1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI

107 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Thành Phần Bọ Phấn Hại Cây Có Múi, Đặc Điểm Sinh Học, Sinh Thái Của Loài Bọ Phấn Đen Viền Trắng
Tác giả Trần Đình Dương
Người hướng dẫn GS.TS. Hà Quang Hùng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI TRẦN ĐÌNH DƯƠNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HỌ ALEYRODIDAE: HOMOPTERA HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI B

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

TRẦN ĐÌNH DƯƠNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN (HỌ ALEYRODIDAE: HOMOPTERA) HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG Aleurocanthus spiniferus Quaitance

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009

TẠI GIA LÂM VÀ TỪ LIÊM, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật

Mã số : 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HÀ QUANG HÙNG

Hà Nội - 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho công việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Đình Dương

Trang 3

Tập thể các thầy cô giáo bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, luôn giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian tôi học tập và thực hiện đề tài

Các bạn sinh viên, những người đã luôn tích cực cùng tôi tham gia, tiến hành thực hiện đề tài Bà con nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học đã luôn nhiệt tình giúp đỡ tôi

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Trần Đình Dương

Trang 4

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ

3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây có múi vụ đông

xuân 2008-2009 tại Gia Lâm, Từ Liêm, Hà Nội 35

Trang 5

4.1.1 Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây có múi vụ Đông -

4.1.2 Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây có múi vụ Đông -

4.1.3 Đặc điểm hình thái, triệu chứng gây hại của một số loài bọ phấn

4.2 Thành phần ong ký sinh trên bọ phấn họ Aleyroridae hại cây có

múi vụ đông – xuân 2008-2009 tại Gia Lâm, Từ Liêm, Hà Nội 43 4.2.1 Thành phần ong ký sinh trên bọ phấn họ Aleyroridae hại cây có

múi vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Gia Lâm, Hà Nội 43 4.2.2 Thành phần ong ký sinh trên bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây có

múi vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Từ Liêm, Hà Nội 45 4.2.3 Đặc điểm hình thái của một số loài ong ký sinh trên bọ phấn họ

4.3 Diễn biến mật độ bọ phấn họ Aleyroridae hại cây có múi dưới tác

động của một số yếu tố kỹ thuật canh tác 47

4.3.1 Diễn biến mật độ của bọ phấn A spiniferus Quaitance dưới điều

kiện trồng xen Bưởi diễn với ngô, ổi, đậu tương vụ Đông - Xuân

4.3.2 Diễn biến mật độ bọ phấn A spiniferus Quaitance dưới điều kiện

giống cây trồng khác nhau (Bưởi diễn, cam canh) vụ Đông -

4.3.3 Diễn biến mật độ bọ phấn A spiniferus Quaitance dưới điều kiện

tuổi cây trồng khác nhau (bưởi diễn 5 năm tuổi và >10 năm tuổi)

vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Từ Liêm, Hà Nội 50 4.4 Một số đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ phấn

Aleurocanthus spiniferus Quaitance 52

4.4.1 Đặc điểm hình thái các pha phát dục của bọ phấn Aleurocanthus

Trang 6

4.4.2 Kích thước cơ thể các pha phát dục của bọ phấn Aleurocanthus

4.5.1 Đặc điểm hình thái ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri 58

4.5.2 Kích thước cơ thể các pha phát dục của ong ký sinh Encarsia

Trang 7

GĐST: Giai đoạn sinh trưởng

IPM: Intergrated pest management MĐPB: Mức độ phổ biến

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

4.1 Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae: Homoptera hại cây có múi

vụ Đông - Xuân 2008 - 2009 tại Gia Lâm, Hà Nội 354.2 Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae: Homoptera hại cây có múi

vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Từ Liêm, Hà Nội 364.3 Thành phần ong ký sinh trên bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây có

múi vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Gia Lâm, Hà Nội 444.4 Thành phần ong ký sinh trên bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây có

múi vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Từ Liêm, Hà Nội 45

4.5 Diễn biến mật độ bọ phấn A spiniferus dưới ảnh hưởng của kỹ

thuật trồng độc canh bưởi và xen canh vụ Đông - Xuân 2008 –

4.6 Diễn biến mật độ bọ phấn A spiniferus trên cam Canh và bưởi

Diễn vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Gia Lâm, Hà Nội 49

4.7 Diễn biến mật độ bọ phấn A siniferus Quaintance trên bưởi Diễn

dưới ảnh hưởng của tuổi cây vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Từ

4.8 Kích thước các pha phát dục của bọ phấn Aleurocanthus

4.10 Khả năng đẻ trứng của bọ phấn A spiniferus Quaintance 57

4.11 Tỷ lệ trứng nở của bọ phấn A spiniferus Quaintance 57

4.12 Kích thước trưởng thành ong ký sinh E opulenta Silvestri 59

4.13 Thời gian phát dục của ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri 59

4.14 Thòi gian sống của trưởng thành ong Encarsia opulenta với thức

ăn bổ sung khác nhau ở nhiệt độ 240C và ẩm độ 80% 60

4.15 Tỷ lệ ký sinh trong phòng của ong ký sinh Ecarsia opulenta 62

4.16 Tỷ lệ ký sinh của ong ký sinh trên bọ phấn A spiniferus ngoài

đồng ruộng vụ Đông – Xuân 2008 - 20009 tại Gia Lâm – Hà Nội 63

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

3.1 Cấu tạo kẹp nuôi sâu Error! Bookmark not defined.

3.2 Vị trí kẹp lồng nuôi sâu trên cây bưởi Error! Bookmark not defined.

4.1 Trưởng thành bọ phấn Aleurocanthus spiniferus QuaintanceError! Bookmark not defined.

4.2 Trưởng thành bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby.Error! Bookmark not defined.

4.3 Trưởng thành bọ phấn Aleurocanthus sp.Error! Bookmark not defined.

4.4 Trưởng thành bọ phấn trắng (Dialeurodes citri Ashmead)Error! Bookmark not defined.

4.5 Trưởng thành bọ phấn trắng (Bemisia tabaci Gennadius)Error! Bookmark not defined.

4.6 Ong kí sinh Encarsia opulenta SilvestriError! Bookmark not defined.

4.7 Ong kí sinh Encarisa fomosa Gahan Error! Bookmark not defined.

4.8 Ong kí sinh Eretmocerus sp Error! Bookmark not defined.

4.9 Ong kí sinh Encarsia sp1 Error! Bookmark not defined.

4.10 Ong kí sinh Coccophagus sp Error! Bookmark not defined.

4.11 Ong kí sinh Encarsia sp2 Error! Bookmark not defined.

4.12 Ong ký sinh Signophora sp Error! Bookmark not defined.

4.13 Diễn biến mật độ bọ phấn A spiniferus dưới tác động của yếu tố

kỹ thuật trồng xen canh và độc canh cây bưởi vụ Đông - Xuân

4.14 Diễn biến mật độ bọ phấn Aleurocanthus spiniferus dưới ảnh

hưởng của điều kiện giống cây trồng khác nhau vụ Đông - Xuân

4.15 Diễn biến mật độ bọ phấn A spiniferus trên bưởi diễn dưới ảnh hưởng

của tuổi cây vụ Đông - Xuân 2008 – 2009 tại Từ Liêm, Hà Nội 52

4.16 Trứng bọ phấn A spiniferus QuaintanceError! Bookmark not defined.

4.17 Sâu non tuổi 1 bọ phấn A.spiniferus Quaintance (mới nở)Error! Bookmark not defined 4.18 Sâu non tuổi 1 bọ phấn A.spiniferus Quaintance (hình thành diềm)Error! Bookmark not defined.

Trang 10

4.19 Sâu non tuổi 2 của bọ phấn A spiniferus QuaintanceError! Bookmark not defined 4.20 Sâu non tuổi 3 của bọ phấn A spiniferus QuaintanceError! Bookmark not defined 4.21 Nhộng bọ phấn A.spiniferus QuaintanceError! Bookmark not defined.

4.22 Trưởng thành bọ phấn A spiniferus QuaintanceError! Bookmark not defined.

4.23 Trứng E opulenta Silvestri Error! Bookmark not defined.

4.24 Sâu non tuổi 1 E opulenta Silvestri Error! Bookmark not defined.

4.25 Sâu non tuổi 2 E opulenta Silvestri Error! Bookmark not defined.

4.26 Sâu non tuổi 3 E opulenta Silvestri Error! Bookmark not defined.

4.27 Nhộng của ong ký sinh Encarsia opulentaError! Bookmark not defined.

4.28 Trưởng thành ong ký sinh Encarsia opulentaError! Bookmark not defined.

4.29 Tỷ kệ ký sinh của ong E opulenta Silvestri trong phòng 62

4.30 Tỷ lệ ký sinh của ong ký sinh trên bọ phấn Aleurocanthus

Trang 11

Cây có múi được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như để ăn tươi, vắt lấy nước uống, lấy mùi vị, chế biến thức ăn, làm mứt, chế biến nước giải khát, làm hương liệu… Ngoài ra trong sản xuất công nghiệp, người ta sử dụng vỏ và hạt của cây có múi để tách chiết tinh dầu, bã tép để sản xuất pectin

có tác dụng tốt trong việc chữa các bệnh về tim mạch, đường ruột củng như chống ung thư (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)[1]

Theo dự báo của FAO, năm 2000 tổng sản lượng quả của cây có múi đạt trên 85 triệu tấn với tăng trưởng hàng năm 2,85% (Hoàng Ngọc Thuận, 2005)[5] Khu vực trồng cam quýt tập trung ở các nước có khí hậu Á nhiệt đới, ở các vĩ độ cao hơn 20 – 220 Nam và Bắc bán cầu có khi lên đến 40 vĩ độ Nam và Bắc bán cầu (Trần Thế Tục, 1998)[15]

