MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1 A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 1 I Một số vấn đề pháp lý về người đại diện của đương sự trong TTDS 1 1 Khái niệm người đại diện của đương sự trong TTDS 1 2 Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 2 3 Cơ sở xây dựng chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 2 II Phân tích quy định của BLTTDS 2015 về người đại diện của đương sự 3 1 Điều kiện để trở thành người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 3 2 Người đại diện của đương sự theo.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Một số vấn đề pháp lý về người đại diện của đương sự trong TTDS 1
1 Khái niệm người đại diện của đương sự trong TTDS 1
2 Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 2
3 Cơ sở xây dựng chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 2
II Phân tích quy định của BLTTDS 2015 về người đại diện của đương sự 3
1 Điều kiện để trở thành người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 3
2 Người đại diện của đương sự theo pháp luật 4
3 Người đại diện của đương sự theo uỷ quyền 4
III Đánh giá các quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 6
1 Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sự trong TTDS 6
1.1 Điểm tích cực 6
1.2 Điểm hạn chế 6
2 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sự trong TTDS 8
3 Nguyên nhân hạn chế 10
IV Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong TTDS 10
1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong TTDS 10
2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong TTDS 12
C KẾT LUẬN 13
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
E PHỤ LỤC……… 15
Trang 21
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
A MỞ ĐẦU
Thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự những năm qua, việc tham gia TTDS của người đại diện của đương sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự, cũng như việc làm rõ sự thật của vụ việc dân sự Chế định đại diện của đương sự cũng đã
và đang khẳng định ý nghĩa và vai trò của mình trong hệ thống pháp luật TTDS, việc xác định đúng đắn vai trò cũng như hoàn thiện các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong TTDS là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Bởi lẽ, với tư cách là người tham gia TTDS, hoạt động của người đại diện cho đương sự có tác động không chỉ đến hoạt động của những người tham gia tố tụng khác, mà còn tác động đến cả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần thúc đẩy sự dân chủ, tiến bộ của xã hội, hoàn thiện và bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Chính vì những lý do trên nhóm 6 xin nghiên cứu đề tài số 08
môn Luật Tố tụng dân sự: “Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
hiện hành (BLTTDS năm 2015) về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự” Do
còn nhiều hạn chế về kiến thức thực tiễn, bài làm không tránh khỏi những sai sót, chúng em rất
mong nhận được sự góp ý của thầy cô
B NỘI DUNG
I Một số vấn đề pháp lý về người đại diện của đương sự trong TTDS
1 Khái niệm người đại diện của đương sự trong TTDS
Theo Từ điển Luật học thì đại diện là việc một người, một cơ quan, tổ chức xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện Người đại diện là người nhân danh
và vì các lợi ích của một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện.1 Người đại diện trong pháp luật TTDS là một chủ thể cơ bản, đóng vai trò hết sức quan trọng trong TTDS, họ tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
gia một quan hệ pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đó để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự Như vậy có thể hiểu Người đại diện của đương
sự trong TTDS là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố
1 Từ điển Luật học (2004), Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, tr.575
2 Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đương sự trong
việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ( Khoản 1 Điều
68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015)
Trang 3tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án Người đại diện của đương
sự trong TTDS chia làm 2 loại dựa vào ý chí của đương sự và pháp luật TTDS hiện hành bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền
2 Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng thông thường là cá nhân
có đủ năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS Với chức năng là người thay mặt cho đương sự tham gia quan hệ TTDS, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương
