1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị nghiên cứu thực trạng dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định và đưa ra một số khuyến nghị nâng cao chất lượng dạy học kết hợp tại tỉnh này. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

DẠY HỌC KẾT HỢP TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THUỘC TỈNH NAM ĐỊNH – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

TS Phạm Thị Huệ Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong Nam Định

TS Nguyễn Thị Hảo, TS Phạm Thị Bích Đào, ThS Phan Thị Bích Lợi

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

TS Nguyễn Ngọc Tú Trường Đại học Sư phạm 2

Tóm tắt

Đại dịch COVID 19 bùng phát trong cộng đồng khiến các trường học bắt buộc phải đóng cửa trong một thời gian nhất định để phòng chống dịch bệnh Hiện trạng này dẫn đến dạy học trực tuyến trở thành hình thức giảng dạy bắt buộc trong các cơ sở giáo dục Trong bối cảnh “bình thường mới”, việc kết hợp giữa dạy học trực tuyến và trực tiếp là một phương án khả thi được nhiều địa phương lựa chọn Tại tỉnh Nam Định, hình thức dạy học kết hợp giữa dạy học trực tuyến và dạy học trực tiếp đã được sử dụng ở mức độ nhất định trong các trường phổ thông nhằm đảm bảo kế hoạch và chất lượng giáo dục Bài viết nghiên cứu thực trạng dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định và đưa ra một số khuyến nghị nâng cao chất lượng dạy học kết hợp tại tỉnh này

Từ khóa: Dạy học kết hợp, dạy học trực tuyến, giáo dục Nam Định

Abtract

The COVID-19 pandemic broke out in the community, forcing schools to close for

a certain period of time to prevent disease This situation leads to online teaching becoming a compulsory form of teaching in educational institutions In the context of the "new normal", the combination of online and face-to-face teaching is a viable option chosen by many localities In Nam Dinh province, teaching that combines online and face-to-face teaching has been used to a certain extent in high schools to ensure education planning and quality The article studies the current situation of blended teaching in some high schools in Nam Dinh province and makes some recommendations

to improve the quality of blended teaching in Nam Dinh province

Trang 2

I Đặt vấn đề

Từ tháng 3/2020 đến nay, ngành giáo dục cả nước đối diện với những thách thức chưa từng có do dịch bệnh COVID-19 đặt ra, trong đó có ngành giáo dục tỉnh Nam Định Bên cạnh những thách thức do diễn biến phức tạp của dịch bệnh, giáo dục Nam Định cũng đối diện với những đòi hỏi từ yêu cầu đổi mới của toàn ngành Đó là tiếp tục triển khai Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết của Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GDĐT) Năm học 2019-2020 và 2020-2021 là 2 năm học đầu tiên triển khai chương trình, sách giáo khoa lớp 1, lớp 6 theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; đồng thời là thời điểm bắt đầu triển khai thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm giai đoạn 2020-2025 Với thành tích trên 20 năm liên tục đứng trong tốp đầu về chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn trong toàn quốc, tỉnh Nam định đã bước đầu có những đổi mới, cập nhật kịp thời, đặc biệt là trong dạy học kết hợp trực tuyến và trực tiếp

II Nội dung

1 Dạy học kết hợp

Có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học kết hợp (DHKH - Blended learning) Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa do Học viện Innosight đưa ra:

“DHKH là một hình thức giáo dục chính qui trong đó người học nhận được một phần

sự phân phối nội dung và hướng dẫn trực tuyến (người học được quyền kiểm soát ít nhất

là một trong các yếu tố thời gian, địa điểm, cách thức hoặc tốc độ học tập) và một phần

là trải nghiệm học tập theo lớp học trực tiếp” (Heather Staker & Michael B.Horn, 2012) [5] Đây là định nghĩa nhận được sự đồng thuận lớn của giới nghiên cứu và giảng dạy DHKH thể hiện những ưu điểm nổi bật của cả hai hình thức dạy học (DH): trực tuyến và trực tiếp, đồng thời hạn chế được một số nhược điểm của hai phương thức DH này Cụ thể, DHKH cho phép học sinh (HS) và giáo viên (GV) tận dụng phần lớn sự linh hoạt và tiện lợi của một khóa học trực tuyến trong khi vẫn giữ được lợi ích của trải nghiệm lớp học trực tiếp như sự tương tác, giao tiếp xã hội Có thể nói, DHKH thể hiện một số ưu điểm chủ đạo như: DH trực tuyến vẫn giữ được ưu điểm của DH truyền thống;

