phát

sinh

quyền

hưởng

thụ thù

lao

Quyền hưởng thù lao môi giới

phát sinh từ thời điểm các bên

được môi giới đã ký hợp đồng

với nhau (trừ trường hợp có thỏa

thuận khác)

Quyền hưởng thù lao đại diện phát sinh từ thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng đại diện

Hình

thức

hợp

đồng

Hợp đồng môi giới thương mại

không nhất thiết phải lập thành

văn bản

Hợp đồng đại diện cho thương nhân phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật)

Trang 6

1.3.2 So sánh hoạt động môi giới thương mại và hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa

Hoạt động môi giới thương mại Hoạt động ủy thác mua bán hang

hóa Khái

niệm

Điều 150 Luật thương mại Điều 155 Luật thương mại

Chủ thể + Bên môi giới: phải là thương

nhân

+ Bên được môi giới: Thương

nhân hoặc không phải là thương

nhân

+ Bên nhận ủy thác: Thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác

+ Bên ủy thác: Thương nhân hoặc không phải là thương nhân

Vai trò Bên môi giới đóng vai trò là cầu

nối để người mua và người bán

gặp nhau, là trung gian trong việc

đàm phán, giao kết hợp đồng;

không tham gia thực hiện hợp

đồng giữa các bên (trừ khi được ủy

quyền)

Bên nhận ủy thác thực hiện việc mua bán hàng hóa cho bên ủy thác

Bên nhân

danh

Bên môi giới hoạt động với danh

nghĩa của chính mình, không đại

diện cho quyền lợi của bên nào

trong các bên được môi giới

Bên nhận ủy thác hoạt động với danh nghĩa của chính mình, đại diện cho quyền lợi của bên ủy thác

Trách

nhiệm

pháp lý

Bên môi giới có nghĩa vụ chịu

trách nhiệm về tư cách pháp lý của

bên được môi giới, không chịu

trách nhiệm về khả năng thanh

toán của họ

Bên nhận ủy thác có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra

Hình

thức hợp

đồng

Hợp đồng môi giới thương mại

không nhất thiết phải lập thành văn

bản

Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

1.3.3 So sánh hoạt động môi giới thương mại và hoạt động đại lý thương mại

Hoạt động môi giới thương mại Hoạt động đại lý thương mại

Khái niệm Điều 150 Luật thương mại 2005 Điều 160 Luật thương mại 2005 Chủ thể + Bên môi giới: phải là thương

nhân

+ Bên được môi giới: Thương

nhân hoặc không phải là thương

nhân

+ Bên giao đại lý: Thương nhân (giao hàng hóa, tiền, ủy quyền cung ứng dịch vụ)

+ Bên đại lý: Thương nhân

Vai trò Bên môi giới đóng vai trò là

người trung gian trong việc đàm

phán, ký kết hợp đồng của các

bên được môi giới

Bên đại lý là người trung gian trong việc mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng

Trang 7

Mối quan

hệ

Quan hệ giữa bên môi giới và

bên được môi giới là quan hệ

hợp đồng từng lần, ngắn hạn

Quan hệ giữa bên đại lý và bên giao đại lý là quan hệ hợp đồng dài hạn

Bên nhân

danh

Bên môi giới hoạt động với danh

nghĩa của chính mình, không đại

diện cho quyền lợi của bên nào,

không tham gia thực hiện hợp

đồng giữa các bên (trừ trường

hợp được ủy quyền)

Bên đại lý hoạt động với danh nghĩa của chính mình; đứng tên trên hợp đồng, là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Quyền

quyết định

giá bán

Bên môi giới không có quyền

quyết định giá bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ giữa các bên

được môi giới

Đại lý bao tiêu có quyền quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng

Hình thức

hợp đồng

Hợp đồng môi giới không nhất

thiết phải lập thành văn bản

Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về môi giới thương mại

2.1.1 Quy đinh của pháp luật về chủ thể tham gia hợp đồng môi giới thương mại

 Các quy định đối với bên môi giới

Để trở thành thương nhân dù là tổ chức hay cá nhân khi tham gia hoạt động thương mại đều phải đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, ở Điều 7 Luật Thương mại

2005 lại quy định “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật” Quy định này lại có ý nghĩa gián tiếp thừa nhận các cá nhân hay tổ chức hoạt động thương mại không đăng ký kinh doanh vẫn được xem là thương nhân Như vậy, sự thiếu thống nhất trong quy định của pháp luật lại gây ra sự không đồng nhất khi xác định chủ thể nào được phép tham gia làm bên môi giới thương mại Vậy với bên môi giới hoạt động đăng ký kinh doanh hay không sẽ không ảnh hưởng đến tư cách thương nhân của họ và họ đương nhiên được cung ứng dịch vụ môi giới thương mại của mình

 Các quy định đối với bên môi giới

Nếu xác định bên được môi giới theo định nghĩa về các hoạt động trung gian thương mại thì sẽ phát sinh các vấn đề bất cập Bên được môi giới không chỉ là nhà sản xuất, nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ mà cũng có thể là người có nhu cầu sử dụng, vậy bắt buộc là thương nhân đối với đối tượng có nhu cầu sử dụng sẽ rất khó thực hiện Mặt khác, bên được môi giới chỉ là bên sử dụng và nhận cung ứng dịch

vụ từ bên môi giới nên yêu cầu bên được môi giới phải là thương nhân sẽ không hợp lý Khi hạn chế bên được môi giới là thương nhân thì trường hợp phát sinh

Trang 8

quan hệ môi giới thương mại mà bên được môi giới không phải là thương nhân thì

dù có nhằm mục đích lợi nhuận hay là hoạt động thương mại Luật Thương mại ko thể điều chỉnh được mà phải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự Như vậy, chính bên môi giới cũng không phải chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại dù có là thương nhân

 Bên thứ ba

Việc xác lập tư cách của bên thứ ba cũng là một trong những căn cứ để xác lập một số nội dung trong hợp đồng môi giới, quyền và nghĩa vụ của bên môi giới lẫn bên được môi giới đặc biệt là vấn đề thời điểm được hưởng thù lao của bên môi giới

Bên thứ ba có thể chỉ có 1 hoặc nhiều chủ thể tùy vào yêu cầu của bên được môi giới Theo quy định của pháp luật, không có yêu cầu bắt buộc nào đối với bên thứ ba, chỉ cần bên thứ ba đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà bên được môi giới đưa ra Điều này phụ thuộc vào sự nhận định của bên môi giới Các yêu cầu khác đối với bên thứ ba sẽ áp dụng khi tiến hành ký kết hợp đồng với bên được môi giới tùy thuộc vào từng loại hợp đồng nhất định và thỏa thuận của hai bên

2.1.2 Quy định của pháp luật về hợp đồng môi giới thương mại

Khi xác định về hoạt động môi giới thương mại, pháp luật Việt Nam lại không có quy định cụ thể cho việc hoạt động môi giới của bên môi giới có phải là cung ứng dịch vụ hay không mà chỉ đưa ra định nghĩa đó là hoạt động trung gian giúp các bên đàm phán và giao kết hợp đồng Có thể xác định hoạt động môi giới thương mại của bên môi giới là cung ứng dịch vụ và dựa trên cơ sở đó để xác định hình thức của hợp đồng Nếu xác định như vậy thì hình thức hợp đồng của hoạt động môi giới thương mại sẽ thống nhất văn bản điều chỉnh với các hoạt động trung gian khác là do Luật thương mại điều chỉnh Trong khi đó, Luật kinh doanh bất động sản 2014 lại xác định môi giới bất động sản là một dịch vụ thuộc nhóm dịch