sự họ phải có đủ NLHVDS, đáp ứng các điều kiện về độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì mới dễ dàng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự của mình
Thứ hai, người đại diện tham gia quan hệ tố tụng trên cơ sở quan hệ đại diện và nhân danh
đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người đại diện của đương sự vốn không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp mà họ tham gia tố tụng chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên nếu quyền, lợi ích, nghĩa vụ đối lập với đương sự thì sẽ không còn là người đại diện nữa Trên thực tế người đại diện không đương nhiên có tư cách tố tụng mà họ có được
do pháp luật quy định trong một số trường hợp cụ thể hoặc đương sự trao cho thông qua cơ chế đại diện Khi đó, họ sẽ tham gia đồng thời hai quan hệ pháp luật là quan hệ đại diện và quan hệ
tố tụng Quan hệ đại diện sẽ là tiền đề để người đại diện tham gia tố tụng từ đó thực hiện các quyền năng tố tụng của đương sự
Thứ ba, quyền và nghĩa vụ của người đại diện phụ thuộc vào quyền và nghĩa vụ của đương
sự và bản chất của quan hệ đại diện Vì thay mặt đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng nên quyền và nghĩa vụ của người đại diện cũng phụ thuộc vào nội dung quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự Đối với những đương sự ở vị trí tố tụng khác nhau thì người đại diện cũng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau Ngoài ra, quan hệ đại diện có nhiều dạng khác nhau nó sẽ mở ra những phạm vi đại diện khác nhau và từ đó người đại diện sẽ được thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự ở các mức độ khác nhau
3 Cơ sở xây dựng chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
* Cơ sở lí luận:
Thứ nhất, việc xây dựng các quy định về người đại diện của đương sự trong TTDS nhằm
đảm bảo quyền được tiếp cận công lý và quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng làm tốt để bảo vệ mình hay thậm chí họ không đủ khả năng, nhận thức để tham gia tố tụng một cách bình thường theo quy định của pháp luật Người đại diện sẽ có những điều kiện, phẩm chất mà đương sự không có hoặc không
đủ để tham gia tố tụng một cách thuận lợi và hiệu quả, người đại diện thay mặt, bù đắp những
Trang 43
thiếu sót của đương sự để từ đó bảo đảm tối đa quyền, lợi ích hợp pháp mà đương sự đáng được hưởng.3
Thứ hai, việc xây dựng các quy định về người đại diện của đương sự trong TTDS đồng
thời cũng đảm bảo thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ tố tụng, nó đóng vai trò tiền
đề chủ yếu để thực hiện tranh tụng tại phiên tòa Theo đó, giữa các đương sự phải được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ TTDS, đương sự này được đưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để bảo
vệ quyền và lợi ích của mình thì tương tự bên kia cũng như vậy Cơ chế đại diện chính là giúp
đỡ cho những thiếu hụt của đương sự, để họ có khả năng tiếp cận và thực hiện quyền và nghĩa
vụ tố tụng một cách ngang bằng nhau
Thứ ba, việc xây dựng quy định về người đại diện dựa trên cơ sở tôn trọng quyền tự định
đoạt của đương sự Quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS cho phép đương sự được lựa chọn phương thức tham gia tố tụng theo cách mà họ cho rằng đó là thuận lợi nhất và tốt nhất cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Đó là trực tiếp tham gia hay nhờ người thay mặt mình tham gia tố tụng và họ có thể tự lựa chọn người phù hợp thay thế mình đó, họ tự mình ràng buộc giới hạn thay thế đối với người được nhờ đó
* Cơ sở thực tiễn
Thứ nhất, trong xã hội không phải tất cả mọi chủ thể đều có khả năng, điều kiện, năng lực
nhận thức, kiểm soát hành vi của bản thân nên họ không thể tham gia một cách trực tiếp vào quan hệ tố tụng theo quy định của pháp luật nên cơ chế đại diện là một biện pháp hạn chế những cản trở đó cho đương sự, giúp đương sự được tham gia vào tố tụng một cách bình đẳng
Thứ hai, đời sống dân sự đang ngày một phức tạp, nhiều dạng quan hệ ra đời với những
nội dung vô cùng đa dạng, phong phú Những vụ việc phát sinh từ đời sống dân sự cũng từ đó
mà phức tạp theo Có những trường hợp, nếu đương sự không chuyên sâu về pháp lý chuyên ngành thì rất khó khăn để hiểu về vụ việc của chính mình ảnh hưởng đến việc tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, từ đó, đẩy nhu cầu được trợ giúp pháp lý ngày càng tăng cao Quy định người đại diện của đương sự là mở ra cho đương sự con đường giải quyết nhu cầu cấp thiết đó
II Phân tích quy định của BLTTDS 2015 về người đại diện của đương sự