GV hỗ trợ được nhiều HS hơn; Cung cấp dữ liệu tức thời; Cá nhân hóa việc học và phù hợp với phong cách học tập đa dạng của từng HS; Nâng cao thành tích học tập và sự hài lòng của HS; Đa dạng hóa phong cách DH của GV

Trang 3

2 Thực trạng dạy học kết hợp tại một số trường THPT thuộc tỉnh Nam Định về dạy học kết hợp

Khảo sát được tiến hành tại ở 07 trường THPT tỉnh Nam Định (Lê Hồng Phong,

Lê Quý Đôn, Mỹ Lộc, Nam Trực, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thủy) với 28 CBQL,

334 GV và 2768 HS về thực trạng triển khai DHKH Kết quả khảo sát về thực trạng được đánh giá, phân tích để làm cơ sở góp phần đề xuất mô hình DHKH tại trường THPT chuyên Lê Hồng Phong và một số trường THPT trên địa bàn tỉnh

2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên tại một số trường THPT thuộc tỉnh Nam Định về dạy học kết hợp

Khảo sát về nhận thức của CBQL, GV về DHKH, chúng tôi nhận thấy có 85,7% CBQL và 60,8% GV cho rằng DHKH là “Dạy học tương tác trực tuyến theo thời gian thực (thông qua Zoom, Google Meet, MS Teams…) hoặc trên lớp học, kết hợp với giao bài tập, nhiệm vụ để HS tự học, kiểm tra đánh giá trên một trang web hoặc nền tảng quản lí học tập” Kết quả phân tích riêng theo đơn vị trường Lê Hồng Phong và 06 trường còn lại cũng cho thấy không có sự khác biệt về quan niệm giữa CBQL và GV ở các trường này Do vậy, có thể thấy rằng đa số CBQL và GV tham gia khảo sát đã có quan niệm tương đối đầy đủ về DHKH, đây là tiền đề thuận lợi cho việc triển khai hiệu quả hình thức dạy học này, bên cạnh các điều kiện cốt lõi khác như kĩ năng, phương pháp DHTT, hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin…

Ở nội dung này, chúng tôi quan tâm đặc biệt đến hình thức DHTT vì đây là một hình hình khá mới mẻ nếu xét trên góc độ sử dụng đại trà đối với GV, trong khi hình thức dạy học trực tiếp đã rất quen thuộc trong nhiều năm qua Kết quả khảo sát cho thấy

GV và CBQL có nhiều quan điểm khác nhau về DHTT thể hiện trong biểu đồ 1

Biểu đồ 1 Quan điểm của CBQL và GV về dạy học trực tuyến

14,3 10,7 14,3

46,4 0

14,3

5,1 11,1

35 41,6 0,3

5,4

GV và HS tương tác ở một địa điểm ảo xác định, vào …

HS tương tác với GV và bài học vào những thời …

Dạy học theo thời gian thực, có sự tương tác giữa …

Dạy học thông qua phần mềm ứng dụng trên môi …

Dạy học thông qua video phát trực tiếp trên các kênh …

Dạy học và kiểm tra, đánh giá thông qua việc HS tự …

Trang 4

Biểu đồ 1 cho thấy phương án “Dạy học thông qua phần mềm ứng dụng trên môi trường internet, đảm bảo giáo viên (GV) và học sinh (HS) tương tác đồng thời hoặc không đồng thời trong quá trình dạy học” được nhiều CBQL (46,4%) và GV (41,6%) lựa chọn nhất Điều này phản ánh mức độ nhận thức cao của họ về DHTT: hình thức

DH này bao gồm quá trình dạy học đồng thời, tức dạy học giáp mặt, và dạy học không đồng thời, tức là HS tự học trên một nền tảng trực tuyến dưới sự tổ chức, hướng dẫn của