vụ bất động sản, Bộ luật hàng hải 2005 cũng xác định hoạt động môi giới hàng hải

là hoạt động cung ứng dịch vụ

Trong hoạt động môi giới thương mại cũng sẽ có những ngành nghề có điều kiện kinh doanh cụ thể và bắt buộc hợp đồng môi giới thương mại phải lập thành văn bản Với trường hợp cụ thể như vậy sẽ căn cứ vào luật chuyên ngành để xác lập hợp đồng cho phù hợp như hợp đồng môi giới bất động sản (một trong 3 loại hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản) “Hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản phải được lập thành văn bản Việc công chứng, chứng thực hợp đồng do các bên thỏa thuận” , …

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng môi giới thương mại

* Quyền và nghĩa vụ của bên môi giới

Khi pháp luật không có quy định hạn chế thì bên môi giới có quyền ủy quyền hoặc thuê một chủ thể khác thực hiện công việc môi giới mà mình đã ký kết căn cứ

Trang 9

trên các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về hợp đồng ủy quyền hay hợp đồng thuê làm một công việc nhất định

* Quyền và nghĩa vụ của bên được môi giới

Trong mục 2 Chương V Luật Thương mại 2005 không có một điều khoản cụ thể nào quy định về quyền của bên được môi giới Việc không có điều khoản quy định rõ quyền của bên được môi giới đã tạo ra một cách hiểu khác là trong hợp đồng môi giới bên được môi giới có thể được hưởng hoặc không được hưởng từ bên môi giới những cơ hội giao kết hợp đồng cần thiết, mà không bắt buộc bên môi giới phải cung cấp

* Quyền và nghĩa vụ bên thứ ba

Tuy trong hoạt động môi giới thương mại bên thứ ba chỉ là bên liên quan và hưởng lợi từ hoạt động đó nhưng bên thứ ba cũng có những quyền và nghĩa vụ nhất định để đảm bảo không xâm phạm đến quyền lợi của cả bên môi giới lẫn bên được môi giới

2.1.4 Chấm dứt hợp đồng môi giới

Trong các điều khoản quy định tại Mục 2 Chương V Luật Thương mại không

có quy định cho vấn đề chấm dứt hợp đồng môi giới thương mại Căn cứ vào Khoản

3 Điều 4 Luật Thương mại “Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự” Do đó, việc chấm dứt hợp đồng môi giới thương mại sẽ do Bộ luật dân sự điều chỉnh 2.2 Thực trạng thực thi pháp luật môi giới thương mại ở Việt Nam

 Không đáp ứng quy đinh của pháp luật về điêu kiện chủ thể

Trở thành thương nhân có thể hoạt động môi giới thương mại thì bên môi giới lại phải thông qua các thủ tục hành chính nhất định, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật với nhiều ràng buộc và phải thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước (thuế,…) chính vì vậy không ít nhà môi giới quyết định hoạt động “chui” để hưởng lợi

 Vượt quá thẩm quyền của bên môi giới

Bản thân hoạt động của các nhà môi giới chỉ được dừng lại ở giới thiệu chứ không thể tham gia giao dịch trực tiếp với bên thứ ba thay cho bên được môi giới

Sự vượt quyền của bên môi giới đem lại rủi ro cho bên thứ ba vì đa số bên thứ ba sẽ

có tâm lý giao dịch với bên làm việc trực tiếp với mình cho yên tâm mà quên tìm hiểu địa vị pháp lý của họ

 Bất đồng về vấn đề trả tiền thù lao và chi phí liên quan khi họa hồng môi giới không đưa lại kết quả

Dù cho bên môi giới đã giúp cho bên thứ ba và bên được môi giới gặp nhau

và tiến hành đàm phán nhưng vẫn không thể đi đến kết quả cuối cùng là xác lập hợp đồng thì bên môi giới cũng vẫn không được thanh toán tiền thù lao xứng đáng với mức độ công sức đã bỏ ra Đây là một điểm thiệt thòi cho bên môi giới Do đó, bên