Ở nước ta, trước đây người dân chủ yếu trồng để phục vụ cho bản thân, nhưng kể từ năm 1990 trở lại đây mức sản xuất cây có múi đã được tăng lên, nhiều hộ dân đã sản xuất với quy mô lớn để kinh doanh Theo Niên giám thống

kê năm 1994 và ước tính diện tích trồng cam quýt của cả nước khoảng 60.000

ha, sản lượng gần 200.000 tấn Cây có múi trồng nhiều ở vùng Đồng bằng sông

Trang 12

Cửu Long như Cần Thơ, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh long, Tiền Giang… có khoảng 35.000 ha chiếm 57,86% diện tích trồng cây có múi của cả nước, sản lượng 124.548 tấn chiếm 76.04% (Hoàng Ngọc Thuận, 2005)[5]

Ở các tỉnh Đông Nam Bộ trồng nhiều cây có múi chủ yếu là bưởi đường da láng, đường lá cam (Tân Uyên), bưởi Tân Triều (Biên Hòa-Đồng Nai) Diện tích cây bưởi, cam, quýt ở Bình Dương có chiều hướng phát triển

ở các xã Bạch Đằng, Lạc An, Tân Mỹ,Thường Tân, Uyên Hưng, Trừ Văn Thố, Cây Trường, Lai Uyên… vào năm 2006 với diện tích 1470 ha chiếm tỉ lệ 13,54% diện tích cây ăn quả cả tỉnh (Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn, 2005)[1]

Các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng là những địa phương có nhiều tiềm năng cho việc phát triển cây có múi Tuy vậy, do điều kiện khí hậu của nước ta thích hợp cho nhiều loại dịch hại phát triển gây ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất cây có múi

Ngày nay, do đầu tư thâm canh và sản xuất chuyên canh đã tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển mạnh mẽ, diễn biến phức tạp Biện pháp phòng chống sâu hại nói chung và sâu hại cây ăn quả có múi nói riêng ở nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào thuốc hoá học Sự lạm dụng thuốc trừ sâu không những không tiêu diệt được sâu hại mà còn làm cho sâu hại quen với thuốc hoá học, ảnh hưởng tới sự tích luỹ số lượng của thiên địch, làm cho một số loài có điều kiện bùng phát số lượng

Theo thống kê của Viện BVTV hiện nay trên cây có múi ở nước ta đã phát hiện hơn 80 loại sâu hại (côn trùng, nhện hại, ốc sên…) và khoảng 40 loại bệnh hại (nấm, vi khuẩn, virus) Trong số các côn trùng hại cây có múi thì đông nhất là các loài thuộc bộ cánh đều Homoptera Trong bộ cánh đều thì loài bọ phấn thuộc

họ Aleyrodidae gây hại đặc biệt quan trọng Chúng vừa chích hút dinh dưỡng của cây, làm cho cây khô héo, vừa là môi giới truyền bệnh Bên cạnh đó, dịch bài tiết của chúng còn làm môi trường cho nấm muội đen phát triển gây hại (Viện Bảo vệ

Trang 13

thực vật, 1997-1998)[20]

Những năm gần đây, biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đang được khuyến cáo áp dụng rộng rãi và đạt được những kết quả tốt Tuy nhiên hiện nay ở nước ta các biện pháp phòng chống sâu hại nói chung và bọ phấn nói riêng trên cây có múi vẫn sử dụng nhiều biện pháp hoá học là chủ yếu Điều này không những gây tốn kém về kinh tế mà còn gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, môi trường, làm mất cân bằng sinh thái và giảm giá trị thương phẩm

Để khắc phục nhược điểm trên và góp phần hạn chế tác hại của bọ phấn

đen viền trắng Aleurocanthus spiniferus Quaitance trên cây có múi, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu thành phần bọ phấn (họ Aleyrodidae: Homoptera) hại cây có múi, đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ phấn đen viền trắng

Aleurocanthus spiniferus Quaitance và biện pháp phòng chống vụ Đông

Xuân 2008-2009 tại Gia Lâm và Từ Liêm, Hà Nội”

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra xác định thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây có múi

và thành phần thiên địch của chúng ở vùng nghiên cứu

- Xác định đặc điểm sinh học của bọ phấn đen viền trắng

Aleurocanthus spiniferus Quaitance

- Điều tra biến động mật độ và tỷ lệ gây hại của bọ phấn đen viền trắng dưới ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái (giống, tuổi cây, trồng xen)

Trang 14

- Xỏc định hỡnh thỏi, sinh học của loài ong ký sinh Encarsia opulenta Silvestri cú ý nghĩa trong điều hoà số lượng bọ phấn Aleurocanthus spiniferus

Quaitance

- Bước đầu đề xuất biện phỏp phũng chống bọ phấn đen viền trắng

Aleurocanthus spiniferus Quaitance

1.3 í nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả điều tra gúp phần bổ sung thành phần bọ phấn hại cõy cú mỳi (cam, chanh, quýt, bưởi ) Bổ sung những dẫn liệu về đặc điểm hỡnh thỏi, sinh học và biến động số lượng của loài bọ phấn chớnh

- Những dẫn liệu này giỳp người sản xuất nhận biết những loài bọ phấn gõy hại trờn cõy cú mỳi cũng như vai trũ của cỏc loài thiờn địch

- Trờn cơ sở kết quả điều tra, nghiờn cứu, bước đầu đề xuất biện phỏp khớch lệ và bảo vệ thiờn địch và ong kớ sinh trong phũng chống bọ phấn

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

- Cây có múi (cam, chanh, bưởi )

- Bọ phấn hại và thiên địch của chúng

- Phạm vi nghiên cứu: Gia Lâm, Từ Liờm, Hà Nội

Trang 15

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ

NGOÀI NƯỚC

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trên cây ăn quả nói chung đặc biệt là nhóm Citrus (cam, chanh, bưởi, quất) nói riêng đều có các loại sâu bệnh gây hại hết sức nguy hiểm làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng nông sản phẩm Trong thành phần những loài sâu bệnh hại thì loài bọ phấn đen là đối tượng rất đáng quan tâm Chúng thường tụ tập và chích hút gây hại ở mặt dưới của lá cây có múi

Cả trưởng thành và sâu non đều chích hút và tạo ra những giọt mật là môi trường cho nấm muội đen phát triển, đồng thời chúng có khả năng truyền bệnh cho cây có múi Cây bị phá hại trở lên yếu ớt do bị mất nhựa sống và sự phát triển của nấm mốc màu đen che phủ trên bề mặt

Con người đã và đang sử dụng rất nhiều loại thuốc hoá học để phòng chống chúng, đặc biệt là các loại thuốc trừ sâu có độ độc cao và sử dụng một cách không hợp lý, do đó đã làm ảnh hưởng đến thiên địch của nhiều loài sâu bệnh, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng

Việc nghiên cứu tìm hiểu về biến động số lượng, đặc điểm sinh học,

sinh thái và biện pháp phòng chống bọ phấn đen Aleurocanthus spiniferus

Quaitance là công việc cần thiết và cấp bách Đây là một vấn đề hết sức nan giải không chỉ đối với các nhà khoa học mà cả với các nhà làm vườn, cần phải được tìm hiểu trước về chúng để có những biện pháp phòng chống đạt hiệu quả kinh tế và môi trường

2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài

2.2.1 Thành phần bọ phấn

Bọ phấn là loại côn trùng có kích thước nhỏ, thuộc nhóm biến thái

Trang 16

không hoàn toàn đặc biệt có trải qua pha nhộng giả Các pha phát dục của bọ phấn bao gồm: trứng, sâu non tuổi 1, sâu non tuổi 2, sâu non tuổi 3, nhộng và trưởng thành Chúng là loài chích hút rất nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây có múi Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về bọ phấn họ Aleyrodidae: Homoptera

Theo Ryoichi Takahashi (1956)[56], năm 1931 giáo sư Kuwana đã mô

tả loài Aleurocanthus palauensis, đây là loài đầu tiên được ghi nhận Tác giả

cũng đã ghi nhận thêm được 6 loài dựa trên cơ sở những bộ sưu tập mẫu của giáo sư T Esaki và năm 1943 Sampson xây dựng nên chi Metaleyroides cho

loài Aleyroides oceanica Takahashi Tác giả đã xác định được 8 loài gồm:

Dialeurodes kirkaldyi, Metaleyrodes oceanica, Bemisia gossypiperda, Aleurocanthus esakii, S A palauensis, A spiniferus, Xenaleyrodes artocarpi, Neomaskellia bergii Trong số những loài được biết đến thì có 4 loài là đa

thực Những loài còn lại gồm 4 loài Aleurocanthus palauensis Kuwana, A

esahi Takahashi, Xenaleyrodes artocarpi Takahashi, và Metaleyrodes oceanica (Takahashi) thì bị giới hạn thức ăn và là những loài bản địa

L J Dumbleton (1961)[42] nghiên cứu về thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae ở khu vực Nam Thái Bình Dương Đã thu thập được 10 loài bọ

phấn là các loài Aleurodicus holmesii (Maskell), Aleurocanthus calophylii (Kotinsky), Aleurotrachelus trachoides (Back), Bemisia leakii (Peal),

Dialeurodes fijiensis (Kotinsky), Dialeurodes kirkaldyi (Kotinsky), Neomaskellia bergii (Signoret), Neomaskellia comata (Maskell),