GV Đây là cơ sở ban đầu cho việc triển khai thành công DHKH ở các nhà trường Phân tích theo đối tượng đơn vị trường cũng cho thấy kết quả trả lời khảo sát của CBQL và GV ở trường THPT Lê Hồng Phong và các trường THPT còn lại ở tỉnh Nam Định không có sự khác biệt rõ rệt về quan điểm với DHTT Như vậy, có thể kết luận rằng, quan điểm của hầu hết đội ngũ CBQL và GV về DHTT là “Dạy học thông qua phần mềm ứng dụng trên môi trường internet, đảm bảo GV và HS tương tác đồng thời hoặc không đồng thời trong quá trình dạy học”

Nhận định về vị trí, vai trò của DHTT, CBQL và GV tham gia khảo sát đánh giá mức độ đồng ý cao ở các vai trò: Không gian học tập mở với khoảng 78,1% phiếu đánh giá; Phát huy năng lực tự học, tự tìm kiếm thông tin, với khoảng 67,1% phiếu đánh giá;

Đa dạng hóa công cụ đánh giá HS, với khoảng 63,5% phiếu đánh giá

Với hình thức dạy học trực tiếp, CBQL và GV đồng ý hình thức dạy học này đem lại một số lợi ích sau: Tần suất tương tác của GV với HS, HS với HS lớn hơn, với khoảng 89,5% phiếu đánh giá; Tính liên tục và tức thì trong tương tác của GV với HS, HS với

HS với 87,7% phiếu đánh giá; Được thực hành thí nghiệm trải nghiệm thực tế với 84,4% phiếu đánh giá; Dễ dàng quản lý chất lượng giảng dạy của GV, với khoảng 82,0% phiếu đánh giá; Phù hợp và hiệu quả với tất cả các độ tuổi hơn, với khoảng 78,1% phiếu đánh giá Riêng với nhận định “Người học chủ động tiếp nhận kiến thức”, tỉ lệ lựa chọn đồng

ý đây là thế mạnh của DHTT và dạy học trực tiếp là tương đương nhau, với khoảng lần lượt 48,8% và 51,2% phiếu đánh giá Phân tích đánh giá vị trí, vai trò của DHTT và trực tiếp của các GV trường THPT Lê Hồng Phong và các trường THPT khác cũng cho kết quả tương tự nhau

Kết quả khảo sát cho thấy giá trị trung bình được đánh giá dao động trong khoảng

từ 2,11 đến 3,57, không có giá trị nào tiệm cận đến mức cao nhất là mức 5 Đây là mức

độ đánh giá ở mức 2 đến mức 4, cụ thể trong hình 2:

Trang 5

Biểu đồ 2 Mức độ đồng ý của GV với những nhận định về dạy học trực tuyến

Từ thực trạng trên có thể thấy, vị trí, vai trò của DHTT cao nhất ở nội dung “DHTT giúp thời gian và địa điểm dạy học trở nên linh hoạt” Với giá trị trung bình đạt 3,57 Đây cũng là một điểm mạnh rõ ràng của DHTT đã được chứng minh khi đại dịch

Covid-19 bùng phát nhanh trên toàn cầu và thúc đẩy chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ Đặc biệt nội dung “Đa phần GV thích DHTT” được hầu hết các đối tượng GV đánh giá mức thấp nhất, với giá trị trung bình 2,11 sát với mức hoàn toàn không đồng ý Nguyên nhân là

do DHTT cũng còn nhiều bất cập và hạn chế: DHTT không giúp HS tự giác hơn trong quá trình học tập hay GV gặp khó khăn trong quản lý việc học của HS khi DHTT… Khi phỏng vấn sâu một số GV, nhiều thầy/cô giáo chia sẻ quan điểm rằng cần tập huấn cho GV nâng cao năng lực CNTT cũng như việc sử dụng các phần mềm, ứng dụng trong dạy học, các công cụ hỗ trợ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS , đặc biệt cho các GV lớn tuổi và tăng cường bồi dưỡng cho đội ngũ CBQL và GV về chương trình GD phổ thông 2018 để DHTT đạt hiệu quả Như vậy, để DHTT đạt hiệu quả cần phải có những giải pháp phù hợp để khắc phục thực trạng này Một trong các giải pháp

mà nhóm nghiên cứu dự kiến đề xuất đó là DHKH

2.2 Thực trạng tổ chức triển khai dạy học kết hợp tại một số trường THPT thuộc tỉnh Nam Định về dạy học kết hợp

Trong hai năm học 2019 - 2020 và 2020-2021, một số trường phổ thông ở Nam Định đã triển khai học trực tuyến do diễn biến dịch bệnh COVID 19 Trong giai đoạn đầu triển khai, nhà trường còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, cũng như kĩ năng

sử dụng công nghệ thông tin của GV và HS còn nhiều hạn chế, nên việc DHKH được tổ

