Bài nghiên cứu này nhằm hệ thống hóa các loại hình kiến trúc đã từng tồn tại trong Hoàng Thành Huế và sự phân cấp công trình dựa trên thông tin sử liệu, kết quả khai quật khảo cổ học, nghiên cứu phân tích đặc điểm các hình thức kiến trúc và kết quả khảo sát hiện trạng. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu này còn đưa ra cách nhận dạng loại hình kiến trúc dựa trên đặc trưng tổ chức không gian mặt bằng và cấu trúc mặt cắt, từ đó làm rõ các quy định (Điển chế kiến trúc) của triều Nguyễn trong hoạt động xây dựng kiến trúc cung điện Huế. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Các loại hình kiến trúc Cung điện Hoàng thành Huế
ThS.KTS Trương Ngọc Quỳnh Châu
Trường Đại học Công Nghệ TP.HCM
Tóm tắt: Hoàng Thành Huế, nơi đặt các
công trình kiến trúc quan trọng nhất của
triều Nguyễn - triều đại quân chủ chuyên
chế cuối cùng của Việt Nam (1802-1945),
là một phần quan trọng thuộc Quần thể
di tích C ố đô Huế được UNESCO công
nhận là Di sản văn hoá thế giới 12/1993
Trải qua 143 năm, nơi đây từng tồn tại
khoảng 150 công trình, gồm 10 phân
khu chức năng chính: Môn & Khuyết đài
(門, 闕台), “Ngoại Triều” (外朝), “Tử
Cấm Thành” (紫禁城), “Thái Miếu” (太
廟), “Thế Miếu” (世廟), “Phụng Tiên
Cung” (奉先宮), “Diên Thọ Cung” (延壽
宮), “Trường Sanh Cung” (長生宮), “Nội
Vụ Phủ” (内務府) và “Cơ Hạ Viên” (幾暇
園) Hiện nay, các công trình còn lại
trong Hoàng Thành Huế không nhiều,
khoảng 1/4 công trình đã được trùng tu
và ph ục dựng, đa số các công trình chính
đã bị sụp đổ hoàn toàn Bài nghiên cứu này nhằm hệ thống hoá các loại hình kiến trúc đã từng tồn tại trong Hoàng Thành Huế và sự phân cấp công trình
d ựa trên thông tin sử liệu, kết quả khai quật khảo cổ học, nghiên cứu phân tích đặc điểm các hình thức kiến trúc và kết quả khảo sát hiện trạng Bên cạnh đó, bài nghiên cứu này còn đưa ra cách nhận dạng loại hình kiến trúc dựa trên đặc trưng tổ chức không gian mặt bằng
và cấu trúc mặt cắt, từ đó làm rõ các quy định (Điển chế kiến trúc) của triều Nguyễn trong hoạt động xây dựng kiến trúc cung điện Huế
Từ khóa: lịch sử kiến trúc, di sản văn
hoá, cung điện Huế
1 Tóm t ắt lịch sử triều Nguyễn và quá trình xây dựng Hoàng Thành Huế
Việc thành lập vương quốc Đàng
Trong tại vùng đất Thuận Hoálà nhờ
công lao của 9 Chúa Nguyễn, bắt đầu từ
khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất
Thuận Hoá năm 1558[1] Từ đó đến
1777, các Chúa Nguyễn không ngừng xây
dựng thành một thế lực độc lập và mở
mang bờ cõi về phía Nam Từ
1778-1801, nhà Tây Sơn nổi dậy nắm chính
quyền, sau khi lật đổ Chúa Trịnh (1786)
Trang 2Phú Xuân - Thuận Hoá làm Kinh đô thống toàn đồ (giai đoạn
Minh Mạng 1820-1841)
của của Quần thể di tích Cố Đô Huế (1930) Năm 1802, Chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu
là Gia Long, lập nên nhà Nguyễn (1802-1945) Đồ án xây dựng Kinh Thành (京城) Huế do đích thân Hoàng đế Gia Long thiết kế từ năm 1803*2+.Dưới thời Gia Long (1802-1820), diện tích xây
