Một trong những nhân tố làm nên thành công rực rỡ của công cuộc Duy tân Minh Trị đó là Nhật Bản đã thực hiện phương châm “kỹ thuật phương Tây – tư tưởng phương Đông” trong cải cách, từ đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đà Nẵng, 5/2014
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Cấu trúc của đề tài 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 CÔNG CUỘC MINH TRỊ DUY TÂN Ở NHẬT BẢN (1868 - 1912) 7
1.1 Khái quát tình hình thế giới và Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XIX 7
1.1.1 Tình hình thế giới nửa đầu thế kỉ XIX 7
1.1.2 Tình hình Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XIX 8
1.1.2.1 Sự suy thoái của chính quyền Tukugawa 8
1.1.2.2 Sự xuất hiện của các yếu tố mới 12
1.2 Khái quát công cuộc Duy tân Minh Trị của Nhât Bản (1868 - 1912) 14
1.2.1 Kinh tế 14
1.2.2 Chính trị 15
1.2.3 Văn hóa – Giáo dục 16
1.3.4 Quân sự 17
1.2.5 Kết quả 17
Chương 2 “KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY – TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG” TRONG CÔNG CUỘC MINH TRỊ DUY TÂN (1868 - 1912) Ở NHẬT BẢN 19
2.1 Điều kiện để thực hiện “Kỹ thuật Phương Tây – Tư tưởng Phương Đông” trong Minh Trị Duy tân 19
2.1.1 Điều kiện chủ quan 19
Trang 32.1.1,1 Cơ sở kinh tế 19
2.1.1.2 Cơ sở xã hội 22
2.1.1.3 Văn hóa truyền thống 25
2.1.2 Điều kiện khách quan 27
2.1.2.1 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nửa đầu thế kỉ XIX 27
2.1.2.2 Quan hệ Nhật Bản với phương Tây nửa đầu thế kỉ XIX 29
2.2 Việc thực hiện phương châm “Kỹ thuật Phương Tây – Tư tưởng Phương Đông” trong cải cách Minh Trị Duy tân (1868 - 1912) 32
2.2.1 Thuê chuyên gia nước ngoài và cử học sinh du học 32
2.2.2 Chính Trị 35
2.2.2.1 Hiến pháp Minh Trị năm 1889 35
2.2.2.2 Thể chế chính trị và nguyên tắc tam quyền phân lập 37
2.2.2.3 Tổ chức chính quyền trung ương 39
2.2.3 Giáo dục 42
2.2.3.1 Tư tưởng chủ đạo trong giáo dục 42
2.2.3.2 Vấn đề giáo dục đạo đức và văn hóa truyền thống 44
2.2.3.3 Việc giảng dạy tiếng Nhật 46
2.2.4 Văn hóa 48
2.2.5 Quân sự 53
2.3 Nhận xét, đánh giá 57
2.3.1 Sự nhạy bén trong tiếp nhận thành tựu văn minh 57
2.3.2 Tính chọn lọc trong học tập văn minh phương Tây 57
2.3.3 Vai trò của yếu tố văn hóa truyền thống 58
2.3.4 Một số hạn chế 60
2.3.5 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 60
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vào giữa thế kỉ XIX, Chủ nghĩa tư bản phương Tây ồ ạt xâm nhập vào phương Đông Các quốc gia phương Đông đều đứng trước những thách thức vô cùng to lớn: hoặc bị xâm chiếm biến thành các nước thuộc địa, hoặc từng bước trở thành các nước phụ thuộc, hoặc phải ký với phương Tây các hiệp ước bất bình đẳng Trước làn sóng xâm lược mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dân phương Tây, hầu hết các nước châu Á đều thực thi chính sách “đóng cửa” tuyệt giao để
tự vệ Trong bối cảnh đó, đã xuất hiện một số trường hợp đặc biệt Nhật Bản, với khát khao về một nền độc lập, về một sức mạnh quốc gia đã thôi thúc nước này phải tìm ra một hướng đi mới, nhìn ra thế giới bên ngoài, học hỏi kinh nghiệm,
tri thức tiến bộ của phương Tây để làm cho quốc gia, dân tộc mình “phú quốc,
cường binh”
Đứng trước xu thế phát triển mới của thời đại, Nhật Bản đã tiến hành công cuộc Duy tân Minh Trị (1868 - 1912) đưa đất nước tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa Có thể nói, công cuộc Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt, tạo cho Nhật Bản một sức mạnh nội lực để vượt ra khỏi bốn bức tường khép kín, lạc hậu ở phương Đông và bước vào hàng ngũ các nước
tư bản phương Tây Minh Trị Duy tân là một bước ngoặt vĩ đại trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Nhật Bản, đánh dấu một giai đoạn thần kỳ của đảo quốc này Với Minh Trị Duy tân đã đưa Nhật Bản trở thành cường quốc đầu tiên