0

0,5

1

1,5

2

2,5

3

3,5

4

1 Dạy

học trực

tuyến giúp

thời gian

và địa

điểm dạy

học trở

nên linh

hoạt

2 Dạy học trực tuyến giúp việc dạy

và việc học trở nên tiện lợi hơn

3 Dạy học trực tuyến giúp tăng cường cơ hội học tập của HS

4 Dạy học trực tuyến giúp

GV quản

lý việc học của HS tốt hơn

5 Dạy học trực tuyến giúp

GV và HS

có trải nghiệm học tập đa dạng

6 Dạy học trực tuyến giúp tăng cường hứng thú học tập của HS

7 Dạy học trực tuyến giúp

HS tự giác hơn trong quá trình học tập

8 Đa phần GV thích dạy trực tuyến

3,57

2,4

3,22

2,11

Trang 6

chức theo hình thức: GV cho HS tự học trên mạng (DHTT), sau đó DH trực tiếp trên nền tảng CNTT (theo thời gian thực – dạy học trực tiếp) Có thể nói, các CSGD đã bước đầu tổ chức theo hình thức DHKH nhưng chưa có sự thống nhất về mô hình cũng như cách triển khai

Ở khảo sát về thực trạng tổ chức DHKH, chúng tôi quan tâm đến hình thức DHTT Khảo sát về thời gian cán bộ quản lý và giáo viên đã quản lý và dạy học kết hợp cho thấy thời gian CBQL và GV quản lí/dạy học theo hình thức trực tuyến chủ yếu là từ 3 đến 5 năm (chiếm khoảng trên 1/2), tiếp đến là dưới 1 năm (chiếm 38,1%), thời gian trên 5 năm chiếm 6,9% và số lượng CBQL và GV mới được tiếp cận DHTTT từ khi dịch bệnh bùng phát không đáng kể, chỉ chiếm dưới 1% Cụ thể:

Biểu đồ 3 Thời gian CBQL và GV đã quản lí/dạy học theo hình thức trực tuyến

Về cơ sở GD, số liệu khảo sát cho thấy đội ngũ CBQL và GV trường THPT Lê Hồng Phong có thời gian trải nghiệm với hình thức DHTT nhiều hơn so với các trường THPT khác (CBQL và GV có thời gian quản lí/dạy học theo hình thức trực tuyến từ 3 năm trở lên chiếm khoảng 71,2%; các trường THPT khác chỉ chiếm khoảng 57,3%) Điều này cho thấy sự cập nhật và ứng dụng các phương thức dạy học mới vào trong GD, hiện đại của đội ngũ CBQL nhà trường THPT Lê Hồng Phong nhanh hơn so với các trường THPT khác tại địa phương

Trung bình chung hầu hết các trường đều dạy dưới 3 tiết/tuần, với khoảng trên 1/2, trong đó thời gian trung bình GV trường Lê Hồng Phong dạy dưới 3 tiết/tuần là 47,1%, thấp hơn mức thời gian trung bình chung của các trường và thấp hơn so với thời gian dạy học của các trường THPT còn lại là 53,5% Điều này có thể dễ dàng được giải thích

là do đặc thù đầu vào của HS trường THPT Lê Hồng Phong cao hơn và học ở các lớp chuyên nên tính tự giác và khả năng tự học của các em cao hơn so với các HS trường