dựng đã được mở rộng hơn rất nhiều so với thành Phú Xuân (củanhà Tây Sơn) Để xây dựng Kinh Thành Huế, Hoàng đế Gia Long đã chodi dời 9 ngôi làng trong khu vực Kinh Thành ngày nay, cải tạo và nắn dòng chảy các sông tự nhiên để thiết lập hệ thống thủy đạo liên hoàn trong Kinh Thành (Hình 3,4,5)
Hình 3: Thuỷ văn ở Huế trước
1805
Hình 4: Vị trí Kinh Thành
Huế 1805
Hình 5: Hiện trạng của Kinh Thành Huế sau 1805 Vòng thành của Kinh Thành Huế được thiết kế theo thức Vauban (Star shaped Citadel), là nơi đặt các cơ quan hành chính, quân sự triều Nguyễn, nơi sinh sống của quan lại và dân binh Bên trong vòng thành này là Hoàng Thành (皇城), có mặt bằng gần vuông, là nơi đặt cơ quan quan trọng nhất củatriều Nguyễn, bên trong Hoàng Thành là Tử Cấm Thành (紫禁城) là vòng thành trong cùng, nơi sinh sống và làm việc của Hoàng đế, Hoàng gia và Nội Các triều Nguyễn (Hình 6)
Lịch sử xây dựng Hoàng Thành Huế có thể chia làm 4 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: từđầu thời Gia Long đến thời Minh Mạng là
thời kz lập kế hoạch và xây dựng;
- Giai đoạn 2: từ thời Thiệu Trị đến nửa đầu thời Tự Đức là
hoạt động sửa chữa cải tạo những công trình đã được xây dựng trước đó;
- Giai đoạn 3: từ nửa sau thời kz Tự Đức đến thời Đồng Khánh là thời kz bảo dưỡng, sửa chữa và thu nhỏ qui mô;
- Giai đoạn 4: từ thời Khải Định đến thời Bảo Đại là thời kz
tiếp biến văn hoá Việt - Pháp và chuyển đổi phong cách, thay đổi kỹ thuật xây dựng
Hình 6: Kinh Thành Huế
(theo B.A.V.H 1933)
Trang 31 T ổng quan về kiến trúc Hoàng Thành Huế
1.1 Quy hoạch không gian chức năng
Mặt bằng Hoàng Thành Huế có hìnhdạng gần vuông, với tường thành phía Đông và Tây dài
155 trượng 5 thước (khoảng 622m); tường thành phía Bắc và Nam dài 151 trượng (khoảng 604m); chiều cao 1 trượng 5 tấc (4,2m) và dày 2 thước 6 tấc (khoảng 1,04m) [3,4]
Dựa trên các
dữ liệu lịch sử và kết quả khảo sát hiện trạng, Hoàng Thành Huế gồmcó 10 hạng mục/khu vực
chức năng như sau:
1 Môn và Khuyết đài: được xây dựng năm 1804, khuyết đài nằm ở giữa 4 mặt của tường Hoàng Thành và môn được đặt bên cạnh khuyết đài, riêng Khuyết đài Nam được thay bằng Ngọ Môn với 5 cửa vào năm 1833[5].
2 Ngoại Triều: được đặt trên trục chính của Hoàng Thành Huế (phía trước Tử Cấm Thành), là nơi tổ chức các đại lễ của đất nước như: lễ đăng quang của Hoàng đế, lễ đại triều, tiếp sứ thần các nước…
3 Thái Miếu: được Hoàng đế Gia Long xây dựng vào năm 1804[3], khu vực này dùng làm nơi thờ cúng tổ tiên nhà Nguyễn (gồm 9 Chúa Nguyễn)
4 Thế Miếu: được xây dựng và hoàn thành từ 1821-1824, dưới thời Hoàng đế Minh
Mạng, có chức năng thờ cúng Hoàng đế nhà Nguyễn[6]
5 Tử Cấm Thành: được bắt đầu xây dựng từ những năm đầu thời Gia Long, có chức năng vừa là nơi Hoàng đế thường triều, vừa là nơi Hoàng đế và Hoàng gia sinh sống
6 Nội Vụ Phủ: được Hoàng đế Minh Mạng quy hoạch và xây dựng vào năm 1839, có
chức năng là cất giữ, quản lý kho báu của Hoàng Gia nhà Nguyễn[7]
7 Phụng Tiên Cung: được Hoàng đế Minh Mạng quy hoạch và xây dựng vào năm 1837,
có chức năng thờ cúng Hoàng đế và hoàng hậu các đời nhà Nguyễn[8]
8 Cơ Hạ Viên: là nơi đọc sách, vườn dạo của Hoàng đế và học tập của Hoàng Tử
