1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ti u lu n ể ậ đề tài phân tích s khác bi t gi ự ệ ữa văn hoá doanh nghiệp phương đông và phương tây

22 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích sự khác biệt giữa văn hoá doanh nghiệp phương Đông và phương Tây
Tác giả Nhóm Sinh Viên Thực Hiện
Người hướng dẫn Thầy Trần Đình Vinh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Nguồn Nhân lực
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 199,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM ---oOo---BÀI TIỂU LUẬN Đề tài: Phân tích sự khác biệt giữa văn hoá doanh nghiệp phương Đông và phương Tây GVHD : Thầy Trần Đình Vinh M

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

-oOo -BÀI TIỂU LUẬN

Đề tài:

Phân tích sự khác biệt giữa văn hoá doanh

nghiệp phương Đông và phương Tây

GVHD : Thầy Trần Đình Vinh

MÔN : Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực

Nhóm sinh viên thực hiện:

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

1 Cơ sở lý luận 4

1.1 Văn hoá doanh nghiệp 4

1.2 Khái quát về văn hoá phương Đông – phương Tây 4

1.3 Nền tảng văn hoá doanh nghiệp 4

1.4. Ảnh hưởng của văn hoá đến cách quản lý ở phương Đông và phương Tây 5

1.4.1 Văn hoá quản lý phương Đông 5

1.4.2 Văn hoá quản lý phương Tây 6

1.5 Vai trò của văn hóa trong kinh doanh 6

2. Phân tích sự khác biệt giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây 8

2.1 Khoảng cách quyền lực 9

2.2 Chủ nghĩa cá nhân tương quan so với tập thể. 9

2.3 Định hướng dài hạn - ngắn hạn 10

2.3 Đúng giờ và trễ giờ 10

2.4 Sòng phẳng - dựa trên mối quan hệ 11

2.5 Thẳng thắn hay vòng vo: 11

3 Quản trị đa văn hoá ở cấp độ công ty đa quốc gia 13

3.1 Thiết kế tổ chức và công việc 13

3.2 Bố trí nhân lực 13

3.3 Đào tạo và phát triển 15

3.4 Quản lý hoạt động 16

4 Biện pháp quản lý nhiều nhân viên khác biệt văn hoá trong cùng một doanh nghiệp 18

KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Ở Việt Nam, khái niệm “Văn hoá doanh nghiệp” còn khá mới mẻ so với các nước trên thếgiới Văn hoá doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, là một yêu cầu tất yếu trong sự phát triểnthương hiệu vì hình ảnh văn hoá doanh nghiệp sẽ góp phần quảng bá thương hiệu của mỗidoanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không có văn hoá doanh nghiệp rõ ràng thì giống như một conngười không có định hướng mục tiêu cuộc đời và không biết đi về đâu Có thể nói, văn hoádoanh nghiệp là yếu tố chi phối hầu hết mọi kết quả của doanh nghiệp nên càng ngày các doanhnghiệp càng chú trọng đến việc xây dựng và nâng cao nó hơn

Trong giai đoạn hiện nay, với xu thế hội nhập kinh tế cũng như toàn cầu hoá thì sựgiao thoa và hoà hợp giữa các nền văn hoá càng được quan tâm nhiều hơn, cụ thể là vănhoá doanh nghiệp giữa phương Đông và phương Tây Việc nhìn nhận sự khác biệt về vănhoá giữa phương Đông và phương Tây là cần thiết để các doanh nghiệp khắc phục đượcnhững mặt yếu kém cũng như phát huy những điểm mạnh đồng thời các nước đang pháttriển sẽ có cơ hội học hỏi những kinh nghiệm quý giá từ những nền kinh tế phát triển

Sự xuất hiện các tổ chức xuyên quốc gia hay tập đoàn đa quốc gia là biểu hiện rõ nhất chothấy sự giao thoa văn hoá Tuy nhiên sự giao lưu, hoà hợp giữa hai nền văn hoá phương Đông– phương Tây là không hề đơn giản bởi nó đòi hỏi con người không ngừng tiếp thu, cải tiến vănhoá sao cho phù hợp với tình hình phát triển hiện nay nhưng không quên giữ gìn bản sắc vănhoá dân tộc Vì tính thiết yếu của nhu cầu này nên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài

“Phân tích sự khác biệt giữa văn hoá doanh nghiệp phương Đông và phương Tây”

để từ đó rút ra được những giải pháp cụ thể cho doanh nghiệp khi cùng lúc quản lý nhiều nhân viên đến từ những nền văn hoá khác nhau.