27,9

1

60,6

10,6 42,2

0,4

51,9

5,4 38,1

0,6

54,4

6,9 0

10

20

30

40

50

60

70

Trang 7

còn lại, GV phát huy có vai trò là người hướng dẫn, vì vậy thời gian tổ chức dạy học của GV ít hơn so với các GV trường khác là phù hợp với thực tế DHTT đã được triển khai từ lâu, trước thời điểm xảy ra đại dịch Covid-19, với mục đích đa dạng hóa các phương thức dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác dạy học trong các trường THPT Thực tiễn đã chứng minh khả năng quản lý, sự quan tâm sát sao với các hình thức dạy học hiện đại của đội ngũ CBQL và cách thức tổ chức thực hiện DHTT của GV phù hợp, linh hoạt ở các trường chuyên Đó là một tín hiệu tốt và là cơ sở vững chắc để các nhà trường triển khai DHKH thành công

Về với năng lực công nghệ thông tin, ngoài nội dung “Soạn bài Powerpoint” được các GV đánh giá mức độ thành thạo, thì các nội dung còn lại được các GV đánh giá ở mức độ chưa thành thạo đến mức thành thạo trung bình Kết quả phân tích ở đơn vị trường học cho thấy, ngoại trừ nội dung “Sử dụng phần mềm/mạng xã hội để quay và phát trực tiếp bài dạy (Facebook, Youtobe…)”, thì 14/15 nội dung còn lại GV trường THPT Lê Hồng Phong đều đánh giá mức độ thực hiện thành thạo về năng lực công nghệ thông tin cao hơn so với các GV trường THPT khác Tuy nhiên, nhà trường cũng đề xuất tăng cường tập huấn nâng cao năng lực công nghệ thông tin để nâng cao hơn nữa hiệu quả phục vụ DHTT đặc biệt là đối với các GV lớn tuổi” Kết quả trên được thể hiện trong biểu đồ 4:

Biểu đồ 4 Mức độ năng lực công nghệ thông tin của GV phục vụ DHKH giữa

trực tuyến và trực tiếp

Về kỹ năng DHTT, kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, tất cả các kĩ năng được GV đánh giá mức giá trị trung bình dao động trong khoảng từ 2,75 – 3,24 Đây là mức điểm đánh giá trung bình về kĩ năng trong DHKH của GV Trong đó, “Kĩ năng công nghệ

2,03

2,25 2,28

1,94 1,83 2,04

3,15 2,93

1,93

3,95

1,91

3,19 2,27

3,25 3,12

2,08

0

0,51

1,5

2

2,5

3

3,54

4,5

Tổng Lê Hồng Phong THPT khác

Trang 8

thông tin cơ bản” được GV đánh giá ở mức độ thành thạo cao nhất, với giá trị trung bình

là 3,24; tiếp đến là “Kĩ năng khai thác, tìm kiếm học liệu phục vụ DHTT”, với giá trị trung bình là 3,16; “Kĩ năng kiểm tra, đánh giá trong DHTT, giá trị trung bình là 3,03

và thấp nhất là Kĩ năng xây dựng phong cách riêng trong DHTT, với giá trị trung bình

là 2,75 Ở tất cả các kĩ năng, GV trường Lê Hồng Phong tự đánh giá cao hơn GV các trường THPT khác, tuy nhiên mức chênh lệch là không đáng kể

Như vậy, GV đã có sự tự tin nhất định ở các kĩ năng CNTT, khai thác học liệu, tương tác trực tuyến với HS Đây là các kĩ năng cần thiết, là những điều kiện cần, để triển khai DHKH thành công trong nhà trường Tuy nhiên, mức đánh giá thành thạo ở các kĩ năng này của GV còn chưa cao, do vậy, để triển khai DHKH thành công thì các

GV cần phải được bồi dưỡng để thực hiện thành thạo các kĩ năng phục vụ DHKH trong thời gian tới

Khi được hỏi về mong muốn của GV về các khóa bồi dưỡng kĩ năng theo nhu cầu, các GV đã lựa chọn như sau:

Biểu đồ 5 Mong muốn của GV về các kĩ năng cần được bồi dưỡng

Qua kết quả khảo sát có thể thấy, hiện nay hầu hết các GV mong muốn được bồi dưỡng Kĩ năng sử dụng một số phần mềm chuyên dụng, nâng cao với khoảng 80,5% phiếu đánh giá; sau đó đến Kĩ năng tương tác trực tuyến với HS và Kĩ năng đánh giá kết quả học tập của HS trong DHTT với cùng 67,7% phiếu đánh giá; Kĩ năng quản lý lớp học trực tuyến với 66,8% phiếu đánh giá và Kĩ năng CNTT cơ bản với khoảng 60%