Orchamoplatus mammaeferus (Quaintance and Baker), Orchamoplatus calophylli Russell Trong đó loài Aleurodicus holmesii (Maskell) thuộc họ

phụ Udamoselinae và loài Aleurocanthus calophylii (Kotinsky) thuộc họ phụ

Aleyrodinae

Trang 17

Tại phía Nam nước Mỹ, Gregory S Hodges (2005)[34] đã thu thập được 74 loài bọ phấn trắng thuộc 2 họ phụ là họ Aleyrodinae và họ Aleurodicinae

Nghiên cứu tại Ấn Độ, R Sundarajai (2004)[48] cho biết: trong khoảng

1420 loài bọ phấn trên thế giới thuộc họ Aleyrodidae thì có tới 290 loài xuất hiện Ấn Độ, thuộc 57 chi và chúng chiếm khoảng 29,66%

Trên thế giới đã xác định được hai loài bọ phấn họ Aleyrodidae:

Homoptera hại chính trên cây có múi đó là Aleurocanthus spiniferus Quaintance và Aleurocanthus woglumi Ashby (Dan Smith và cộng sự,

1997)[23]

2.2.2 Phân bố của hai loài bọ phấn chính Aleurocanthus spiniferus Quaitance và Aleurocanthus woglumi Ashby

Loài bọ phấn hại cam, Aleurocanthus spiniferus Quaitance và

Aleurocanthus woglumi Ashby là những loài côn trùng gây hại bản địa trên

cây có múi ở vùng Châu Á nhiệt đới Loài Aleurocanthus spiniferus

Quaitance phân bố rộng rãi trong vùng Châu Á cận nhiệt đới và nhiệt đới, lan

sang Châu Phi và Thái Bình Dương Loài Aleurocanthus woglumi Ashby tuy

có phân bố khá rộng nhưng không thấy xuất hiện ở lục địa Châu Mỹ [27]

Bọ phấn đen viền trắng có gai (Aleurocanthus spiniferus Quaintance)

phân bố ở châu Phi, Australia, Caribe và các đảo trong Thái Bình Dương (Nguyen và cộng sự, 1993)[53] Ở quần đảo Caribe, Gowdey (1922)[33] đã công bố bọ phấn đen viền trắng có gai là côn trùng gây hại không thường xuyên đối với cây có múi ở Jamaica Đối với các đảo trong Thái Bình Dương, lần đầu tiên nó được công bố ở Guam vào năm 1951 nơi mà chúng được theo dõi kĩ lưỡng không những trên cây có múi mà còn cả trên hoa hồng, nho, đào,

lê và ổi (Peterson, 1955)[9]

Bọ phấn đen viền trắng có gai lần đầu tiên được khám phá trên lá hoa

Trang 18

hồng ở Honolulu, Oahu vào năm 1974 Sau đó các nghiên cứu kế tiếp đã khám phá ra chúng ở ruộng cam, quất, quýt và lê, nhưng sự phá hại đã được báo cáo chậm (USDA, 1974)[62] Ở châu Phi, dịch hại này được công bố đầu tiên vào năm 1987 ở Xoadilen và năm 1988 ở Nam Phi (Van den Berg, 1997)[63] Sự thiết lập quần thể bọ phấn đen viền trắng có gai vẫn chưa thấy xảy ra ở lục địa nước Mỹ (Jamba và cộng sự, 2007)[38]

Bọ phấn đen (Aleurocanthus woglumi Ashby) là dịch hại nghiêm trọng

có nguồn gốc châu Á (Dietz và Zetek, 1920)[24], được tìm thấy ở phía tây bán cầu vào năm 1913 ở Jamaica Nó lan sang Cuba năm 1916, Mexico năm

1935 (Smith và cộng sự, 1964)[58] và được khám phá ra ở Key West, Florida năm 1934 Chúng bị tiêu diệt ở Key West vào năm 1937 (Newell và Brown, 1939)[46] Chúng được phát hiện lại ở Ft Lauderdale, Florida năm 1976 (Dowell và cộng sự, 1981)[25], bọ phấn đen đã được tìm thấy ở các hạt Palm Beach và hạt Dade vào năm 1977; hạt Lee, Highlands và Brevard vào năm 1979; hạt Manatee vào năm 1986; hạt Polk vào năm 1989; hạt Marion và Volusia vào năm 1991; và hạt Alachua vào năm 1992 Hiện nay, bọ phấn đen lan rộng ở trung và nam Florida, từ Cross Creek đến Key West (Ru Nguyen

Trang 19

Pha sâu non:

- Sâu non có hình elip hoặc ovan, màu nâu đen và có một diềm sáp ngắn bao quanh cơ thể của mỗi cá thể Bọ phấn đen viền trắng có gai phát triển đến thời kì nhộng cố định

- Tuổi 1: có 6 chân, thon dài, kích thước 0.3x0.15mm, màu mờ tối, có 2 gai

dài và một vài gai ngắn hơn, có dạng toả tia

- Tuổi 2: không có chân, dạng trứng lồi, kích thước 0.4x0.2mm, màu nâu

tối với những điểm vàng, dễ dàng phân biệt các tia

- Tuổi 3: dạng trứng, kích thước 0.74-0.87mm, cơ thể nói chung màu đen,

các đốt bụng được phân biệt rõ hơn các đốt ngực, ở phía trên lưng có một hàng gồm 8 đốt bụng và 6 đốt ngực chắc khỏe, ở giữa lưng của cơ thể có những xương sống chắc khỏe

Pha nhộng:

- Nhộng có hình trái xoan, màu đen nhánh, lồi, kích thước khoảng 1.88×1.23mm với cột sống khỏe màu đen sẫm Mép của các ống sáp sản xuất ra một diềm bóng, ngắn, chắc mềm, nó xuất hiện ở mép nhộng Giai đoạn nhộng của bọ phấn đen viền trắng có gai cũng tương tự như một loài

bọ phấn ngoại lai khác, loài mà được công nhận là đang hiện hành ở

Florida, Aleurocanthus woglumi Ashby (bọ phấn đen) Sự khác nhau đặc

trưng chính giữa bọ phấn đen viền trắng có gai với bọ phấn đen là tua sáp màu trắng bao quanh mép thời kì nhộng của bọ phấn đen nhìn chung rộng gấp hai lần so với bọ phấn đen viền trắng có gai (Jamba và cộng sự, 2007)[38]

Pha trưởng thành:

- Con cái dài khoảng 1.7mm, con đực khoảng 1.35mm Cơ thể trưởng thành

bọ phấn đen viền trắng có gai màu xanh xám (Jamba và cộng sự, 2007)[38]

Trang 20

(2) Sinh học:

Trong điều kiện nhiệt đới, mọi giai đoạn của Aleurocanthus spiniferus

Quaitance đều được tìm thấy quanh năm, nhưng sự sinh sản chỉ thấy xuất hiện trong những thời kỳ thời tiết lạnh [27]

Trứng được đẻ hình xoắn ốc ở mặt dưới của lá, trứng nở trong vòng

4-12 ngày tuỳ thuộc vào điều kiện Trứng nở ra loại bò sát 6 chân hoạt động có dạng dẹt, màu đen Chúng phân tán trong thời gian ngắn, hoạt động chủ yếu ở mặt dưới của lá để tránh ánh sáng mặt trời Những con sâu non sau đó đưa phần phụ miệng của chúng vào trong lá cây và bắt đầu hút nhựa sống của cây Chúng lột xác, mất chân trong quá trình hoàn thiện, cơ thể mỏng dẹt, hình oval để tấn công lá cây bằng phần phụ miệng của chúng

Những giai đoạn chưa trưởng thành thường sống tập trung một số lượng lớn khoảng vài trăm cá thể trên một lá đơn Sau hai lần lột xác sẽ hình thành trưởng thành

Cả con đực và con cái đều có cánh và chúng sống bằng cách hút nhựa cây Mỗi con cái có thể đẻ 35-100 trứng hay nhiều hơn trong suốt vòng đời

Tuỳ thuộc vào điều kiện, vòng đời nói chung của bọ phấn Aleurocanthus

spiniferus Quaitance dao động khoảng từ 2-4 tháng nhưng có thể có từ 3-6 đợt

phát sinh gối lên nhau trong 1 năm [27]

Thời gian phát dục của từng pha:

- Pha trứng: 11 – 22 ngày

- Sâu non tuổi 1: 7 – 11 ngày

- Sâu non tuổi 2: 5 – 7 ngày

- Sâu non tuổi 3: 7 – 13 ngày

- Pha nhộng giả: 7 – 34 ngày

(Jamba và cộng sự, 2007)[38]

Trang 21

Bọ phấn có 6 giai đoạn phát triển: trứng, giai đoạn tiền sâu non (tuổi 1), giai đoạn sâu non (tuổi 2 và 3), giai đoạn nhộng (tuổi 4) và trưởng thành Đặc điểm nhận dạng lớn nhất của Aleyrodidae là đặc điểm của giai đoạn nhộng (tuổi 4) Thời gian sinh trưởng, vòng đời và số lứa trong năm của bọ phấn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu thời tiết Nhiệt độ ấm áp và ẩm độ cao là điều kiện thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của bọ phấn Trong 1 năm bọ phấn có khoảng 4 thế hệ theo báo cáo ở Nhật Bản (Kuwana và cộng

sự, 1927)[41] trong khi đó các báo cáo ở Guam đưa ra có khoảng 5-6 thế hệ trong 1 năm (Peterson, 1955)[9] Nhiều nhất là 7 thế hệ đã được phát hiện ra trong điều kiện phòng thí nghiệm (Kuwana và cộng sự, 1927)[41] ở Nhật Bản

đã chỉ ra được sự biến đổi lớn trong vòng đời của bọ phấn,đặc biệt là giữa tuổi 3 và 4 (Jamba và cộng sự, 2007)[38]