9 Diên Thọ Cung: là khu vực Hoàng Thái Hậu sinh sống, chức năng khu vực này được quy hoạch từ thời Gia Long với tên gọi Trường Thọ Cung[9]
10 Trường Sanh Cung: vào năm 1822, Hoàng đế Minh Mạng đặt tên khu vực này là Trường Ninh Cung với chức năng ban đầu là nơi ngắm cảnh của Hoàng đế và Hoàng Thái
Hậu Từ 1846, thời Thiệu Trị, khu vực này dùng làm nơi sinh sống của Thái Hoàng Thái
Hậu[10]
Trang 4Hình 7: Mặt bằng Hoàng Thành Huế (theo B.A.V.H 1928) Nhìn chung, Tổng thể Hoàng Thành Huế đã được quy hoạch theo một trật tự nghiêm ngặt, các khu vực chức năng được bố trí đăng đối qua trục Dũng Đạo (trục chính) của Hoàng Thành,
trục này nối từ chính giữa của tường thành phía Bắc đến chính giữa tường phía Nam Trên trục Dũng Đạo, các khu vực chức năng tối quan trọng của triều Nguyễn được bố trí gồm khu vực Ngoại Triều và Tử Cấm Thành Các khu vực chức năng khác được bố trí đối xứng tương đối ở 2 bên Đông - Tây của trụcDũng Đạo, có tường bao quanh tạo thành từng khu vựcđộc lập với các
chức năng thờ cúng và sinh hoạt của Hoàng gia
1.2 Đặc điểm kiến trúc công trình
Các công trình trong Hoàng Thành Huế có công năng đa dạng như: thờ cúng, làm việc, ăn
ở, giải trí, phụ trợ, kho…, những công trình chức năng này được đặt thành những nhóm tên theo
chữ Hán gồm: Miếu, Điện, Đường, Vu, Lâu, Các… đồng thời, có những biểu hiện khác nhau về hình dạng mặt bằng, cấu trúc mặt cắt, hình thức mái, chiều cao, trang trí, vật liệu sử dụng Các công trình ở trong Hoàng Thành Huế về cơ bản có dạng mặt bằng hình chữ nhật, hình vuông và hình bát giác Các công trình quan trọng nhất dành Hoàng đế có mặt bằng hình chữ nhật, gồm 2
hoặc 3 toà nhà kết nối với nhau cùng đặt trên một nền móng và có 2 tầng mái theo kiểu “Trùng Thiềm Điệp Ốc”, những công trình còn lại có mặt bằng đơn dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông
Ngoại Triều (外朝)
1
Tử Cấm Thành (紫禁城)
2
8 7 6 5 4 3
9
Th ái Miếu (太廟) Thế Miếu (世廟)
Phụng Tiên Cung (奉先宮) Nội Vụ Phủ (内務府)
Diên Thọ Cung (延壽宮)
C ơ Hạ Viên (幾暇園)
Tr ường Sanh Cung (長生宮) 10
Môn và Khuyết đài (門, 闕台)
Ghi ch ú:
1
1 1
1
2
3 4
6
8 9
10
Trang 5có 1 hoặc 2 tầng mái, là những kiến trúc dân dụng Hoàng gia Ngoài ra, còn thể loại kiến trúc Lâu/Các, mặt bằng hình chữ nhật hoặc hình vuông có từ 2 đến 3 tầng
Nền công trình được làm bằng đá, mặt nền lát gạch bát tràng có tráng men xanh hoặc menvàng, hệ kết cấu chịu lực công trình vào giai đoạn đầu của triều Nguyễn (thời Gia Long đến
nửa đầu thời Tự Đức) được làm bằng các loại gỗ quý hiếm như: đinh, lim, sến, táu… Vào giai đoạn sau của triều Nguyễn (nửa sau thời Tự Đức đến thời Bảo Đại) có sử dụng thêm gạch hoa,
kết cấu bê tông cốt thép (bê tông vôi xi măng và thép bản), tường xây gạch Mái được lợp bằng các loại ngói như: thanh lưu ly, hoàng lưu ly (đối với những công trình có đẳng cấp cao), ngói âm dương hoặc ngói liệt (đối với những công trình có đẳng cấp thấp hơn)
Về mặt tổng thể của mỗi cụm kiến trúc cảnh quan, ngoài những yếu tố cấu thành chính như: điện, vu, hiên, lầu, tạ, đình, miếu, tự, môn, kiều… còn có các yếu tố khác như: cây xanh,