57,1

73,5

65,3 65,3

63,7

87,2

71,7 71,7

61,9 61,9

73

63,3 59,9

80,5

67,7 67,7

56,9 56,9

66,8

58,7

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

100

1 Kĩ năng

CNTT cơ

bản

2 Kĩ năng

sử dụng một

số phần mềm chuyên dụng, nâng cao

3 Kĩ năng ĐGKQ học tập của HS trong dạy học trực tuyến

4 Kĩ năng tương tác trực tuyến với HS

5 Kĩ năng tạo môi trường học tập trực tuyến thân thiện, tích cực

6 Kĩ năng lập kế hoạch dạy học trực tuyến

7 Kĩ năng quản lý lớp học trực tuyến

8 Kĩ năng xây dựng phong cách dạy học trực tuyến riêng

Lê Hồng Phong THPT khác Tổng

Trang 9

phiếu đánh giá Các kĩ năng còn lại sẽ được bồi dưỡng sau so với 05 kĩ năng được GV đặt nhu cầu ưu tiên kể trên

Về công cụ, phương tiện dạy học kết hợp, kết quả khảo sát cho thấy hiện nay có rất nhiều ứng dụng CNTT được triển khai vào dạy học, thúc đẩy hình thức DHKH phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi, đặc biệt từ sau khi dịch Covid-19 bùng phát Tuy nhiên các nhà trường, CBQL, GV, HS thường tập trung vào một số công cụ nhất đinh Do đó, tính

đa dạng của công cụ không cao, một số công cụ GV chưa sử dụng hoặc chưa được biết tới Cụ thể:

Bảng 1 Thống kê các công cụ giáo viên đang sử dụng trong dạy học

(Nguồn: Kết quả điều tra, khảo sát) Kết quả khảo sát cho thấy, các công cụ được GV sử dụng nhiều hơn đó là Zoom, Google meet, Microsoft Teams, Zalo, Messenger Facebook Trong đó, Zoom, Zalo,

Trang 10

Messenger Facebook được GV đánh giá là dễ sử dụng hơn các công cụ khác, và đa số các công cụ này là các phần mềm miễn phí Như vậy, có thể thấy chi phí về tài chính cho các công cụ tổ chức dạy học cũng là một yếu tố quan trọng cần tính tới khi triển khai DHKH

Mặt khác, việc sử dụng công cụ DHKH có vẻ phân tán giữa các trường Mỗi trường, mỗi GV hiện đang sử dụng các công cụ hỗ trợ khác nhau để phục vụ quá trình giảng dạy Cụ thể, đối với trường THPT Lê Hồng Phong, GV đã được tập huấn công cụ Microsoft Teams và được yêu cầu sử dụng công cụ này Còn đối với các trường THPT khác thì công cụ Zoom, Google meet, Microsoft Teams GV được tập huấn nhiều hơn cả

và được yêu cầu sử dụng các công cụ này Ngoài ra, GV ở các trường cũng tự tìm hiểu các công cụ khác để phục vụ tối đa hiệu quả hoạt động dạy học của mình Điều này cho thấy sự nỗ lực học hỏi của đội ngũ GV hiện nay trong việc mong muốn tìm hiểu các phần mềm, ứng dụng dạy học hiện đại và phù hợp nhất, đây là một trong những điều kiện thuận lợi để thực hiện DHKH hiệu quả trong tương lai

Với HS, các em tự đánh giá sử dụng thành thạo nhất công cụ Zoom, tiếp đến là Zalo, Google Meet, Microsoft Teams, Google classroom và cuối cùng là Skype; với giá trị trung bình lần lượt là 3,76; 3,33; 3,31; 2,57; 1,98 và 1,47 Trong đó, HS trường Lê Hồng Phong sử dụng thành thạo Zoom, Microsoft Teams, còn HS các trường THPT khác sử dụng thành thạo công cụ Google Meet và Zalo hơn Đánh giá của HS có nhiều điểm tương đồng với phân tích về các công cụ GV sử dụng ở trường – nếu trường sử dụng công cụ nào nhiều thì HS có xu hướng sử dụng thành thạo các công cụ đó hơn Bên cạnh đó, học liệu cũng góp phần không nhỏ để GV truyền tải kiến thức đến