(3) Ký chủ:

Giống cam quýt các loại là ký chủ chính có ý nghĩa kinh tế quan trọng

của bọ phấn, tuy nhiên loài Aleurocanthus spiniferus Quaitance còn gây hại trên nhiều loài cây trồng khác, ví dụ như cây nho (Vitis vinifera), ổi (Psidium

guajava), lê (Pyrus spp.), đào (Diospyros kaki) và hoa hồng (Rosa spp.) Loài

sâu hại này hầu hết được tìm thấy trên lá cây hay cành cây bị cắt, tuy nhiên cũng có thể tìm thấy chúng trên quả tươi [29]

(4) Triệu chứng:

Những pha tiền trưởng thành thường phát triển tập trung đông đúc ở mặt dưới của lá cây, trưởng thành bay ngay lập tức khi bị đánh động Lá và quả có những đốm dẻo dính, dịch ngọt trong suốt, sau đó nó sẽ được phủ 1 lớp nấm màu đen bồ hóng Sự tàn phá nặng có thể khiến cả cây gần như hoàn toàn màu đen [27]

(5) Phương thức di chuyển và phân tán:

Trưởng thành loài Aleurocanthus có khả năng bay theo chiều gió,

nhưng đây không phải là phương thức chủ yếu của việc lan trưyền đi xa Loài

Trang 22

bọ phấn trắng di chuyển sang các nước khác nhau trên các vật liệu giống cây trồng có múi hay trên những loài ký chủ khác, thậm chí là trên quả tươi Loài

Aleurocanthus tồn tại trên những cây ký chủ mà chúng phá hoại và được vận

chuyển trong thương mại quốc tế [27]

 Aleurocanthus woglumi Ashby

(1) Hình thái:

Pha trứng:

- Trứng được đẻ theo hình xoắn ốc ở mặt dưới của lá, hình oval (Ru Nguyen

và Hamon, 1993)[53]

Pha sâu non:

- Sâu non tuổi 1: Cơ thể hình ovan thuôn dài, có màu nâu cùng với hai sợi

nhỏ màu thủy tinh uốn cong trên cơ thể, kích thước cơ thể trung bình khoảng 0.3×0.15mm (Ru Nguyen và Hamon, 1993)[53]

- Sâu non tuổi 2: Cơ thể hình ovan hơn và lồi hơn tuổi 1, màu nâu tối, trên

cơ thể có nhiều gai bao phủ trên cơ thể, kích thước cơ thể trung bình khoảng 0.4×0.2mm (Ru Nguyen và Hamon, 1993)[53]

- Sâu non tuổi 3: Cơ thể lồi hơn và dài hơn nhiều so với tuổi 2, màu đen

bóng sáng cùng với những gai chắc và nhiều hơn ở tuổi 2, kích thước cơ thể trung bình khoảng 0.87×0.74mm (Ru Nguyen và Hamon, 1993)[53]

Pha nhộng giả:

- Cơ thể hình trái xoan, màu đen bóng sáng với một diềm sáp bao quanh cơ thể, giới tính dễ phân biệt, con cái có kích thước cơ thể trung bình khoảng (1.24×0.71)mm, con đực có kích thước cơ thể trung bình khoảng (0.99×0.61)mm (Ru Nguyen và Hamon, 1993)[53]

Pha trưởng thành:

- Trưởng thành đẻ trứng theo hình xoắn ốc, mỗi con cái đẻ từ 2 – 3 vòng

Trang 23

trứng trong suốt thời gian sống Vào lúc mới lột xác cơ thể có màu vàng nhạt, chân có màu trắng và mắt có màu nâu đỏ Trong vòng 24 giờ sau khi lột xác cơ thể được bao phủ một lớp bột đẹp làm cho phiến màu xuất hiện (Dietz và Zetek, 1920)[24], (Ru Nguyen và Hamon, 1993)[53]

(2) Sinh học:

Tương tự như loài Aleurocanthus spiniferus Quaitance, loài

Aleurocanthus woglumi Ashby cũng phát triển ở mặt dưới của lá cây, chúng

dùng phần phụ miệng để chích hút nhựa cây làm thức ăn nuôi sống cơ thể [28]

Sự phát triển của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby nằm trong

khoảng nhiệt độ thích hợp 20-340C (tối ưu 25.60C) và ẩm độ tương đối từ 80% Loài này không thể sống sót ở mức dưới nhiệt độ đóng băng và không tìm thấy được ở những vùng có nền nhiệt độ trên 430C

70-Thời gian phát dục của từng pha:

Thời tiết ôn hoà với độ ẩm tương đối cao là điều kiện lý tưởng cho sự

sinh trưởng và phát triển của bọ phấn A woglumi Ashby

- Pha trứng: 7 – 10 ngày

- Sâu non tuổi 1: 7 – 16 ngày

- Sâu non tuổi 2: 7 – 30 ngày

- Sâu non tuổi 3: 6 – 20 ngày

- Pha nhộng giả: 16 – 50 ngày

- Pha trưởng thành: 10 – 14 ngày

(Ru Nguyen và Hamon, 1993)[53]

2.2.4 Mức độ gây hại của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaitance và Aleurocanthus woglumi Ashby

Loài bọ phấn đen được coi là mang nguồn gốc châu Á (Aleurocanthus

woglumi Ashby) này đã tràn vào phá hoại hơn 300 loại cây trồng, nhưng cây

Trang 24

có múi là loại cây thích hợp nhất cho sự phát triển của chúng về số lượng Chúng phá hoại cây có múi bằng cách hút dịch lá cây làm cho cây suy yếu dần Đồng thời chúng tiết ra dịch có vị ngọt tạo điều kiện cho nấm mốc đen phát triển phủ lên bề mặt lá, làm cản trở quá trình quang hợp và hô hấp của cây, làm cho cây dần mất sức sống (Ru Nguyen và cộng sự, 1993)[53]

Theo trung tâm cây có múi, trước đây bọ phấn đen viền trắng đã bùng

nổ ở các vườn cây ăn quả của Valley vào năm 1955 và 1971 Lần đầu tiên chúng đã bị hạn chế trên vườn cây có múi ở Brownsville nơi tập trung nhiều cây có múi nhưng đã lan rộng ra các vườn cây thương phẩm ở Cameron năm

1974 [40]

Dịch hại đã làm ảnh hưởng rất lớn đến nền sản xuất cũng như chất lượng cây có múi, dịch hại đó đã tìm thấy ở Florida Nó làm cho cây bị phá hại trở lên yếu ớt do bị mất nhựa sống và sự phát triển của nấm mốc màu đen che phủ trên bề mặt Những bộ phận cây bị hại thường bị nấm mốc màu đen bao phủ Quá trình di chuyển vật liệu vườn ươm và quả bị hại từ nơi này sang nơi khác đã làm phát tán nguồn bọ phấn đen viền trắng làm cho khu phân bố của chúng rộng hơn Ở Florida bọ phấn đen cũng được coi là mối đe dọa tiềm

tàng đối với các loài cây khác nhau [38]

Còn đối với bọ phấn đen viền trắng có gai Aleurocanthus spiniferus

Quaintance là dịch hại mang tính địa phương của cây có múi ở khu vực châu

Á nhiệt đới Vào đầu năm 1920, dịch hại bùng phát và gây hại ở nhiều mức

độ Về cơ bản thì bọ phấn đen viền trắng có gai tấn công vật chủ bằng cách hút nhựa cây, đồng thời còn tiết ra những giọt dịch có vị ngọt, đây chính là điều kiện kích thích sự phát triển của nấm mốc màu đen, và thức ăn của chúng chính là giọt dịch bọ phấn đã tiết ra, giọt dịch không chỉ do bọ phấn mà còn do những côn trùng chích hút khác nữa như rệp hay loài bọ phấn khác Đây là nguyên nhân chính mà lớp nấm mốc màu đen che phủ hoàn toàn bề mặt của lá cây có múi, ảnh hưởng rất lớn đên việc quang hợp của lá [38]

Trang 25

Dan Smith và cộng sự (1997)[23] cho rằng bọ phấn (whiteflies) là những loài cỡ nhỏ dài khoảng 1,5 – 2mm, chúng thường tụ tập và chích hút gây hại ở mặt dưới của lá cây có múi (cam, chanh, bưởi ) Sâu non có dạng hình ovan cả trưởng thành và sâu non đều chích hút và tạo ra những giọt mật

là môi trường cho nấm muội đen phát triển, đồng thời chúng có khả năng truyền bệnh cho cây có múi

Đối với cây có múi ở châu Á nhiệt đới thì bọ phấn Aleurocanthus

spiniferus Quaintance là một dịch hại thường xuyên xuất hiện, dịch hại này

thường bùng phát với tốc độ khá nhanh Trước hết bọ phấn gây hại trên cây trồng bằng cách chúng hút nhựa cây tạo ra vết thương tạo điều kiện cho các loại nấm bệnh xâm nhập vào trong mô lá, nhưng cùng với những loài sâu hại khác như sâu ăn lá, rệp là nguyên nhân gián tiếp tạo ra môi trường cho nấm muội đen phát triển trên những giọt dịch được tiết ra từ các bộ phận của cây [38] Theo tác hại của chúng không những chích hút nhựa cây, làm giảm chất lượng cũng như mẫu mã nông sản, mà nguy hiểm hơn là chúng có khả năng truyền nhiều loại bệnh virus cho cây trồng Theo tác giả Jonh (2003)[39], bọ phấn là vecto truyền hơn 100 loại virus thực vật, mà điển hình

là các giống virus Begomovirus thuộc nòi Gemeniviridea, giống Crinivirus thuộc nòi Clostero-viridae và giống Carlavirus thuộc nòi Potyviridae