Nhóm sinh viên thực hiện!

Trang 4

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

1.1 Văn hoá doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp là những giá trị, niềm tin, hình thức mà mọi người trong doanh

nghiệp cùng công nhận và suy nghĩ, nói, hành động như một thói quen, giống như đời sống tinh thần và tính cách của một con người, và là phần quyết định đến sự thành bại về lâu dài của doanh nghiệp.

Những thành phần của văn hoá doanh nghiệp gồm 3 phần chính: tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi Biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp thể hiện qua 2 yếu tố:

- Hữu hình: Đồng phục, khẩu hiệu, nghi thức, quy định, nhạc phim công ty, tập san nội bộ, các hoạt động…

- Vô hình: Thái độ, phong cách, thói quen, nếp nghĩ của những người trong tổ chức

1.2. Khái quát về văn hoá phương Đông – phương Tây

- Văn hoá phương Đông dựa trên những yếu tố tinh thần, những phương diện thuộc

về con người và cộng đồng, coi trọng những gắn kết văn hoá, những mối quan hệ cũng nhưnhững giá trị về gia đình, tôn trọng lẽ phải Điểm mạnh của nền văn hoá này là sự phát triển đầy

đủ các khía cạnh thuộc về con người, bằng cách nuôi dưỡng, chăm lo về tâm hồn, cảm xúc, tinhthần Tuy nhiên điểm yếu chính là thiếu đi tính kỷ luật, tư duy cụ thể, lạm dụng trực giác và kinhnghiệm chủ quan

- Văn hoá phương Tây dựa trên nền tảng các giá trị Châu Âu cổ đại, thể hiện các mặtcủa đời sống bao gồm các quy tắc xã hội, tục lệ truyền thống, niềm tin tôn giáo và hệ thốngchính trị Chính vì dựa trên động lực phát triển là kinh tế, định hướng thị trường và cạnh tranhkhốc liệt nên con người thường đối xử với nhau như những “cổ máy vui vẻ” hay “đơn vị kinh tế”

để đáp ứng mục đích kinh tế và chính trị Đó là lý do tại sao năng suất làm việc ở những nền vănhoá này thường cao nhưng những nhu cầu khác bên trong con người như suy nghĩ, cảm xúc,tâm hồn… không được quan tâm hay chú trọng

1.3 Nền tảng văn hoá doanh nghiệp

Văn hóa doanh nghiệp là một nền tiểu văn hóa nằm trong văn hóa dân tộc Mọi cánhân trong nền văn hóa doanh nghiệp đều chịu tác động của các giá trị văn hóa dân tộc.Vậy nên văn hóa dân tộc phản chiếu lên văn hóa doanh nghiệp là điều tất yếu

Mỗi cá nhân thuộc giới tính, văn hóa, dân tộc… với các bản sắc văn hóa khác nhau hình thành cho họ các nền tảng suy nghĩ, học hỏi và phản ứng khác nhau Khi tập hợp chung lại trong tổ chức, những nét nhân cách này sẽ được tổng hợp tạo nên một phần văn hóa doanh nghiệp.

Vì vậy, văn hóa ở mỗi nước, mỗi vùng miền sẽ có những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển, trình độ và lịch sử của khu vực đó.

Trang 5

Văn hoá phương Đông và phương Tây thật sự khác biệt từ những điều cơ bản nhất Chẳng hạn như:

- Ngay từ nhỏ, người phương Tây đã dạy học sinh lối sống tự lập nhưng người phương Đông hoàn toàn ngược lại, không yên tâm với con trẻ, phải luôn theo sát để hỗ trợ, giúp đỡ

- Người phương Tây tắm vào buổi sáng để tinh thần cả ngày thoải mái còn người phương Đông tắm vào buổi tối để tiêu tan mệt mỏi.