Trang 10

môi giới gặp rất nhiều khó khăn để được thanh toán các chi phát sinh liên quan khi hoạt động môi giới không đưa đến kết quả như mong muốn

 Sự thông đồng của bên môi giới với bên thứ ba ddeer tránh nghĩa vụ bên môi giới

Vấn đề này xảy ra xuất phát từ chính sự thỏa thuận không chi tiết trong hợp đồng môi giới tạo điều kiện cho bên được môi giới trốn tránh nghĩa vụ của mình Vấn đề xác định thới điểm thanh toán thù lao cần được các bên cân nhắc để tránh thiệt hại về phía mình

 Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các bên môi giới và bên môi giới Pháp luật không thể hạn chế được việc nhà kinh doanh tìm đến nhiều nhà môi giới để mở rộng thêm cơ hội tìm kiếm được bên thứ ba vì đây chính là quyền tự

do kinh doanh Chính vì vậy, mà bản thân các thương nhân hoạt động môi giới thương mại phải tự điều chỉnh trong hoạt động để có thể đem lại lợi ích cho mình nhưng không ảnh hưởng đến lợi ích của những đối tượng khác

 Lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp

Các hình thức giải quyết tranh chấp môi giới thương mại hiện nay tuy đã có quy định cụ thể về trình tự thủ tục nhưng vẫn còn một số điểm hạn chế Những nhược điểm của cả hai hình thức giải quyết tranh chấp trên đều gây ra khó khăn nhất định cho việc các bên tham gia lựa chọn hình thức giải quyết Đây là điểm vướng mắc cần khắc phục trong hệ thống pháp luật

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

3.1 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động môi giới thương mại

3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật

Theo định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại và hoạt động môi giới thương mại thì sẽ có sự khác nhau trong việc quy định đối với chủ thể được môi giới thương mại Vì vậy, cần xem xét, thống nhất quy định này cho hợp lý

Đặc biệt trong hoạt động môi giới thì việc giải quyết vấn đề thù lao và thanh toán chi phái phát sinh hợp lý liên quan vẫn còn khiến cho các bên có nhiều bất đồng và tìm cách trốn tránh nghĩa vụ bởi những quy định chưa thật sự chặt chẽ Vì vậy, trong quá trình rà soát cần phải làm rõ những nội dung được pháp luật quy định

và khắc phục những điểm còn bất hợp lý trong các quy định

Trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia thì không có quy định về quyền của bên được môi giới, điều này gây ra những cách hiểu khác nhau và làm thiệt thòi cho bên được môi giới

Khi xây dựng pháp luật cần đảm bảo được pháp luật phù hợp và có thể áp dụng được vào thực tế đặc biệt là phải phù hợp với xu hướng kinh tế quốc tế, mở rộng giao thương, vừa tạo thuận lợi cho các nhà kinh doanh trong nước vươn ra thị

Ngày đăng: 10/05/2022, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2009), Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Thị Vân Anh (2008), Vấn đề pháp lý về quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt động trung gian thương mại, Tạp chí Luật học, số 11 Khác
3. Ngô Huy Cương (2008), Hành vi thương mại, Tạp chí nghiên cứu lập pháp Khác
4. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Thương mại, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Khác
5. Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Khác
6. Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế Khác
7. Đoàn Đức Lương, Giáo trình Luật Dân sự tập 1,2, Nhà xuất bản Đại học Huế Khác
8. Lê Thị Hải Ngọc, Tài liệu học tập Luật Thương mại phần 1,2, Nhà xuất bản Đại học Huế Khác
9. Lê Hoàng Oanh (2004), Hoàn thiện pháp luật thương mại hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
10. Tuyển tập các văn bản pháp luật cơ bản về thương mại của cộng hòa Pháp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức  hợp  đồng  - Hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam
Hình th ức hợp đồng (Trang 5)
Hình thức hợp đồng  - Hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam
Hình th ức hợp đồng (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w