2.2.5 Một số biện pháp phòng trừ bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance và Aeurocanthus woglumi Ashby

* Biện pháp hóa học

Nói chung, biện pháp hoá học chưa cho thấy sự hiệu quả trong việc phòng trừ bọ phấn có gai hại cây có múi hay những loài bọ phấn khác trong các hệ trống cây trồng [38]

Loài bọ phấn có thể được kiểm soát bằng việc phun xịt những loại chủ yếu để điều khiển những loài sâu có vảy Có một điều quan trọng cần ghi nhớ rằng việc phun với đồng để điều khiển những loại nấm bệnh gây hại cũng sẽ

Trang 26

ngăn chặn sự phát triển của những loài nấm thân thiện, chính việc này đã dẫn đến việc tăng số lượng bọ phấn Cũng như vậy, nếu phun hơn 1 lần lưu huỳnh trong 1 năm có thể có những hiệu ứng đối lập trên ký sinh Dầu phun

có một số thuộc tính trừ sâu, nhưng chủ yếu được dùng để loại bỏ lớp muội đen bám chắc vào quả và lá cây [53]

Theo Mulla và cộng sự (1986)[44]; Hatakoshi (1992)[35] thì Pyriproxyfen được biết đến như một loại hoạt chất có khả năng phòng trừ nhiều loài côn trùng bao gồm: rệp, bọ phấn, muỗi

Theo EPPO/CABI (1996)[26], nhóm hoá chất có tiềm năng nhất trong phòng trừ bọ phấn đó là nhóm thuốc điều hoà sinh trưởng (IRGs), đây là những loại thuốc được sử dụng để trừ những loại sâu đã chống các nhóm lân hữu cơ, clo hữu cơ, carbamat và pyrethroit

* Biện pháp vật lý

Tại Ấn Độ Murugan (2001)[45] đã sử dụng bẫy dính màu vàng đặt trên những ruộng trồng những giống bông khác nhau trong thời gian 17 tuần (mùa đông) và 16 tuần (mùa hè) kết quả bẫy dính màu vàng đã làm giảm mật độ bọ phấn trên các ruộng trồng bông

* Biện pháp canh tác

Theo United States Department of Agriculturre (1994)[61] đã khuyến cáo để hạn chế sự gây hại của bọ phấn đối với những cây trồng mẫn cảm cần phải tiến hành luân canh cây trồng trước khi bọ phấn có thể lan rộng Trong trường hợp bị nhiễm nặng thì đây là một biện pháp tốt nhằm thay đổi cây ký chủ

* Biện pháp sinh học

Mặc dù những ứng dụng của thuốc trừ sâu có thể giúp đỡ tạm thời giảm bớt những thiệt hại do loài bọ phấn hại cây có múi gây ra, tuy nhiên có những mối nguy hiểm ảnh hưởng đến môi trường, con người vật nuôi và những đại diện kiểm tra sinh học hiện hữu [49]

Trang 27

Ở Florida, đại diện hiệu quả nhất cho việc kiểm soát bọ phấn đen là ong

kí sinh Encarsia opulenta Silvestri và Amitus hespridum Silvestri (Hart và cộng sự, 1978)[36] Ong cái Encarsia opulenta Silvestri đẻ trứng trên cả 3

pha sâu non của bọ phấn và được ưu tiên cho pha thứ nhất Sâu non cái của bọ phấn đen là ký chủ cho 2 và ngẫu nhiên 3 hoặc 4 vật kí sinh, trong khi mỗi sâu non đực của bọ phấn đen chỉ là ký chủ cho 1 vật kí sinh mà thôi Sự phát

triển của Amitus hespridum Silvestri được đồng bộ hóa với vật chủ của nó –

vật kí sinh cái trưởng thành sẵn sàng đẻ trứng khi nhạy cảm với thời kì sâu non của bọ phấn đen ở hiện tại Mỗi vật kí sinh cái có thể sản sinh ra 70 con trong vòng 4 – 5 ngày một cách tương xứng với vật chủ có sẵn Tuy nhiên, vật kí sinh này có khả năng tìm kiếm nghèo nàn và vòng đời ngắn ngủi

Amitus hespridum Silvestri thích hợp nhất với quần thể bọ phấn đen đông

đúc, đặc biệt là trong thời tiết mát mẻ và những mùa có ẩm độ cao Một quần

thể Amitus hespridum Silvestri sẽ sớm kết thúc sự tồn tại của quần thể bọ phấn đen (Nguyen và cộng sự, 1983)[52] Encarsia opulenta Silvestri có khả năng sinh sản chậm hơn so với Amitus hespridum Silvestri, nhưng khả năng tìm kiếm tốt hơn Con cái có thể sống trên 6 tuần Nhìn chung, Amitus

hespridum Silvestri có thể duy trì một quần thể bọ phấn đen ở mức độ thấp

hơn so với Encarsia opulenta Silvestri Những con Encarsia opulenta cái đẻ 1

quả trứng lưỡng bội trong bất kì thời kì sâu non của vật chủ, mặc dù thời kì sâu non tuổi 2 xuất hiện thích hợp hơn Trứng này sẽ sản sinh ra vật kí sinh cái Con cái đẻ trứng không cần sự thụ tinh, nó có thể đẻ 1 quả trứng đơn bội

ở sâu non của một con Encarsia opulenta cái đã phát triển hoàn toàn và trứng

này sẽ sản sinh ra vật kí sinh đực, giới tính được phân chia theo tỉ lệ 1 đực : 7 cái (Ru Nguyen và Hamon, 1993)[53]

Nhật Bản đã sử dụng loài thiên địch Prospaltella smithi Silv và

Crytognatha sp từ Trung Quốc vào năm 1925 và đã đạt được kết quả rất khả

quan đó là tiêu diệt hơn 74% của số lượng bọ phấn gây hại (Kuwana I, Ishii

Trang 28

T, 1927)[41] Ở Guam, người ta cũng đã sử dụng loài thiên địch Prospaltella

smithi Silv và Amitus hesperidium Silvestri giảm được 80-95% tác hại của bọ

phấn Tuy nhiên hiệu quả đạt được như trên vẫn không tốt bằng so với trên hoa hồng và trên nho, theo báo cáo theo dõi của Ấn độ (Jamba và cộng sự, 2007)[38]

Phương pháp sinh học dùng để ổn định mật độ bọ phấn trên đồng ruộng

bằng cách nhân thả loài ong ký sinh Encarsia smithi (Hymenoptera:

Aphelinidae) trong vòng 8 tháng ở vườn cây ăn quả thương mại của miền nam Châu Phi đã ghi nhận giảm tỷ lệ gây hại khoảng 72,9% (Van den Berg, 1997)[63].Điều đó cũng đã mang lại lợi nhuận cao (Jamba và cộng sự, 2007)[38]

Encarsia opulenta Silvestri là một trong những loài thiên địch ký sinh

trên bọ phấn hại cây có múi có hiệu quả cao Nó đã được Silvestri tìm thấy ở

Văn Phú -Việt Nam năm 1927 (Silvestri F, 1927)[57] Vào năm 1950,

Encarsia opulenta Silvestri từ Saharanpur (Ấn độ) đã được đưa tới để quản lý

mật độ bọ phấn tại Mexico (Flanders SE, 1969)[30] Loài thiên địch này sau

đó đã được tìm thấy ở Texas năm 1971 (Summy KR, Gilstrap FE và cộng sự, 1983)[60] và ở Florida năm 1976 (Hart và cộng sự, 1978)[36] để ngăn chặn

và duy trì sự gây hại của bọ phấn ở dưới ngưỡng kinh tế (Ru Nguyen, 2001)[54]

Theo Mark Hoddle (2008)[43], Encarsia formosa Gahan đã được phân

loại và mô tả năm 1924 trong nhà kính ở Idaho - Mỹ (Gahan, 1924)[31] Đặc điểm hình thái của tất cả các pha phát dục đã được mô tả đầy đủ bởi Speyer (1927)[59] Chính vì nhân thả ở tất cả các nơi trồng nhà kính trên thế giới nên

Encarsia formosa Gahan đã được phân bố ở trên toàn thế giới và có thể đã

trở thành những loài địa phương Encarsia formosa Gahan được sử dụng rộng

rãi trong điều khiển thương mại bọ phấn trên cây trồng trong nhà kính Việc thương mại hoá được bắt đầu vào năm 1920 nhưng đến năm 1945 mới được

Trang 29

mở rộng và phát triển Sau năm 1970 chúng đã được sử dụng và mở rộng với diện tích trên 100 hecta trên cây trồng trong nhà kính và tới 4.800 hecta vào năm 1993 (Van Lenteren và cộng sự, 1988)[64], (Hoddle và cộng sự, 1998)[37]

Theo Gillian Ferguson và cộng sự (2003)[32] có 4 loài thiên địch đã được sử dụng trong biện pháp sinh học đối với bọ phấn, 2 loài ký sinh

Encarsia formosa Gahan và Eretmocerus eremicus, là loài ong đen nhỏ, và 2

loài bắt mồi ăn thịt đó là Delphastus pusillus và Dicyphus hesperus

Encarsia lahorensis Howard là loài ký sinh đặc biệt trên bọ phấn hại

cây có múi, Dialeurodes citri Ashmead Loài thiên địch ký sinh này được phát

hiện ra trên bọ phấn hại cây có múi bởi R.S.Woglum vào năm 1911 trong khi đang nghiên cứu kẻ thù tự nhiên ở Ấn Độ (Woglum, 1913)[66]