- Người phương Tây thường nói thẳng vào vấn đề nhưng người phương Đông thích nói hàm xúc, khéo léo để tránh làm tổn thương người khác.

- Tâm trạng người phương Tây thay đổi theo thời tiết, trời nắng sẽ vui và mưa sẽ… hơi buồn nhưng người phương Đông thì dù mưa hay nắng đều… hông vấn đề gì

- Khi tụ tập, người phương Tây thích tổ chức theo hình thức Party, tạo thành những nhóm nhỏ 3-5 người còn ở phương Đông, mọi người sẽ ngồi vào một cái bàn tròn cùng ăn uống nói chuyện.

1.4. Ảnh hưởng của văn hoá đến cách quản lý ở phương Đông và phương Tây

1.4.1 Văn hoá quản lý phương Đông

Có những quan điểm tiếp cận khác về cách thức quản lý từ phương Đông hay phần cònlại của thế giới, như tại châu Á, châu Phi, hay Ấn Độ Ưu tiên tối cao của văn hóa phươngĐông là tập trung vào “toàn bộ con người” như “suy nghĩ, cơ thể, xúc cảm và tinh thần” và cácmối quan hệ của con người với cộng đồng xung quanh hơn là những mục tiêu đơn thuần về lợinhuận kinh tế Họ gọi tên chúng rất khác nhau, nhưng đều xoay quanh những giá trị cốt lõi củacon người và ý nghĩa về cái tôi, cái bản thể trong đời sống xã hội

Chẳng hạn với một lịch sử lâu đời, sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo, người Ấn Độcoi trọng những gắn kết truyền thống, cảm xúc con người và duy trì những mối quan hệ dàilâu trong cộng đồng, họ quan niệm bản chất công việc là để phục vụ cho “thượng đế”,không nhằm mục đích về kinh tế cá nhân mà để tăng trưởng những giá trị về tinh thần.Trong môi trường làm việc, người Ấn Độ quan tâm tới sự đồng cảm, cảm xúc hơn là năngsuất công việc Đối với họ, tầm quan trọng của tổ chức là để đáp ứng nhu cầu xã hội vàbày tỏ sự tự tôn trọng giữa các cá nhân với nhau

Quan điểm “đạo Khổng” của người Trung Quốc chia sẻ nhiều điểm tương đồng với người Ấn

Độ, họ đề cao lễ nghĩa, các giá trị thuộc về gia đình, cách đối nhân xử thế trong cộng đồng “Mộtngười muốn nhận được sự tôn trọng của mọi người, trước hết phải biết tôn trọng người khác” chủnghĩa cá nhân cực đoan bỏ qua suy nghĩ, tình cảm của người khác được coi như bất lịch sự hay vô

lễ ở Trung Quốc, thì điều này dường như lại được coi như là khá bình thường tại xã hội Bắc Mỹ.Trong môi trường kinh doanh, một nghiên cứu quy mô kinh doanh hộ gia

Trang 6

đình cho thấy, những giá trị văn hóa của Trung Quốc đã được thể hiện rất rõ ràng trong thực tiễn các hoạt động quản lý và tổ chức như việc trao quyền quyết định cao, thực hành phong cách lãnh đạo gia trưởng, chủ nghĩa tập thể và làm việc theo nhóm mạnh, quản lý theo định hướng gia đình hay “lấy gia đình là trọng tâm”.