1 Điều kiện để trở thành người đại diện của đương sự trong TTDS
Theo Khoản 1 Điều 85 BLTTDS 2015 quy định người đại diện trước hết phải là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của BLDS 2015 Theo đó, người đại diện là cá nhân hay pháp nhân thì đều phải có đầy đủ năng lực chủ thể bao gồm NLPLDS và NLHVDS NLPLDS được hiểu là khả năng của chủ thể có quyền và nghĩa vụ dân sự Cá nhân và pháp nhân có thời điểm bắt đầu và chấm dứt năng lực chủ thể khác nhau Giữa cá nhân với cá nhân và giữa pháp nhân
3 Ngô Thị Lộc (2016), Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học luật Hà Nội, TS Bùi Thị
Huyền hướng dẫn;
Trang 5với pháp nhân đều có năng lực chủ thể ngang nhau trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Mọi cá nhân, pháp nhân đều có thể là người đại diện của đương sự trừ các trường hợp được quy định tại Điều 87 BLTTDS 2015 (xem phụ lục) Theo Điều 87 BLTTDS 2015, khi một người đang là đương sự hay người đại diện thì không thể đại diện cho người có quyền, lợi ích hợp pháp đối lập với mình hoặc người đang được đại diện Những quy định này nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia trong hoạt động TTDS
2 Người đại diện của đương sự theo pháp luật
* Khái niệm: Người đại diện theo pháp luật là người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự theo quy định của pháp luật Theo quy định của BLDS
2015 thì người đại diện theo pháp luật của đương sự có thể là cha, mẹ của con chưa thành niên; người giám hộ của người được giám hộ; người đứng đầu cơ quan, tổ chức; chủ hộ gia đình và
cá nhân; tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác với điều kiện là
họ phải có năng lực hành vi TTDS; không thuộc các trường hợp có quyền, lợi ích đối lập với người được đại diện hoặc đang đại diện cho người có quyền, lợi ích đối lập trong cùng một vụ
án dân sự
* Phạm vi tham gia TTDS: Người đại diện theo pháp luật đương nhiên được tham gia tố
tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự khi xét thấy cần thiết Phạm vi tham gia tố tụng
của họ không bị hạn chế trong các loại việc
* Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật: Theo quy định tại Khoản 1 Điều
86 BLTTDS 2015 người đại diện theo pháp luật được thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương
sự Đối với mỗi đương sự khác nhau thì có quyền và nghĩa vụ riêng nên người đại diện theo pháp luật của họ cũng có quyền và nghĩa vụ tương tự Quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định chung tại Điều 70 BLTTDS 2015 (xem phụ lục) nên người đại diện theo pháp luật cũng có quyền và nghĩa vụ này Đối với trường hợp người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người không có NLHV TTDS thì họ được thực hiện tất cả quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự mà họ đại diện
* Chấm dứt đại diện của đương sự theo pháp luật: Đại diện theo pháp luật của đương sự
là pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt Đại diện theo pháp luật của đương sự là cá nhân chấm dứt khi người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc đã được khôi phục NLHVDS, người đại diện hoặc người được đại diện chết, người đại diện mất NLHVDS hoặc
bị hạn chế NLHVDS thì quan hệ đại diện chấm dứt
3 Người đại diện của đương sự theo uỷ quyền
* Khái niệm: Theo khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015 quy định:“Người đại diện theo ủy
quyền theo quy định của BLDS là người đại diện theo ủy quyền trong TTDS” Người đại diện
theo ủy quyền là người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương
sự theo sự ủy quyền của đương sự Theo đó, người được ủy quyền có thể là cá nhân, pháp nhân
Trang 65
có năng lực chủ thể và không thuộc những trường hợp pháp luật cấm không được làm người đại diện theo ủy quyền, thực hiện nghĩa vụ thay mặt chủ thể ủy quyền tham gia TTDS tại Tòa
án Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình không trực tiếp tham gia tố tụng mà ủy quyền cho luật sư hoặc người khác tham gia tố tụng thì người được ủy quyền cũng là người đại diện theo ủy quyền Khác với người đại diện theo pháp luật đương sự được đại diện là người có năng lực hành vi tố tụng nên người đại diện theo ủy quyền chỉ được tham gia tố tụng khi được đương sự ủy quyền thay mặt họ trong TTDS
* Phạm vi tham gia TTDS của người đại diện theo ủy quyền
Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng trong các loại việc, trừ việc li hôn bởi vụ việc li hôn liên quan đến quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác thực hiện thay Chỉ trong trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết li hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì họ là người đại diện.4