Encarsia lahorensis Howard đã được phát hiện ra ở Ấn Độ và Pakistan

(Woglum, 1913)[66], và sau đó đã được áp dụng ở California vào năm 1966 (Rose và DeBach, 1981)[50], Floria năm 1977 (Nguyen và Sailer, 1979)[51], Italia (Viggiani và Mazzone, 1978)[65], và một số nơi khác trong điều khiển mật độ bọ phấn trên cây có múi (Ru Nguyen, 2001)[55]

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.3.1 Thực trạng tình hình sâu bệnh hại cây có múi

Theo thống kê của những đợt điều tra cơ bản về côn trùng, nấm bệnh hại cây trồng do các cơ quan nhà nước tiến hành vào các năm 1967 - 1968 và sau ngày miền Nam giải phóng, cũng như do các nhóm cán bộ khoa học thực hiện dưới dạng các đề tài nghiên cứu khoa học trong mấy chục năm qua, thì trên cây có múi ở nước ta đã phát hiện hơn 80 loài sâu hại và khoảng 40 loài bệnh hại

Trong số các loài côn trung hại cam, quýt thì đông nhất là các loài thuộc bộ cánh đều Homoptera Chúng dùng vòi chích hút trên các bộ phận như lộc non, nụ, hoa, quả… ức chế tốc độ sinh trưởng của cành lá, làm rụng

Trang 30

lá, hoa, quả Đối với quả, chúng làm quả bị chua, vỏ ngoài quả nám đen xấu

mã, làm giảm giá trị thương phẩm

Tiếp theo là những loài thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera Nhiều loài thì sâu non gây hại như sâu vẽ bùa, sâu xanh, sâu cuốn lá… song cũng có loài thì chính trưởng thành làm tổn thất đáng kể cho cam quýt như bướm đêm chích hút quả chín, gây rụng quả hàng loạt, tới 9-10% sản lượng

Những loài thuộc bộ cánh cứng Coleoptera như sâu non xén tóc, châu chấu, sâu nhớt… đều gây tác hại nghiêm trọng, đặc biệt là sâu đục cành, đục thân

Trong số các loài thuộc bộ cánh nửa Hemiptera có bọ xít xanh vai nhọn, gây rụng quả suốt từ mùa xuân đến cuối vụ thu, tức là từ khi quả còn non cho đến lúc chín

Số loài hại cam quýt của bộ hai cánh Diptara tuy ít song tác hại lại rất nghiêm trọng, tiêu biểu là loài ruồi Phương đông hay ruồi vàng Ruồi cái đẻ trứng vào quả bắt đầu chín, sau đó giòi nở ra và chui vào các múi để sống và làm quả rụng Năng suất thiệt hại tới 7 - 8% (Vũ Khắc Nhượng, 2005)[21]

2.3.2 Thành phần bọ phấn hại cây có múi

Từ trước tới nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về bọ phấn gây hại trên cây có múi Tuy nhiên, số công trình đó vẫn còn tản mạn Theo kết quả điều tra côn trùng 1967-1968 của Viện BVTV cho thấy: trên cây cam quýt mới thu thập xác định được một loài bọ phấn đen viền trắng

có gai Aleurocanthus spiniferus Quaintance [18]

Theo kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại ở các tỉnh miền Nam năm

1977-1978 của Viện BVTV đã xác định được loài bọ phấn đen Aleurocanthus

woglumi Ashby và bọ phấn đen viền trắng có gai Aleurocanthus spiniferus

Quaintance [19]

Lê Thị Tuyết Nhung (2008)[9] đã thu thập được 6 loài bọ phấn thuộc

họ phụ Aleyrodinae trên các cây ăn quả có múi, rau họ hoa thập tự, lúa nước

Trang 31

Đã giám định được tên khoa học cho 4 loài là: Aleurocanthus spiniferus,

Dialeurolonga rusostigmoides gây hại trên cam; Aleurocybotus indicus gây

hại trên lúa nước; Aleyrodes proletella trên cây rau súp lơ Trong đó, 2 loài

Aleyrodes proletella, Dialeurolonga rusostigmoides lần đầu tiên được ghi

nhận ở Việt Nam

Nghiên cứu về thành phần bọ phấn hại cam, chanh, bưởi, Lê Quang Khải, Hà Quang Hùng (2007)[5] đã thu thập và xác định được thành phần bọ phấn hại trên cây có múi vùng Gia Lâm gồm 4 loài thuộc họ Aleyrodidae là

các loài: Aleurocanthus spiniferus Quaitance, Aleurocanthus woglumi Ashby,

Aleurocanthus sp1, Orchamophatus citri Takahashi Trong đó 2 loài bọ phấn: Aleurocanthus spiniferus Quaitance và Aleurocanthus woglumi Ashby là gây

hại chủ yếu trên cây có múi

Trần Đình Phả và cộng sự (2008)[11] nghiên cứu về sự phân bố của bọ

phấn trắng Bemicia tabaci nhận định rằng: mật độ trưởng thành bọ phấn ở

vùng đồng bằng cao nhất, thứ hai là trung du và ở miền núi là thấp nhất

2.3.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của bọ phấn

Để khắc phục những khó khăn do ảnh hưởng của côn trùng đến năng suất, phẩm chất và giá trị kinh tế của cây có múi, các nhà khoa học Việt Nam

đã điều tra xác định loài dịch hại nói chung, sâu hại chủ yếu nói riêng, đồng thời nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài sâu hại chính trên cây có múi, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về chúng và qua đó đề xuất biện pháp thích hợp để phòng và trừ chúng

Trần Đình Phả, Viện Bảo vệ thực vật (2005)[12] khi nghiên cứu về đặc

điểm sinh học, sinh thái của bọ phấn Trialeurodes vaporariorum Westwood (Homoptera: Aleyrodidae) và ong ký sinh Encarsia formosa Gahan

(Hymenoptera: Aphelinidae) trong điều kiện ở Hàn Quốc có nhận xét:

- Bọ phấn Trialeurodes vaporariorum Westwood là loài sâu hại nhiều

Trang 32

loại cây cảnh và cây rau trong nhà lưới trên khắp thế giới Bọ phấn không những gây hại trực tiếp mà còn truyền bệnh virus cho cây trồng

- Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của bọ phấn Trialeurodes

vaporariorum Westwood ở pha trứng và ấu trùng là 250C Nhiệt độ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của bọ phấn Nhiệt độ không đổi 250C và nhiệt độ dao động trong phòng 18,6-29,40C là tối ưu cho tỷ lệ sống của bọ phấn ở pha trứng, ấu trùng, “nhộng giả”

Lê Thị Liễu, Trần Đình Chiến (2005)[8] khi nghiên cứu về đặc điểm

sinh vật học của bọ phấn trắng Bemisia tabaci đã đưa ra kết luận: các pha phát

dục của bọ phấn hoàn toàn ở mặt sau của lá cây, gây hại ở các pha sâu non và trưởng thành Nhiệt độ có ảnh hưởng đến các pha của bọ phấn

Cũng nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của bọ phấn trắng Bemisia

tabaci, Trần Đình Phả [11] nhận xét: thời gian phát dục bọ phấn ở các giai

đoạn trước trưởng thành kéo dài 19,75 ngày Khả năng sinh sản của bọ phấn trắng trung bình qua 3 đợt nuôi là 89,7 trứng/cái Thời gian đẻ trứng kéo dài trung bình 6,7 ngày Khả năng sống sót của giai đoạn trước trưởng thành là 81,25%

Lê Quang Khải (2008)[5] khi nghiên cứu về loài bọ phấn đen, đã chỉ ra đặc điểm sinh học của loài bọ phấn:

- Vòng đời trung bình của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance

là 68.21±1.61ngày ở nhiệt độ là 24.5 oC và ẩm độ là 81%.Nhiệt độ và ẩm độ càng tăng lên thì vòng đời của bọ phấn lại giảm đi Cũng ở mức nhiệt độ là 24.5 oC và ẩm độ là 81% thì số trứng TB/con cái là 65.97±4.53quả và tỉ lệ nở

là 84.89%

- Vòng đời Trung bình của bọ phấn Aleurocanthus woglumi Ashby là

66.26±1.84 ngày ở nhiệt độ là 24.5 oC và ẩm độ là 81%.Nhiệt độ và ẩm độ càng tăng lên thì vòng đời của bọ phấn lại giảm đi Cũng ở mức nhiệt độ là 24.5 oC và ẩm độ là 81% thì số trứng TB/con cái là 102.89±5.78 quả và tỉ lệ

Trang 33

nở là 77.17%

Theo Lê Thị Tuyết Nhung (2008)[9], việc giám định tên loài và đặc điểm nhận dạng loài là rất quan trọng Tác giả cũng đã đưa ra đặc điểm nhận dạng của 4 loài bọ phấn:

- Aleurocanthus spiniferus: ấu trùng và nhộng có màu tối đen, ấu trùng

thường có tuyết tiết chất sáp ở mép cơ thể Mặt lưng có tuyến lông mập, lông

ở đốt bụng thứ I phân bố khá dầy, phần mép ngoài và trên lưng có cấu trúc hình đĩa xếp thành hàng Lỗ miệng dạng mạch gần giống hình trái tim, bao bọc lấy nắp mang và thuỳ lưỡi Gần mép cơ thể có 11 đôi lông nhọn xếp thành hàng, mép ngoài cơ thể có hình răng cưa

- Aleurocanthus indicus: nhộng thon dài, trong mờ có màu hơi vàng,

mép có hình răng cưa Đốt bụng VII tiêu giảm nhẹ ở phần giữa, gần mép ngoài cơ thể và mép lưng có 15 đôi lông dạng lưỡi mác hoặc gai xếp thành hàng Lỗ miệng dạng mạch hình trái tim