Tóm lại, những giá trị cốt lõi của văn hóa phương Đông hay phần còn lại của thế giới dựatrên yếu tố tinh thần, những phương diện thuộc về con người và gắn với cộng đồng Điểmmạnh của nó là sự phát triển đầy đủ các khía cạnh thuộc về con người, bằng cách nuôi dưỡng,chăm lo về tâm hồn, cảm xúc, tinh thần và sự tự do của mỗi cá nhân, tuy nhiên điểm yếu chính

là thiếu đi tính kỉ luật, tư duy cụ thể, lạm dụng trực giác và kinh nghiệm chủ quan

1.4.2. Văn hoá quản lý phương Tây

Nói chung, văn hóa quản lý phương Tây vốn được dựa trên nền tảng các giá trị “Châu

Âu cổ đại”, thể hiện ở các mặt của đời sống bao gồm các quy tắc xã hội, tục lệ truyềnthống, niềm tin tôn giáo, và hệ thống chính trị Khái niệm truyền thống về văn hóa châu Âugắn liền với các đế chế châu Âu cổ đại với những “tiến bộ công nghệ và kinh tế vượt bậc”

và hàng loạt những “cuộc xung đột quốc tế đẫm máu” ở thế kỷ XX và trước đó

Phần nào đúng khi nói rằng, văn hóa quản lý phương Tây có xu thế truyền bá và phổ biếnvăn hóa theo kiểu định hướng nhà nước Động lực phát triển của xã hội châu Âu là kinh tế, địnhhướng thị trường, và cạnh tranh khốc liệt Do mục tiêu tối cao là lợi nhuận và kết quả, phươngTây đã xây dựng những mô hình kinh doanh rất hiệu quả tập trung vào xử lý công việc và kếtquả đầu ra Những khái niệm quản lý như “quản lý cá nhân” hay “làm việc nhóm” đã đươc ápdụng rất thành công nhằm sử dụng nguồn lực hiệu quả, tối đa hóa hoạt động kinh doanh, tạo ranhiều lợi nhuận cũng như giảm thiểu các chi phí hoạt động Với quan điểm này, quản lý nhân

sự theo lối truyền thống chú trọng vào quản lý “nhân sự”, trong đó “năng suất lao động” của cánhân được quan tâm nhiều nhất Họ tập trung vào quá trình tuyển dụng, thiết kế công việc, và

hệ thống khuyến khích, thưởng, phạt (Hughes, 2002) Quan điểm quản lý nhân sự hiện đại thìtập trung hơn vào làm việc nhóm hơn là cá nhân, quản lý mang tính chiến lược hơn là theo kiểu

áp đặt quan liêu hành chính, có tính chủ động hơn là bị động (Coventry University, 2010) vănhóa quản lý của châu Âu lấy động lực phát triển chính là kinh tế và chính trị Điểm mạnh của môhình này là tăng trưởng về lợi nhuận kinh tế, thích ứng nhanh nhạy với thay đổi của thị trường,phân phối hàng hóa và dịch vụ rộng rãi cho người tiêu dùng, tuy nhiên mặt thiếu sót là chưa chútrọng đầy đủ đến các khía cạnh an sinh xã hội và con người

1.5. Vai trò của văn hóa trong kinh doanh

Trong kinh doanh quốc tế, văn hóa là một nhân tố không thể thiếu cấu thành môi trường kinh doanh của bất cứ một doanh nghiệp nào Sơ đồ dưới đây miêu tả

vị trí và vai trò của văn hóa trong kinh doanh quốc tế:

Trang 7

Hình 1: Hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh quốc tế

Có thể thấy, văn hóa là một thành tố không tách rời của môi trường tự nhiên – xã hội, vìvậy mà khi tiến hành kinh doanh, không thể không chú ý tới vai trò của yếu tố văn hóa Cáccông ty tuyển dụng, được làm chủ, điều hành và tiến hành giao dịch mua bán với con người.Trong các tập đoàn đa quốc gia, mọi người đến từ những nền văn hóa khác nhau Vì vậy, tất

cả các hoạt động – từ quản lý nhân sự, marketing, đến điều phối hàng hóa đều phải đối mặtvới những vấn đề tiềm ẩn về văn hóa Một công ty quốc tế cần có sự nhạy cảm với những khácbiệt văn hóa để có thể dự đoán và kiểm soát các mối quan hệ và hoạt động kinh doanh Hơnnữa, những nhà quản lý cần ý thức được rằng những cách thức điều hành và tác nghiệp mà họvốn quen thuộc chưa chắc đã là cách duy nhất và tốt nhất Khi kinh doanh ở nước ngoài, đầutiên các công ty cần nhận dạng những khác biệt tiềm ẩn trong tập quán kinh doanh mà họ vốnkhông thông thuộc Sau đó, các giám đốc cần quyết định xem những thay đổi, cải tổ nào cầntiến hành để thích nghi một cách hiệu quả trong một môi trường mới