ở châu Á, đồng thời là bước đệm cho Nhật Bảntrên những chặng đường tiếp theo
Một trong những nhân tố làm nên thành công rực rỡ của công cuộc Duy tân Minh Trị đó là Nhật Bản đã thực hiện phương châm “kỹ thuật phương Tây – tư tưởng phương Đông” trong cải cách, từ đó chủ trương tiếp thu có chọn lọc những thành tựu về khoa học kỹ thuật, giáo dục, quân sự… của các nước tư bản phương Tây, đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm về tính cách và truyền thống
Trang 5củacon người Nhật Bản trong từng lĩnh vực của công cuộc canh tân đất nước Chính vì vậy, với cuộc cải cách Minh Trị, Nhật Bản vừa học tập và đuổi kịp văn minh phương Tây vừa tạo nên sự kết hợp độc đáo giữa truyền thống dân tộc với việc tiếp thu những thành tựu bên ngoài, đưa Nhật Bản bước vào kỷ nguyên phát triển thần kỳ của đất nước, đó chính là kỷ nguyên Minh Trị (1868 - 1912) Vì vậy, nghiên cứu về phương châm “kỹ thuật phương Tây – tư tưởng phương Đông” trong cuộc Duy tân Minh Trị là một điều hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trong thời đại toàn cầu hóa và và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam hay bất cứ một quốc gia nào trong quá trình phát triển đều phải tiếp nhận thành tựu văn minh bên ngoài để xây dựng đất nước Vấn đề là ở chỗ phương cách tiếp thu những thành tựu văn minh đó như thế nào để vừa phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc vừa phát triển kịp với các nước văn minh, tiên tiến nhất trên thế giới
Với những lý do đó, chúng tôi chọn vấn đề: “kỹ thuật phương Tây – tư
tưởng phương Đông” trong công cuộc Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản (1868 - 1912) làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Minh Trị Duy tân là một trong những sự kiện quan trọng của Lịch sử Nhật Bản, đưa Nhật Bản từ một nước Phong kiến lạc hậu trở thành một cường quốc trên thế giới sách ngang với các nước Tư bản Âu – Mĩ Để có được bước nhảy vượt bật đó thì kỹ thuật phương Tây và tính cách Nhật Bản như một nhân tố quan trọng làm nên thành công của cuộc cải cách Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về việc vận dụng công nghệ phương Tây cùng kết hợp với văn hóa truyền thốngcủa Nhật Bản trong cuộc Minh Trị Duy tân Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu chúng tôi đã tìm thấy một số nghiên cứu có liên quan đến vấn đề như sau:
Trong cuốn Lịch sử Nhật Bản do Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cập đến
Trang 6một số điểm cho thấy việc học tập đó mang màu sắc riêng của Nhật Bản Tuy nhiên, công trình này chưa đi sâu và chưa có cái nhìn cụ thể về việc vận dụng kỹ thuật phương Tây và tư tưởng của người Nhật trong cải cách
Tác giả Nguyễn Văn Kim trong tác phẩm Nhật Bản Với Châu Á – Những
Mối Liên hệ Lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội cũng nhắc tới việc phái đoàn
Nhật Bản tìm hiểu, học tập phương Tây cũng như khẳng định việc tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở phù hợp với truyền thống của Nhật Bản Công trình này cũng chưa đưa ra được những minh chứng cụ thể về việc vận dụng kỹ thuật Phương Tây và tư tưởng Phương Đông trong cuộc cải cách Minh Trị
Tác giả Nguyễn Văn Hoàn trong tác phẩm Nhật Bản trong dòng chảy lịch
sử cận thế cũng đề cập tới chủ trương học tập văn minh phương Tây kết hợp với
các yếu tố truyền thống để canh tân đất nước Tuy nhiên, công trình này cũng chưa đi sâu khai thác vào các lĩnh vực cụ thể về việc học tập văn minh phương Tây kết hợp với truyền thống văn hóa của con người Nhật Bản
Trong cuốn Tại sao Nhật Bản thành công? Công nghệ phương Tây và tính