Đương sự có thể ủy quyền cho bất kì người nào có năng lực hành vi tố tụng đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích của mình Tuy nhiên, để đảm bảo việc giải quyết vụ việc khách quan thì đối với những người không được làm đại diện theo pháp luật của đương sự; những người là cán bộ, công chức trong ngành tòa án, kiểm sát, công an cũng không được làm người đại diện ủy quyền cho đương sự tham gia tố tụng
Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện thực hiện toàn bộ các quyền và nghĩa vụ
tố tụng của mình Tuy vậy, do tính chất, yêu cầu của việc giải quyết vụ việc dân sự thì sau khi
ủy quyền cho người đại diện, đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để bổ sung cho hoạt động của người đại diện Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể triệu tập đương sự cùng tham gia tố tụng với người đại diện của họ Để xác định rõ trách nhiệm pháp lý của người đại diện, việc ủy quyền phải được tiến hàng dưới hình thức văn bản
* Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền: Khoản 2 Điều 86 BLTTDS
2015 quy định:“Người đại diện theo ủy quyền trong TTDS thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS
của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền” Người đại diện theo ủy quyền tham gia vào
quá trình tố tụng sẽ có các quyền và nghĩa vụ chung của đương sự, quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng loại đương sự tùy thuộc vào việc họ đại diện cho đương sự có vai trò tố tụng nào và phạm vi đại diện ghi nhận trong văn bản ủy quyền Đối với người đại diện theo ủy quyền của đương sự tham gia tố tụng đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự là người có năng lực hành vi TTDS Bản thân đương sự cũng có thể tự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ Vì vậy, người đại diện theo ủy quyền chỉ thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng
4 Khoản 4 Điều 85 Người đại diện BLTTDS 2015
Trang 7của đương sự trong phạm vi ủy quyền Những hành vi của người đại diện vượt quá phạm vi ủy
quyền đều không có giá trị pháp lý
* Chấm dứt đại diện của đương sự theo ủy quyền: Đại diện theo ủy quyền của đương
sự là cá nhân chấm dứt trong trường hợp thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền đã hoàn thành, người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối thực hiện việc ủy quyền, người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, mất NLHVDS, bị hạn chế NLHVDS, bị Tòa án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết Đại diện theo ủy quyền của đương sự là pháp nhân chấm dứt khi thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền
đã hoàn thành, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền, pháp nhân
chấm dứt
III Đánh giá các quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
1 Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sự trong
tố tụng dân sự
1.1 Điểm tích cực
BLTTDS 2015 ra đời thay thế BLTTDS 2005 đã quy định rõ ràng và cụ thể hơn về vấn
đề người đại diện của đương sự như: quy định trường hợp pháp nhân có thể làm đại diện; mở rộng hơn về các chủ thể là người đại diện theo pháp luật của đương sự bao gồm người mất NLHVDS, người chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi; quy định các trường hợp không được làm đại diện theo pháp luật của đương sự; căn cứ chấm dứt
và hậu quả pháp lý; quy định về đại diện khởi kiện của tổ chức đại diện tập thể lao động vì lợi ích của người lao động; quy định về đại điện khởi kiện vụ án ly hôn để bảo vệ quyền lợi của
vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành
vi của mình; quy định về chỉ định người đại diện tố tụng dân sự Với các quy định của BLTTDS
2015, hành lang pháp lý về người đại diện của đương sự trong TTDS đã được khẳng định và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập chế định đại diện trong những trường hợp đương sự cần người đại diện trong TTDS
1.2 Điểm hạn chế
Thứ nhất, khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015 quy định: “Người đại diện theo ủy quyền theo
quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong TTDS.” Trong khi đó, khoản
2 Điều 138 BLDS 2015 có quy định trong một số trường hợp đặc biệt pháp luật quy định những người chưa đủ 18 tuổi cũng có thể là người đại diện trong quan hệ pháp luật nội dung: người
từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền trong quan hệ dân sự Nếu ta dẫn chiếu theo quy định tại khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015 thì người đại diện theo ủy quyền từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi trong quan hệ dân sự có thể trở thành người đại diện theo ủy quyền trong TTDS Có thể thấy quy định này là không phù hợp Bởi lẽ, người đại diện của đương sự tham gia tố tụng với nhiệm vụ tiếp nhận, thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng
Trang 87
của đương sự hộ đương sự, và phải bù đắp những thiếu hụt của bản thân đương sự Mà người
từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì họ không thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi tham gia tố tụng Thêm vào đó, quá trình tố tụng thường rất phức tạp do đó cần một người phải có kiến thức và kĩ năng sống nhất định mới
có thể đảm bảo thực hiện tốt nhất quyền, nghĩa vụ tố tụng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự
Thứ hai, theo Điều 136 BLDS 2015 thì cha, mẹ là đại diện theo pháp luật đối với con chưa
thành niên Khoản 2 Điều 47 BLDS 2015 quy định: Một người chỉ có thể được một người giám
hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu Với
quy định này ta có thể hiểu là cha, mẹ đồng thời là người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người giám hộ cho con mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Tuy nhiên, nếu áp dụng các quy định này trong TTDS sẽ gây khó khăn khi xác định người đại diện trong tố tụng dân sự là cả cha và mẹ hay chỉ là cha hoặc mẹ Nếu cha và mẹ không thống nhất được việc cử ai là người là người đại diện theo pháp luật thì cha hay mẹ sẽ là người đại diện theo pháp luật cho con tham gia tố tụng Nếu xác định cả cha,
mẹ của người chưa thành niên, người con mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự là không cần thiết và phức tạp hơn quá trình tố tụng
Thứ ba, đối với trường hợp đương sự là người vắng mặt, không tin tức thì BLTTDS 2015
chưa có quy định về việc chỉ định người đại diện cho đối tượng này Ngoài ra, BLTTDS 2015 mới chỉ quy định về chỉ định người đại diện cho cá nhân, chỉ định đại diện đối với vụ việc lao động và mà chưa quy định về chỉ định người đại diện đối với pháp nhân trong các vụ việc dân
sự nói chung Ngoài ra, hiện nay BLTTDS 2015 mới chỉ quy định thẩm quyền chỉ định người đại diện cho đương sự là Tòa án mà không quy định rõ thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự hay Hội đồng xét xử mới được chỉ định người đại diện
Thứ tư, khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015 quy định đối với việc ly hôn, đương sự không
được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng Vấn đề đặt ra là trong vụ án ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn đã giải quyết ở cấp sơ thẩm, có đương sự chỉ kháng cáo về phần chia tài sản chung Vậy trong trường hợp này liệu đương sự có được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia phiến tòa phúc thẩm hay không? Điều này pháp luật vẫn chưa có quy định nào rõ ràng do đó trên thực tế các Tòa án còn gặp nhiều lúng túng trong quá trình giải quyết các vụ án về hôn nhân gia đình
Thứ năm, BLTTDS 2015 không giới hạn một người có thể tham gia tố tụng với hai tư
cách là người đại diện và vừa là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nếu người đại diện đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án
Trang 9sẽ khó phân định được tư cách tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện
là thay mặt đương sự trước Tòa án
Thứ sáu, BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể về thẩm
quyền chỉ định người đại diện và các tiêu chí lựa chọn người đại diện, ngoài những điều kiện
để được trở thành người đại diện Do đó mà việc thực hiện quy định này trong thực tế chưa được thống nhất và ít Tòa án áp dụng hình thức chỉ định người đại diện
Thứ bảy, BLTTDS 2015 chưa có quy định về thời điểm bắt đầu tính thời hạn ủy quyền
Trường hợp các bên thỏa thuận thời hạn ủy quyền từ khi bắt đầu vụ kiện đến khi kết thúc vụ kiện Thời điểm bắt đầu vụ kiện được xác định khi nguyên đơn có đơn khởi kiện hay khi cơ quan có thẩm quyền nhận đơn hay khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận về thời hạn ủy quyền và pháp luật cũng không có quy định thì pháp luật xác định thời hạn ủy quyền của các bên có hiệu lực là một năm, kể từ ngày xác lập
việc ủy quyền Thế nhưng không có quy định cụ thể “ngày xác lập việc ủy quyền” là ngày nào,
là ngày hai bên ký vào văn bản ủy quyền hay tính từ ngày được cơ quan chức năng xác nhận vào hợp đồng đó
2 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về người đại diện của đương
sự trong tố tụng dân sự