Thế hệ các giám đốc quốc tế mới được giáo dục theo những triết lý quản trị hiện đại nhấtcủa phương Tây Họ đều biết rằng trong “đơn vị kinh doanh chiến lược”, “quản lý chất lượngtoàn diện” nên bao trùm, với các sản phẩm được giao “vừa đúng lúc”, nơi mà các “đội kháchhàng đầu tiên” phân phối sản phẩm trong khi hướng đến “quản lý theo mục tiêu”, cần phải “tái

cơ cấu quá trình kinh doanh” Thậm chí với những công ty quốc tế có kinh nghiệm, nhiều ứngdụng “phổ biến” với mục đích tốt của lý thuyết quản lý đã có kết quả xấu Ví dụ, trong nhiềutrường hợp, việc trả lương theo thành tích là một thất bại tại châu Phi, vì có những luật bấtthành văn riêng về thời gian được thưởng và thăng tiến Tương tự, các kế hoạch quản lý bằng

Trang 8

mục tiêu thường bị thất bại ở các chi nhánh của các công ty đa quốc gia tại Nam Âu, vì các

giám đốc đã không tuân theo bản chất trừu tượng của các hướng dẫn chính sách định trước

Khi các thị trường được toàn cầu hóa, nhu cầu tiêu chuẩn hóa về sắp xếp tổ chức, hệ

thống và quy trình cũng tăng lên Song, các giám đốc cũng chịu áp lực khi làm cho tổ chức

của họ thích nghi với các đặc điểm của thị trường, pháp luật, thể chế tài chính, hệ thống

chính trị - xã hội và hệ thống Văn hóa Sự cân bằng giữa tính nhất quán và tính thích nghi

là thiết yếu đối với sự thành công của doanh nghiệp Việc quản lý nguồn nhân lực trong

tương lai đứng trước mối lo ngại rất lớn khi chúng ta đề cập đến sự khác biệt văn hóa

Muốn tuyển dụng những nhà quản lý tương lai giỏi, các công ty hiện nay đang phải tính

đến một số bất lợi Tham vọng giành quyền lực bằng cách leo lên vị trí cao trong các công

ty lớn đã trở nên lỗi thời, giờ đây người ta luôn khao khát sự độc lập, đặc biệt là vùng Tây

Bắc Âu Các công ty xuyên quốc gia thu hút các nhân viên mới chủ yếu ở kinh nghiệm,

trình độ hiểu biết và cơ hội nghiên cứu các nền văn hóa Các nhân viên mới sẽ lên kế

hoạch về cơ hội thăng tiến của họ trong tương lai ở các công ty đa quốc gia và nhiều “nấc

thang danh vọng” trông giống như những con đường dành cho người đi bộ”

Khái niệm quản trị đa văn hóa còn có thể được hiểu là quản trị (hay quản lý) sự đa

dạng văn hóa Một cách chung nhất, đó là những cách thức mà những người quản lý, nhà

lãnh đạo hay các thành viên trong tổ chức giải quyết những vấn đề nảy sinh từ những

khác biệt về văn hóa tại nơi làm việc (có thể là trong nội bộ hay khi làm ăn với đối tác bên

ngoài), với mục tiêu biển văn hóa trở thành lợi thế thay vì những trở ngại Trong phạm vi

nghiên cứu của bài này, quản trị đa văn hóa có thể được tiếp cận từ góc độ quản lý nhân

sự, quản lý nhóm hay từ chính các cá nhân

2 Phân tích sự khác biệt giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây

Để hiểu rõ hơn sự khác biệt trong nền văn hóa doanh nghiệp giữa phương Đông và

Phương Tây chúng tôi sẽ có dẫn chứng rõ ràng, cụ thể qua hai nước Việt Nam (đại diện

phương Đông), Mỹ (đại diện phương Tây) Để từ đó mọi người có một góc nhìn khái quát hơn

Theo như học thuyết văn hóa của Hofstede: ông đã vạch ra năm khía cạnh các

nền văn hóa khác nhau: khoảng cách quyền lực, né tránh rủi ro, chủ nghĩa cá nhân

và chủ nghĩa tập thể, tính nam nữ và định hướng dài hạn Cụ thể ở đây chúng tôi

muốn nói đến khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa cá nhân, định hướng tương lai.