- Aleyroides proletella: Aleyroides Latreille là giống được phát

hiện lần đầu tiên ở Việt Nam Lớp cutin có màu nhạt đến tối mờ, trên lưng có đường vân nhỏ, mép cơ thể có hình răng cưa nông, nhìn rõ lỗ cơ thể ở mép ngực Đường khớp nối cơ ngang không tiến đến mép cơ thể, có lông ở đốt bụng I, VIII và phần đuôi cơ thể, gần mép cơ thể có một hàng lông mảnh đôi khi có những đôi lông lớn ở cả trên mép lưng Đốt bụng thứ VII không thu hẹp ở giữa Lỗ miệng dạng mạch hình tam giác hơi tròn đến hình trái tim, nắp mang hình thang chiếm ½ diện tích của lỗ miệng, thuỳ lưỡi tương đối đậm màu, phần đầu có gai tương đối rõ, có 1 đoói lông dài ở phía ngoài lỗ miệng, nếp nhăn ở phần cuối đuôi của cơ thể không có hoặc rất mờ

- Dialeurolonga rusostigmoides: lớp cutin màu vàng nhạt, cơ thể hình

oval rộng, rộng nhất là phần ngực sau, có lông ở phần trước và phần sau cơ thể, có vết lõm hình lỗ ở phần đuôi và lỗ thở ở mép ngực cơ thể

Trang 34

2.3.4 Nghiên cứu về thiên địch của bọ phấn

Nguyễn Văn Liêm, Viện Bảo vệ thực vật (2008)[7] đã nghiên cứu về thành phần và vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng mật độ bọ phấn

gai đen Aleurocanthus spiniferus Quaintance hại cây ăn quả có múi Kết quả

nghiên cứu trên cam Canh và bưởi Diễn tại vùng Từ Liêm, Hà Nội cho thấy:

Bọ phấn gai đen thường xuyên có mặt gây hại trên cam và bưởi trong tất cả các kỳ điều tra nhưng có mật độ không cao Các nghiên cứu còn cho thấy bọ phấn gai đen là đối tượng rất phổ biến trên cam, bưởi và sự gây hại của chúng rất đáng kể Do vậy, cần phải có biện pháp phòng trừ thích hợp trong những trường hợp cần thiết

Nguyễn Văn Liêm, Viện Bảo vệ thực vật (2008)[7] cũng đã tìm thấy kẻ thù tự nhiên của bọ phấn gai đen gồm có 7 loài:

- Bọ rùa nhỏ (Scymnus sp.), họ Coccinellidae: Coleoptera

- Ruồi bắt mồi, họ Syrphidae: Diptera

- Bọ mắt vàng (Chrysopa sp.), họ Chrysopidae: Neuroptera

- Ong đen (Prospaltella sp.), họ Encyrtidae: Hymenoptera

- Ong đen nhỏ (Ablerus sp.), họ Aphelinidae: Hymenoptera

- Nấm vàng mắt cua (Aschersonia confuens Henn), họ Nectrioidaceae:

Sphaeropsidales

- Nấm vàng mắt cua (Aschersonia flava Petch), họ Nectrioidaceae:

Sphaeropsidales

Tỷ lệ BPGĐ bị ký sinh trên cam Canh và bưởi Diễn vùng Từ Liêm –

Hà Nội: Các loài ong ký sinh trên BPGĐ gây hại trên cam và bưởi cũng thường xuyên có mặt tuy tỷ lệ ký sinh không cao, trên cam tỷ lệ này biến động từ 6,0 đến 28,62% còn trên bưởi là từ 10,0 đến 48,56% [7]

Trang 35

Diễn biến mật độ một số loài bắt mồi ăn thịt của BPGĐ trên cam Canh

và bưởi Diễn ở vùng Từ Liêm, Hà Nội

- Kết quả điều tra diễn biến mật độ của bọ rùa nhỏ Scymnus sp và bọ mắt vàng Chrysopa sp ăn thịt BPGĐ trên cam Canh và bưởi Diễn ở vùng Từ

Liêm, Hà Nội cho thấy: Mặc dù bọ mắt vàng và bọ rùa nhỏ là các loài bắt mồi hay gặp trên trên quần thể BPGĐ trên cam và bưởi nhưng mật độ của chúng thường rất thấp Bọ mắt vàng chỉ đạt 0,02 đến 0,23 con/chồi, bọ rùa nhỏ chỉ đạt từ 0,02 đến 0,45 con/chồi và trong nhiều kỳ điều tra không ghi nhận sự hiện diện của chúng (Nguyễn Văn Liêm, Viện Bảo vệ thực vật, 2008)[7]

Trần Đình Phả (2005)[12] đã nghiên cứu về ong Encarsia formosa Gahan ký sinh trên bọ phấn Trialeurodes vaporariorum

- Ong Encasia formosa là ong ký sinh sâu non của bọ phấn Thời gian

phát triển của ong ký sinh từ khi trứng được đẻ vào vật chủ đến khi vật chủ trở thành xác đen kéo dài 10-11 ngày ở nhiệt độ 250C & 300C Thời gian này đạt tới 14,5 ngày ở nhiệt độ 200C và 28,9 ngày ở nhiệt độ 150C Khi nuôi

nhân hàng loạt ong E fomosa được tiến hành trong điều kiện phòng có điều

hòa nhiệt độ ở nhiệt độ phòng không đổi 250C

- Nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ ký sinh của ong E fomosa Số

lượng xác đen (sâu non bọ phấn bị ong ký sinh) thu được nhiều nhất ở nhiệt

độ 250C Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy một ong trưởng thành cái có khả năng ký sinh được từ 8,7 đến 35,0 sâu non bọ phấn

- Trong thí nghiệm đã quan sát thấy hiện tượng ong ký sinh còn ăn

thịt cả ký chủ bọ phấn trắng Như vậy, ong Encarsia fomosa Gahan vừa là ký

sinh vừa là loài ăn thịt bọ phấn trắng

- Ảnh hưởng của mật độ ấu trùng bọ phấn đến tỉ lệ ký sinh của ong

Encasia formosa được tiến hành thí nghiệm với công thức thả ong ký sinh với

tỉ lệ 1 ong ký sinh trên 50 ký chủ cho tỷ lệ ong ký sinh thu được là 9,9% và tỷ

Trang 36

lệ trưởng thành bọ phấn thu được là 7,4% Ong E formosa vừa là ký sinh lại

vừa là bắt mồi ăn thịt Bởi vậy trong nuôi nhân ong ký sinh hàng loạt thường dùng công thức thả 1 ong trên 100 ký chủ Công thức này cho tỷ lệ sâu non bị ong ký sinh thu được cao và cho tỷ lệ bọ phấn trắng xuất hiện dưới 50%, tỷ suất nhân đạt 26,2%

Như vậy, thành phần thiên địch của BPGĐ ở vùng Từ Liêm, Hà Nội tương đối nghèo nàn Trong đó, loài ong và loài bọ rùa nhỏ là những thiên địch phổ biến hay bắt gặp nhất trên quần thể BPGĐ (Trần Đình Phả, Viện Bảo vệ thực vật, 2005)[12]

2.3.5 Nghiên cứu biện pháp hoá học phòng trừ bọ phấn

Với việc phát triển mạnh mẽ, biện pháp hoá học đã kéo theo nhiều hậu quả không mong muốn như ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người, gây ô nhiễm môi trường, phát triển tính chống thuốc của dịch hại, tiêu diệt thiên địch, phá vỡ mối cân bằng sinh thái, gây ra sự bùng phát về số lượng dịch hại (Nguyễn Đình Thông, 2006)[13]

Ngoài ra, thuốc bảo vệ thực vật còn gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, động vật và môi trường Chi phí bảo vệ thực vật tăng làm giảm hiệu quả sản xuất, năng suất cây trồng bị đe doạ thường xuyên (Nguyễn Đình Thông, 2006)[13]

Năm 2003, Viện Bảo vệ thực vật [20] đã hợp tác với Trường Đại học Tây Sydney nghiên cứu sử dụng dầu khoáng trong phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây ăn quả có múi ở Việt Nam Trong đó nêu ra kỹ thuật dầu khoáng

phòng trừ bọ phấn gai đen Aleurocanthus spiniferus Phun kỹ thuật dầu

khoáng với nồng độ 70 – 100ml dầu trong 10 lít nước, nếu không dùng các dầu phun khác Phun 2 tháng một lần Mặt khác có thể dùng 40 – 50ml dầu khoáng trong 10 lít nước

Lê Thị Liễu, Trần Đình Chiến (2005)[8] nghiên cứu phòng trừ bọ phấn

Trang 37

Bemisia tabaci bằng thuốc hoá học Thuốc Pegasus 500SC, dầu khoáng SK

EN 99 nồng độ 0,1% và 0,2% đều trừ được bọ phấn ở thời kỳ sâu non, nhộng

và trưởng thành Sử dụng dầu khoáng SK EN 99 nồng độ 0,2% hiệu lực trừ

bọ phấn cao tương đương với sử dụng thuốc Pegasus 500SC nồng độ 0,1%

Nguyễn Thị Thu Cúc (2002)[2] đưa ra khuyến cáo: việc sử dụng thuốc hợp lý nhằm bảo vệ thiên địch của bọ phấn trắng là yếu tố rất quan trọng trong công tác quản lý bọ phấn trắng trên cam quýt Khi sự thiệt hại trở nên đáng kể, có thể sử dụng các loại thuốc như Supracide, Sherpa, Sevin, Trebon, Sagomycin, Confidor, Selecron để phòng trị Tốt nhất là sử dụng dầu khoáng để phòng trị

Trang 38

3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2008 đến tháng 06/2009

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm điều tra tại các vườn trồng cây có múi ở Gia Lâm, Từ Liêm, Hà Nội