Sau khi BLTTDS 2015 được ban hành thì hành lang pháp lý về người đại diện của đương
sự trong tố tụng dân sự đã được khẳng định và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập chế định đại diện trong những trường hợp đương sự cần người đại diện trong tố tụng dân
sự Hiện nay, số lượng vụ việc dân sự có người đại diện của đương sự ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên thực tiễn việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc và hạn chế Sau đây là một số vướng mắc rút ra trên thực tiễn khi thi hành pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 84 BLDS 2015 thì chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của
pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hay một phần chức năng của pháp nhân, kể cả đại diện Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó Chi nhánh và văn phòng đại diện không phải là pháp nhân, nó chỉ là đơn vị đại diện của doanh nghiệp, thay mặt doanh nghiệp tham gia một số giao dịch trong phạm vi đã ủy quyền Do đó, chi nhánh và văn phòng đại diện không thể là đương sự khi có vụ việc tranh chấp xảy ra Trong thực tiễn xét xử, vẫn còn nhiều Tòa án
đã sai sót khi xác định chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân là đương sự trong các vụ việc phát sinh từ hành vi thực hiện chức năng đại diện của chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp
Thứ hai, theo quy định tại khoản 3 Điều 185 Luật Doanh nghiệp 2014 thì chủ doanh nghiệp
tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc
Trang 109
Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp Như vậy, chủ doanh nghiệp tư nhân tham gia tố tụng với tư cách là đương sự đối với các vụ việc phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên trên thực tế nhiều Tòa án vẫn xác định đương sự của những vụ việc liên quan đến doanh nghiệp tư nhân chính là doanh nghiệp tư nhân đó kéo theo việc xác định sai người đại diện
Thứ ba, trong các vụ án tranh chấp về tài sản của hộ gia đình, vụ án phát sinh từ giao dịch
của hộ gia đình thường bị xác định sai tư cách tố tụng đối với chủ hộ Nhiều Tòa án chỉ xác định chủ hộ là đương sự trong vụ án liên quan đến tranh chấp tài sản của hộ gia đình, đặc biệt
là tài sản là đất đai thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình Khi tham gia tố tụng để giải quyết vụ
án liên quan dến tranh chấp tài sản của hộ gia đình, chủ hộ chỉ đóng vai trò là người đại diện, còn các thành viên trong hộ gia đình mới là đương sự
Thứ tư, BLTTDS 2015 không giới hạn đương sự chỉ được ủy quyền cho một đại diện cho
mình tham gia tố tụng, do đó, khi thực hiện xét xử đương sự có thể ủy quyền cho nhiều người tham gia tố tụng Trên thực tế có những vụ án đương sự ủy quyền cho nhiều người tham gia tố tụng, tuy nhiên những người được ủy quyền có địa chỉ ở xa nhau, mà người ủy quyền không đến Tòa án sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết và sẽ kéo dài thời gian giải quyết
vụ án
Thứ năm, khi người đại diện thực hiện hành vi đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền hoặc
không có quyền đại diện, hậu quả xảy ra là giao dịch này sẽ bị hủy bỏ do không có giá trị về mặt pháp lí Tuy nhiên, việc người đại diện đó có phải chịu trách nhiệm hay không, trách nhiệm
về vật chất hay tinh thần của người đại diện như thế nào đối với việc phát sinh thiệt hại do giao dịch trên cũng chưa được đặt ra để giải quyết Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp phải hủy án
do người đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền hoặc không có quyền đại diện nhưng rất ít vụ án được thụ lý yêu cầu bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, đôi khi khi thụ lý hồ sơ giải quyết Tòa
án không kiểm tra kĩ nội dung các văn bản ủy quyền, phạm vi ủy quyền, thời hạn ủy quyền dẫn đến quá trình tố tụng vi phạm nghiêm trọng thủ tụng, án hủy đi hủy lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, làm ảnh hướng đến quyền lợi của các bên đương sự
Thứ sáu, nhiều trường hợp thỏa thuận của đương sự không rõ ràng về nội dung, phạm vi
ủy quyền gây lúng túng cho Tòa án trong việc giải quyết các vụ án, đôi khi chính Tòa án cũng không nhận thức được một cách chính xác về nội dung, phạm vi đại diện mà đương sự và người đại diện đã thỏa thuận
Thứ bảy, nhiều trường hợp người đại diện của đương sự không thực hiện hết trách nhiệm,
nghĩa vụ của người đại diện hoặc vi phạm nghĩa vụ đại diện, người đại diện theo ủy quyền cố
ý vi phạm nghĩa vụ của người đại diện, gây thiệt hại cho người được đại diện, dẫn đến phát sinh tranh chấp về hợp đồng ủy quyền