Bảng 1 Các giá trị văn hóa Hofstede

Trang 9

2.1 Khoảng cách quyền lực: là cách thức một xã hội đối mặt với thực tế

rằng mọi người là bất bình đẳng về khả năng thể chất và trí tuệ.

- Người Mỹ có khoảng cách quyền lực thấp (40 điểm), có nghĩa là nhà quản lý và nhânviên của họ thường bình đẳng hơn, cả quản lý và nhân viên đều có quyền đóng góp ý kiến, họ cùngnêu ra quan điểm và thảo luận với nhau về các vấn đề chung, hợp tác với nhau nhiều hơn để đạtmục đích của công ty Khoảng cách giữa thu nhập cao nhất và thấp nhất trong một tổ chức hẹp; vàcấp dưới mong muốn được góp ý kiến Và người Mỹ có quan niệm là họ đi làm chính là bán sức laođộng để nhận lương nên họ luôn mặc định rằng khi kết thúc ca làm việc là coi như là kết thúc luônmối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới Khi gặp lại bên ngoài công ty thì họ đều ngang hàng không

có sự khác biệt nào ở đây

- Còn ở Việt Nam đạt 70 điểm, có nghĩa là mọi người chấp nhận trật tự theo thứ bậc, trong

đó mỗi người đều có một vị trí Trong khi việc họ luôn phân công cấp bậc rõ ràng, khi nào thì nhânviên mới có quyền ý kiến với người quản lý và đa phần mọi việc thì đều là ý kiến quyết định của cấptrên giao cho cấp dưới tuân thủ và làm theo Một thói quen của người Việt trên bàn đàm phán là chốtlại vấn đề bằng câu đại ý: “Chúng tôi sẽ có quyết định ngay sau khi xin ý kiến cấp trên” mặc dù họ làngười đại diện nhưng không thể quyết định thay cấp trên Người Việt Nam hầu như đều có văn hóa

“đã là sếp thì lúc nào cũng là sếp” bởi vì họ dù có kết thúc ca làm việc thì họ vẫn luôn có một sựkiêng nể với sếp dù bất cứ nơi nào, thậm chí nếu nhận được lời đề nghị giúp đỡ với sếp họ vẫn ngạihoặc khó có thể nói “không”

- Việc phân chia quyền lực ở Mỹ khá thấp, nên nhân viên và cấp trên có thể trao đổithông tin với nhau một cách thoải mái, từ đó sẽ làm cho sự gắn kết của doanh nghiệp bền vữnghơn Vì vậy chúng tôi nghĩ dù bất cứ phương nào cũng đều nên nới lỏng khoảng cách quyền lực

để doanh nghiệp phát triển một cách tốt nhất

2.2 Chủ nghĩa cá nhân tương quan so với tập thể: chính là mức độ hòa nhập

của cá nhân với tập thể và cộng đồng.

- Theo Hofstede, người Mỹ có chủ nghĩa cá nhân cao 91 điểm Người Mỹ chú trọng đếncái tôi, quan hệ giữa các cá nhân thường lỏng lẻo, ít quan tâm hay quan tâm vừa phải đến bộ mặtcủa nhóm Quyết định tuyển dụng và thăng tiến được đề nghị chỉ dựa trên các kĩ năng và

Trang 10

điều lệ Một nhân viên khi đi xin việc thì họ không quan tâm đến quan hệ hay tiền bạc mà chỉquan tâm đến các kĩ năng của bản thân Nhân viên ở Mỹ thường ít chia sẻ và kết nối tráchnhiệm với nhau Họ thích thử thách và mong đợi được tưởng thưởng vì đã làm việc chăm chỉ.