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của bọ phấn và loài ong chính trong phòng thí nghiệm của Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

3.1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Cây có múi tại địa điểm nghiên cứu: cam canh, cam Vinh, bưởi Diễn

- Bọ phấn họ Aleyrodidae và ong ký sinh chúng

3.1.4 Vật liệu nghiên cứu

- Dụng cụ thu mẫu: túi nilon đựng mẫu, hộp nhựa đựng mẫu loại lớn (20x20x10) cm, lọ đựng mẫu, cồn 700, bút lông, kéo

- Dụng cụ nuôi sinh học: hộp nuôi sâu (loại lớn, nhỏ), kẹp nuôi sâu, xốp cắm hoa khoảng 3x3x1.5cm, bông y tế, ống nghiệm, giấy thấm nước, bút lông, bút và sổ ghi số liệu, kính lúp, kính hiển vi, thước đo, ôn ẩm kế theo dõi nhiệt ẩm độ trong phòng

- Cấu tạo kẹp nuôi sâu: Kẹp được cấu tạo gồm 2 phần: Phần trụ lớn và phần trụ nhỏ được làm bằng ống nước nhựa, ghép giữa phần trụ lớn và nhỏ bằng một loại kẹp sắt Phần đáy của trụ lớn được dán lưới với mắt lưới rất nhỏ

Trang 39

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra xác định thành bọ phấn (họ Aleyrodidae: Homoptera) hại trên cây

có múi và ong ký sinh chúng tại vùng nghiên cứu

- Xác định đặc điểm hình thái, sinh học và biến động mật độ của loài bọ

phấn chính (Aleurocanthus spiniferus Quaintance) hại cây có múi

- Xác định đặc điểm sinh học sinh thái học của ong ký sinh Encarsia

opulenta Silvestri

- Bước đầu đề xuất biện pháp bảo vệ, khích lệ ong kí sinh Encarsia

opulenta trong phòng chống bọ phấn

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra ngoài ruộng

3.3.1.1 Phương pháp điều tra, thu thập mẫu, bảo quản mẫu được tiến hành theo qui định tiêu chuẩn Việt Nam năm 2002 và Viện Bảo vệ thực vật năm 1997

- Phương pháp thu thập mẫu bọ phấn và thiên địch của chúng

- Thu thập bọ phấn và thiên địch của chúng đặc biệt là ong kí sinh

Encarsia opulenta có mặt trực tiếp trên lá cây, cho vào túi nilon (đối với bọ

phấn), cho vào lọ nhựa nhỏ đối với ong kí sinh Encarsia opulenta mang về

phong thí nghiệm Mẫu thu được cho vào lọ đựng mẫu chứa cồn 70o, ngoài lọ

có nhãn ghi đầy đủ các thông tin: Thời gian thu mẫu, địa điểm thu mẫu, giống cây trồng, ngày thu mẫu Sau đó đem giám định phân loại dưới sự hướng dẫn của GS TS NGƯT Hà Quang Hùng

- Thu ong kí sinh bằng ống hút về nuôi sinh học trên giá thể trong phòng thí nghiệm

Trang 40

3.3.1.2 Phương pháp điều tra tình hình gây hại và biến động mật độ của bọ phấn (họ Aleyrodidae: Homoptera) hại cây có múi và tình hình kí sinh của ong Encarsia opulenta

- Điều tra định kì 7 ngày 1 lần, tại mỗi khu vực nghiên cứu tiến hành điều tra trên 3 khu vườn cây có múi cố định, mỗi khu vườn điều tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm lấy một cây, mỗi cây điều tra theo 3 tầng, 4 hướng, mỗi hướng lấy một cành ngẫu nhiên, mỗi cành lấy 10 lá ngẫu nhiên Đếm trực tiếp số lá có bọ phấn và ong kí sinh Số lượng bọ phấn và ong kí sinh cần nghiên cứu ghi nhận vào bảng điều tra

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng

3.3.2.1 Nghiên cứu các đặc điểm hình thái loài bọ phấn Aleurocanthus spiniferus

- Quan sát đặc điểm hình thái ở các pha phát dục của bọ phấn dưới kính lúp soi nổi và kính hiển vi, đo kích thước của từng pha phát dục với số lượng (n≥30)

3.3.2.2 Nhân nuôi bọ phấn Aleurocanthus spiniferus làm kí chủ cho nghiên cứu ong kí sinh Encarsia opulenta

- Lấy mẫu bọ phấn ngoài ruộng, sau đó để ẩm cho trưởng thành bọ phấn vũ hoá, bắt một cặp trưởng thành bọ phấn (gồm 1 đực và 1 cái) thả vào kẹp nuôi có bổ sung mật ong nguyên chất Sau khi trưởng thành cái đẻ trứng, tiếp tục nuôi trong lồng cho đến khi trứng nở, sâu non tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3,

nhộng để làm kí chủ cho ong kí sinh Encarsia opulenta

- Nuôi cá thể: Sau khi trưởng thành bọ phấn Aleurocanthus spiniferus

đẻ trứng trong kẹp nuôi sâu thì giữ lại 1 trứng để nuôi tiếp ra sâu non tuổi 1, tiếp tục ra tuổi 2, 3, nhộng và trưởng thành

Ngày đăng: 09/05/2022, 12:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Danh mục bảng vii - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
anh mục bảng vii (Trang 4)
t: Tra bảng Student ở mức tin cậy 95%, bậc tự do N-1 N: Dung lượng mẫu thớ nghiệm - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
t Tra bảng Student ở mức tin cậy 95%, bậc tự do N-1 N: Dung lượng mẫu thớ nghiệm (Trang 44)
Bảng 4.1. Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae: Homoptera hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 - 2009 tại Gia Lõm, Hà Nội - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.1. Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae: Homoptera hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 - 2009 tại Gia Lõm, Hà Nội (Trang 45)
4.1.2. Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 – 2009 tại Từ Liờm, Hà Nội - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
4.1.2. Thành phần bọ phấn họ Aleyrodidae hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 – 2009 tại Từ Liờm, Hà Nội (Trang 46)
Bảng 4.3. Thành phần ong ký sinh trờn bọ phấn họ Aleyrodidae hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 – 2009 tại Gia Lõm, Hà Nội - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.3. Thành phần ong ký sinh trờn bọ phấn họ Aleyrodidae hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 – 2009 tại Gia Lõm, Hà Nội (Trang 54)
Bảng 4.4. Thành phần ong ký sinh trờn bọ phấn họ Aleyrodidae hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 – 2009 tại Từ Liờm, Hà Nội - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.4. Thành phần ong ký sinh trờn bọ phấn họ Aleyrodidae hại cõy cú mỳi vụ Đụng Xuõn 2008 – 2009 tại Từ Liờm, Hà Nội (Trang 55)
Bảng 4.5. Diễn biến mật độ bọ phấn A.spiniferus dưới ảnh hưởng của kỹ - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.5. Diễn biến mật độ bọ phấn A.spiniferus dưới ảnh hưởng của kỹ (Trang 57)
Qua bảng số liệu 5: Mật độ của bọ phấn trồng xen canh cao hơn so với mật độ bọ phấn trờn kỹ thuật trồng độc canh, tại thời điểm cao nhất 9/9/2008  mật  độ bọ phấn  ở  những  ruộng  trồng  xen  là  4,63  con/lỏ  vào  ngày  9/9/2008 - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
ua bảng số liệu 5: Mật độ của bọ phấn trồng xen canh cao hơn so với mật độ bọ phấn trờn kỹ thuật trồng độc canh, tại thời điểm cao nhất 9/9/2008 mật độ bọ phấn ở những ruộng trồng xen là 4,63 con/lỏ vào ngày 9/9/2008 (Trang 58)
Bảng 4.6. Diễn biến mật độ bọ phấn A.spiniferus trờn cam Canh và bưởi - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.6. Diễn biến mật độ bọ phấn A.spiniferus trờn cam Canh và bưởi (Trang 59)
Qua bảng 7 và đồ thị hỡnh 17 chỳng tụi thấy, mật độ bọ phấn đen viền trắng cú gai đạt cao nhất vào thỏng 4 và thỏng 5 ở thời kỳ quả non và quả vào  nước - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
ua bảng 7 và đồ thị hỡnh 17 chỳng tụi thấy, mật độ bọ phấn đen viền trắng cú gai đạt cao nhất vào thỏng 4 và thỏng 5 ở thời kỳ quả non và quả vào nước (Trang 60)
Bảng 4.7. Diễn biến mật độ bọ phấn A.siniferus Quaintance trờn bưởi - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.7. Diễn biến mật độ bọ phấn A.siniferus Quaintance trờn bưởi (Trang 61)
Bảng 4.8. Kớch thước cỏc pha phỏt dục của bọ phấn - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.8. Kớch thước cỏc pha phỏt dục của bọ phấn (Trang 63)
Bảng 4.9. Thời gian phỏt dục cỏc pha của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance (n=30) - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.9. Thời gian phỏt dục cỏc pha của bọ phấn Aleurocanthus spiniferus Quaintance (n=30) (Trang 64)
Bảng 4.10. Khả năng đẻ trứng của bọ phấn A.spiniferus Quaintance - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.10. Khả năng đẻ trứng của bọ phấn A.spiniferus Quaintance (Trang 67)
Bảng 4.11. Tỷ lệ trứng nở của bọ phấn A.spiniferus Quaintance - NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ PHẤN HẠI CÂY CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ PHẤN ĐEN VIỀN TRẮNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 TẠI HÀ NỘI
Bảng 4.11. Tỷ lệ trứng nở của bọ phấn A.spiniferus Quaintance (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w