HS Mức độ sử dụng các học liệu được GV trường Lê Hồng Phong và các trường THPT đánh giá khá tương đồng, tuy nhiên mức độ sử dụng các học liệu này của GV trường Lê Hồng Phong thường xuyên hơn các trường THPT khác, thể hiện trong biểu đồ 6

Từ biểu đồ phân tích cho thấy, ngoại trừ tài liệu số dạng văn bản được các GV đánh giá mức độ sử dụng thường xuyên thì 5/6 học liệu còn lại đều được các đội ngũ

GV đánh giá sử dụng mức độ bình thường và ít thường xuyên, trong đó Phần mềm mô phỏng/thí nghiệm là học liệu được các GV đánh giá sử dụng ít hơn cả Điều này được

lý giải do, không phải môn học nào cũng cần phần mềm mô phỏng/thí nghiệm, nên học liệu này được GV ít sử dụng hơn Kết quả này không nằm ngoài dự đoán khi học liệu phổ biến nhất trong nhà trường hiện nay chỉ là tài liệu dạng văn bản và ngân hàng đề thi Đây cũng là các tài liệu chính, chủ yếu khi GV dạy học trực tiếp, và tiếp tục được

sử dụng khi DHTT

Ngày đăng: 10/05/2022, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ở nội dung này, chúng tôi quan tâm đặc biệt đến hình thức DHTT vì đây là một hình hình khá mới mẻ nếu xét trên góc độ sử dụng đại trà đối với GV, trong khi hình  thức dạy học trực tiếp đã rất quen thuộc trong nhiều năm qua - Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị
n ội dung này, chúng tôi quan tâm đặc biệt đến hình thức DHTT vì đây là một hình hình khá mới mẻ nếu xét trên góc độ sử dụng đại trà đối với GV, trong khi hình thức dạy học trực tiếp đã rất quen thuộc trong nhiều năm qua (Trang 3)
chức theo hình thức: GV cho HS tự học trên mạng (DHTT), sau đó DH trực tiếp trên nền tảng CNTT (theo thời gian thực – dạy học trực tiếp) - Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị
ch ức theo hình thức: GV cho HS tự học trên mạng (DHTT), sau đó DH trực tiếp trên nền tảng CNTT (theo thời gian thực – dạy học trực tiếp) (Trang 6)
Bảng 1. Thống kê các công cụ giáo viên đang sử dụng trong dạy học - Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị
Bảng 1. Thống kê các công cụ giáo viên đang sử dụng trong dạy học (Trang 9)
dạng văn bản 2. Tài liệu số dạng hình ảnh dạng âm thanh 3. Tài liệu số dạng clip video 4 - Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị
d ạng văn bản 2. Tài liệu số dạng hình ảnh dạng âm thanh 3. Tài liệu số dạng clip video 4 (Trang 11)
Với hình thức dạy học trực tiếp, kết quả khảo sát HS tự đánh giá mức độ chủ động của mình trong dạy học trực tiếp cho thấy điểm trung bình dao động trong khoảng từ  3,43 đến 4,0; trong đó HS tự đánh giá mình Chủ động trong học tập ở mức cao nhất và  thấp  - Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị
i hình thức dạy học trực tiếp, kết quả khảo sát HS tự đánh giá mức độ chủ động của mình trong dạy học trực tiếp cho thấy điểm trung bình dao động trong khoảng từ 3,43 đến 4,0; trong đó HS tự đánh giá mình Chủ động trong học tập ở mức cao nhất và thấp (Trang 12)
Trước hết, các hình thức DHTT, DHKH và các phương thức dạy học hiện đại luôn được nhà nước, bộ ngành, quan tâm và ủng hộ triển khai thực hiện - Dạy học kết hợp tại một số trường trung học phổ thông thuộc tỉnh Nam Định – Thực trạng và một số kiến nghị
r ước hết, các hình thức DHTT, DHKH và các phương thức dạy học hiện đại luôn được nhà nước, bộ ngành, quan tâm và ủng hộ triển khai thực hiện (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w