- Ở Việt Nam chủ nghĩa cá nhân với 20 điểm là một xã hội tập thể Điều này thể hiện mộtcam kết lâu dài chặt chẽ với nhóm “thành viên” Văn hóa phương Đông, do chịu ảnh hưởng sâu sắcbởi các nguyên tắc về trung - tín - lễ - nghĩa nên đề cao tính tập thể và tôn trọng các giá trị cộngđồng Các cá nhân cam kết làm việc theo nhóm, có sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau Họ chịu trách nhiệmnhiều hơn cho mỗi thành viên trong nhóm so với các nhân viên ở Mỹ

- Chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam nhân viên thường được giao cho các công việc làm theonhóm trong việc phát triển ý tưởng và thực hiện ý tưởng Mặc khác chủ nghĩa cá nhân cao

ở Mỹ sẽ kích thích cá nhân sáng tạo, phát triển ra những ý tưởng mới Có thể thấy rõ nhiều loạisản phẩm hiện đại và các phương thức kinh doanh mới như máy tính cá nhân, phần mềm máy tính,siêu thị, các chuỗi bán lẻ, … đều được tạo ra bởi chính những cá nhân có tiềm năng ở Mỹ Vì vậy, khikinh doanh ở đây, doanh nghiệp sẽ có nhiều động lực để tăng trưởng hơn các danh nghiệp cạnhtranh khác Tuy nhiên ở Mỹ, nhân viên rất đề cao vai trò cá nhân, thích làm việc độc lập sẽ không có

sự hợp tác tốt giữa các nhân viên và khó giải quyết các mục tiêu chung của công ty đã đề ra Thường

có sự cạnh tranh giữa các nhân viên hơn là xây dựng nhóm Vì vậy đây chính là một thử thách chonhững doanh nhân Việt Nam khi hoạt động kinh doanh

2.3 Định hướng dài hạn-ngắn hạn:

Xã hội Mỹ nghiên về hướng ngắn hạn hơn là hướng dài hạn, chỉ số hướng tương lai của Mỹ chỉ bằng 29 Họ là những người thực tế, thành thực và thẳng thắn, cởi mở Họ không có xu hướng tiết kiệm hay tằn tiện mà luôn sống rất thực

tế, họ thường quan tâm nhiều đến hiện thực Người Mỹ coi trọng khả năng làm việc rất cao cho nên họ coi trọng kết quả làm việc chứ không bao giờ tính theo thời gian, cho nên các công ty rất thoải mái về thời gian nhưng lại áp lực về chỉ tiêu.

- Việt Nam đạt 57 điểm, là một nền văn hóa thực dụng Họ thấy khả năng dễ dàng thayđổi truyền thống để phù hợp điều kiện diễn ra, có xu hướng tiết kiệm đầu tư mạnh mẽ và kiên trì

để đạt được kết quả Mọi người ở Việt Nam thường quan tâm đến những công việc ổn định dàihạn, ưa chuộng công việc nhà nước hơn là công ty tư nhân

Chọn định hướng dài hạn hay ngắn hạn đều có mặt tích cực và tiêu cực Ngườiphương Tây nghiêng về định hướng ngắn hạn điều có có thể khiến cho mọi người phát triểnmột cách tối đa và hưởng thụ cuộc sống tốt hơn nhưng sẽ không có gì đảm bảo về lâu dài Cònđối với định hướng dài hạn của phương Đông thì sẽ làm nền kinh tế trì trệ hơn vì đa số mọingười đều chọn con đường dài hạn ít đột phá, chỉ cần ổn định là họ đã cảm thấy hài lòng

2.3. Đúng giờ và trễ giờ:

- Văn hóa phương Tây (trong đó có Mỹ) cho rằng, thời gian là một cái gì cụ thể, thấyđược, quản lý được Người Mỹ sử dụng thời gian một cách chặt chẽ, chủ động (có thể tiết kiệmhoặc lãng phí thời gian) Người Mỹ thường rất đúng giờ Sự chậm trễ được hiểu là thiếu quan