mặt nước, bình phong, bể cảnh Ở khu vực trung tâm của mỗi cụm kiến trúc, thường có 1 công trình kiến trúc chính là nơi đọc sách hoặc nghỉ ngơi, ngắm cảnh của Hoàng đế, bên cạnh là các công trình phụ được bố trí xung quanh như: tạ, lầu… và các công trình tâm linh như: miếu, tự
Đã bị thiêu huỷ
Trang 6j) Phước Thọ Am k) H ữu Tùng Tự l) Th ần Trù/Thần Khố
p) Ng ọ Môn
Hình 8: Một số công trình tiêu biểu cho các kiểu kiến trúc trong Hoàng Thành Huế
1.3 Một số thuật ngữ kiến trúc cơ bản
Thái Hoà Điện là công trình quan trọng còn lại đến ngày nay, đại diện cho quyền lực của triều Nguyễn, là nơi tổ chức các lễ đại triều, chính vì vậy công trình này được chọn làm trường
hợp nghiên cứu điển hình Thuật ngữ kiến trúc cơ bản của hình thức kiến trúc Cung Điện được
thể hiện qua mặt bằng và mặt cắt Thái Hoà Điện như sau:
Trang 7Hình 9: Mặt bằng Thái Hòa Điện
Hình 10: Mặt cắt dọc Thái Hoà Điện
2 S ự phân cấp và các loại hình kiến trúc c ng điện
2.1 Sự phân cấp kiến trúc
A B C D E F G H H'
A'
(A) Ch ính trung gian (B) Nh ất tả/hữu thứ gian (C) Nh ị tả/hữu thứ gian (D) T ả/ hữu thứ gian (E) Tả/hữu tiền sương (F) Lòng trến chính điện (G) Lòng trến tiền điện (H) Thừa lưu (I) Tiền/hậu khuynh (J) Tiền/hậu sương (K) Tả/ hữu tiền/hậu quyết (L) Ti ền/hậu hiên
Ghi chú:
III Trục đối xứng ngang (Hậu Điện)
(A)
(K)
Tr ục đối xứng ngang (Tiền Điện)
II
Trục đối xứng dọc
I
III
I
(K)
(D) (E)
II
L òng nhà Hậu Điện Lòng nhà Tiền Điện Lòng nhà Thừa Lưu
Trang 8Căn cứ vào mô tả từ các nguồn sử liệu của triều Nguyễn, sự phân cấp của các loại hình
kiến trúc trong Hoàng Thành Huế được nhận biết một cách rõ ràng bằng những từ nguyên chữ Hán bao gồm:
1 Miếu (廟): Miếu đóng vai trò là công trình chính trong các khu vực có chức năng thờ cúng và được đặt ở vị trí trung tâm trên trục chính của mỗi cụm kiến trúc
2 Điện (殿): là tên gọi loại công trình có 2 chức năng: nơi Hoàng đế và Hoàng gia làm
việc, sinh sống hoặc công trình có chức năng thờ cúng Trong các khu vực có chức năng sinh sống và làm việc, Điện sẽ đóng vai trò là kiến trúc chính, nằm trên trục chính và ở vị trí trung tâm của mỗi khu vực Trong các khu vực thờ cúng, Điện được phân cấp sau hình
thức Miếu, lúc này Điện có chức năng phụ trợ cho công trình chính
3 Phủ (府): là tên gọi loại công trình có chức năng làm việc của quan lại, trong Hoàng Thành Huế thể loại Phủ có chức năng quản l{ và lưu trữ tài sản của triều đình nhà Nguyễn
4 Đường (堂), Vu (廡), Viện (院): Đường là tên gọi chung của các loại công trình giải trí, thư giãn của Hoàng đế hoặc nơi ở của Thái Tử; Vu là nơi làm việc của quan lại; Viện có nhiều chức năng khác nhau như: nơi làm việc của quan lại, nhà thuốc hay nơi ở của các phi
tần
5 Lâu/Lầu (樓), Các/Gác (廡), Đình (亭), Tạ(榭): là tên gọi các công trình dùng để Hoàng
đế và Hoàng Gia đến ngắm cảnh, dạo chơi và đọc sách
6 Tự/Từ (寺/祠), Miếu (廟), Am (庵): là thể loại công trình thờ cúng thần linh
7 Ty/Khố/Trù (司/庫/廚): là thể loại công trình phụ trợ như nơi làm việc của quan lại, nhà kho hoặc nhà bếp
8 Sở (所): là thể loại công trình nhà bếp nấu ăn cho Hoàng đế và Hoàng gia