Trang 11

tâm, coi thường đối tác hoặc kém cỏi trong sắp xếp thời gian Đó là lý do họ cho rằng “thời gian là tiền bạc” nên họ rất quan trọng từng phút giây Vì vậy khi bạn làm việc với người phương Tây, họ quy định thời gian làm việc từ 8 giờ đến 17 giờ thì chắc chắn lúc 8 giờ bạn phải có mặt tại công ty nếu trễ 1 phút họ sẽ trừ tiền bạn rất nhiều, cũng như tan ca lúc 17 giờ thì dù chưa xong công việc họ cũng sẽ sẵn lòng

ra về vào đúng 17 giờ và kết thúc thời gian làm việc 1 ngày.

- Trong khi đó, văn hóa phương Đông quan niệm thời gian là vô hình, khó xác định và

do đó không quản lý được nên thời gian có thể được co giãn một chút Do đó, các hội nghị ởchâu Á thường thì diễn ra trễ hơn một chút so với thời gian in trong thiệp mời Đó là lý do mà vìsao để hạn chế tình trạng không quý trọng thời gian của người phương Đông nói chung và ViệtNam nói riêng mà nhiều công ty ở Việt Nam đã tiến hành cho công ty chấm công đúng giờ vànếu trễ cũng sẽ có một mức phạt tương đối nào đó để nâng cao ý thức nhân viên Tuy nhiên nềnvăn hóa “trễ giờ” vẫn không thể xóa bỏ được

2.4 Sòng phẳng - dựa trên mối quan hệ:

Người phương Tây quan niệm: “Tôi làm ăn với anh bất kể anh là ai và chúng ta rấtsòng phẳng và rõ ràng trong các hợp đồng” Tất cả mọi người đều bình đẳng chỉ cần anh

có năng lực tôi sẽ hợp tác với anh Năng lực và sự bình đẳng quyết định tất cả, không mộtmối quan hệ nào có thể ảnh hưởng đến công việc đến hợp đồng của nhau

Đối với người phương Đông, chữ tín lại rất quan trọng Họ sẵn sàng nhận mộtngười nhân viên chỉ vì họ có một mối quan hệ đặc biệt với người đó mà không cần biếtnăng lực ra sao Song ở phương Đông, muốn kinh doanh bền vững và phát triển, cần phảikết hợp hài hòa giữa mối quan hệ công việc với mối quan hệ cá nhân Thiết lập được mộtmạng lưới các mối quan hệ giữa các cá nhân và tổ chức là hoạt động chủ chốt trong chiếnlược kinh doanh Ngày nay, yêu cầu xây dựng mối quan hệ tương trợ dựa trên sự tôntrọng lẫn nhau vẫn mang ý nghĩa sống còn ở phương Đông

Chính vì kinh doanh còn dựa trên mối quan hệ nhiều mà điều đó khiến cho các công ty ở Việt Nam không thể phát triển thậm chí những người tài năng thì không thể sánh ngang với những người có “mối quan hệ” rộng Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực của nước nhà.

Ngược lại với người phương Đông, người Việt rất ngại nói thẳng vì họ sợ sẽ làm phậtlòng đối phương và thường bắt đầu hoặc kết thúc các cuộc đàm phán bằng những hoạt động

Ngày đăng: 09/05/2022, 19:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh quốc tế Có thể thấy, văn hóa là một thành tố không tách rời của môi trường tự nhiên – xã hội, vì vậy mà khi tiến hành kinh doanh, không thể không chú ý tới vai trò của yếu tố văn hóa - ti u lu n ể ậ đề tài phân tích s khác bi t gi ự ệ ữa văn hoá doanh nghiệp phương đông và phương tây
Hình 1 Hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh quốc tế Có thể thấy, văn hóa là một thành tố không tách rời của môi trường tự nhiên – xã hội, vì vậy mà khi tiến hành kinh doanh, không thể không chú ý tới vai trò của yếu tố văn hóa (Trang 8)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w