9 Xá (廊), Vệ (衞): là thể loại công trình dành cho lính canh gác
10 Lang (廊): lối giao thông có mái che, kết nối giữa các công trình kiến trúc
11 Hiên (軒): là công trình dùng để Hoàng đế và Hoàng gia ngắm cảnh và dạo chơi
12 Phòng (房): là nơi làm việc của quan lại, lính canh gác hoặc nhà kho chứa đồ
13 Đài (台): là thể loại nền đặc, được xây cao hơn mặt đường, là nơi binh lính canh gác
14 Môn (門): là thể loại công trình dùng để đi ra vào các khu vực
2.2 Các loại hình kiến trúc cung điện
Dựa trên sự phân cấp ở trên và thông qua việc phân tích không gian mặt bằng, cấu trúc
mặt cắt của các công trình, hình thức kiến trúc cung điện trong Hoàng Thành được nhận diện qua các loại hình sau:
2.2.1 Kiến trúc Miếu
a) Trùng Thiềm Điệp Ốc (2 nóc, 2 tầng mái): kiểu công trình được hình thành từ các
mặt bằng hình chữ nhật ghép cạnh nhau và cùng trên 1 nền, có 2 bộ mái riêng được
nối với nhau bằng hệ thống vì vỏ cua, bên trên là máng thu nước mưa (thừa lưu)
Trang 9Công trình thuộc thể loại Miếu chính có 2 nóc mái, 2 tầng mái, mái dốc 4 phía, tạo nên toàn bộ công trình có 12 mái Dưới đây chọn Thế Tổ Miếu (khu vực Thế Miếu) làm trường hợp điển hình
Hình 11: Thế Tổ Miếu (Trùng thiềm điệp ốc)
b) Phương Đình (1 nóc, 2 tầng mái): công trình có mặt bằng hình vuông, có 1 nóc mái, 2
tầng mái và mái dốc 4 phía, tạo nên công trình có 8 mái dốc Dưới đây chọn Long Đức Điện (khu vực Thái Miếu) làm trường hợp điển hình
Hình 12: Long Đức Điện (Phương đình) 2.2.2 Kiến trúc Điện
a) Trùng Thiềm Điệp Ốc (3 nóc, 2 tầng mái): công trình có 3 mặt bằng hình chữ nhật ghép vào nhau trên cùng 1 nền, công trình có 3 nóc mái, với 2 tầng mái và mái dốc 4 phía tạo nên công trình có 16 mái dốc Dưới đây cấu trúc cơ bản của dạng đẳng cấp Điện này, tuy nhiên công trình được chọn nghiên cứu điển hình là Ngưng Hy Điện (Lăng Đồng Khánh, nằm bên ngoài Hoàng Thành Huế), được xây dựng vào năm
1888
Trang 10Hình 13: Ngưng Hy Điện, Lăng Đồng Khánh (Trùng thiềm điệp ốc) b) Trùng Thiềm Điệp Ốc (2 nóc, 2 tầng mái): công trình có 2 mặt bằng hình chữ
nhật ghép vào nhau trên cùng 1 nền, có 2 nóc mái, với 2 tầng mái và mái dốc 4 phía tạo nên công trình có 12 mái dốc Dưới đây chọn Thái Hoà Điện (Tử Cấm Thành) làm trường hợp điển hình
Hình 14: Thái Hoà Điện (Trùng thiềm điệp ốc)
c) Phương Đình (1 nóc, 2 tầng mái): công trình có mặt bằng hình vuông, 1 nóc mái,
2 tầng mái và mái dốc 4 phía, tạo nên công trình có 8 mái dốc Hiện nay, công trình bị phá huỷ nên chọn Chiêu Kính Điện (khu vực Thái Miếu) làm trường hợp điển hình
Hình 15: Chiêu Kính Điện 2.2.3 Kiến trúc Cung Các
a) Kiến trúc Lâu/Các (1 nóc, 2 hoặc 3 tầng): công trình có mặt bằng hình chữ nhật, 1 nóc mái, cao 2-3 tầng, mái dốc 4 phía tạo thành công trình có 8 hoặc 12 mái Sau đây chọn Hiển Lâm Các làm trường hợp điển hình
Hình 16: Hiển Lâm Các
b) Kiến trúc Đường, Vu, Viện (1 nóc, 2 tầng mái): công trình có mặt bằng hình chữ
nhật, cao 1 tầng, 1 nóc mái, có 2 tầng mái và mái dốc 2 hoặc 4 phía Dưới đây
chọn Tả Vu và Di Nhiên Đường làm trường hợp điển hình