cách Nhật Bản của tác giả Michio Morishim đã nêu lên vai trò của công nghệ
phương Tây kết hợp với tính cách của người Nhật làm nên sự thành công thần kỳ cuả Nhật Bản Nhưng sự kết hợp đó vẫn chưa được hệ thống hóa một cách cụ thể
Hay trong một số bài nghiên cứu của các tập chí như: trên tạp chí nghiên
cứu Đông Bắc Á số 12 (12-2007) có bài Tác động của yếu tố nước ngoài đối với
Nhật Bản thời Minh Trị, bài viếtMôhình phát triển của Âu – Mỹ và Nhật Bản
đăng trên Tạp chí VHNT số 322, tháng 4-2011, bài viết Sự phát triển của Nhật
Bản thời cận đại – nhìn từ quan điểm địa văn hóa của Tiến sĩ Đinh Thị Dung
được đăng trong Kỉ yếu hội thảo toàn quốc về văn minh Nhật Bản - Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, bài
viết Về cách thức tiếp nhận văn minh bên ngoài của Nhật Bản của PGS TS
Nguyễn Tiến Lực cũng nhắc đến việc tiếp thu khoa học kỹ thuật của phương Tây
Trang 7trong cải cách Minh Trị và đặc biệt nói đến tính cách văn hóa của người Nhật trong việc tiếp nhận thành tựu kĩ thuật từ các nước Âu – Mĩ
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này
như: Luận văn Thạc sĩ Quan hệ Nhật Bản với các nước phương Tây thời
Tokukawa (1603 - 1868) của Trần Văn Đạt; Khóa Luận tốt nghiệp Giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912) của Nguyễn Thị Hoàn; Khóa luận tốt
nghiệp Bộ máy hành chính của Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912) của Lê Thị
Bích Thảo… đây là những công trình có liên quan đến vấn đề tiếp thu văn minh phương Tây của Nhật Bản trong cuộc Duy tân Minh Trị nhưng chưa đi vào cụ thể, làm rõ dấu ấn của Nhật Bản trong việc tiếp thu đó
Mặc dù đã có các công trình, bài viết nghiên cứu về việc vận dụng kỹ thuật phương Tây – tư tưởng phương Đông của Nhật Bản Nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về việc vận dụng kỹ thuật phương Tây – tư tưởng phương Đông trong công cuộc cải cách Duy tân Minh Trị (1868 - 1912) của Nhật Bản
Thông qua đó tác giả muốn giúp cho người đọc nhận diện một cách chân thực, khách quan về việc vận dụng kĩ thuật phương Tây nhưng không phải là sự vận dụng hoàn toàn mà là sự tiếp nhận có chon lọc, mang màu sắc của Nhật Bản
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc vận dụng văn minh phương Tây vào công cuộc cải cách Minh Trị (1868 – 1912), trong đó đi sâu vào nghiên cứu sự kết hợp
Trang 8giữa văn hóa truyền thống của Nhật Bản với việc sử dụng văn minh Phương Tây trong quá trình cải cách đất nước qua các lĩnh vực
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đề cập đến “Kỹ thuật phương Tây – tư tưởng Phương Đông” trong cuộc cải cách của Minh Trị ở Nhật Bản giai đoạn 1868 – 1912, được thể hiện trong các lĩnh vực đời sống xã hội Trong đó trọng tâm của đề tài là nghiên cứu
sự kết hợp giữa đặc điểm và truyền thốngvăn hóa của Nhật Bản với những thành tựu tiến bộ của nền văn minh phương Tây trong công cuộc Minh Trị Duy tân, để tạo nên bước tiến nhảy vọt của Nhật Bản trong thời kỳ này
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp chính của chuyên ngành Lịch sử như: phương pháp logic, phương pháp lịch sử kế hợp với
sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp, thống kê, mô tả, so sách, đối chiếu…
sử dụng các phương pháp và thao tác đó, chúng tôi thực hiện đề tài theo ba bước sau:
Bước một: Sưa tầm và tìm kiếm tài liệu Sau khi xác định tên, đối tượng và giới hạn của đề tài, chúng tôi tiến hành sưu tầm các tài liệu có liên quan như: sách, tập chí nghiên cứu về Nhật Bản và quan hệ của Nhật Bản Thực hiện điều này chúng tôi tìm kiếm và sử dụng các tài liệu được lưu trữ tại thư viện Đại Học
Sư Phạm – ĐHĐN, Phòng Học liệu – Khoa Lịch sử - ĐH Sư Phạm – ĐHĐN, Thư viện Trường Đại Học Sư Phạm Huế, Phòng Học liệu – Khoa Lịch sử - ĐH
Sư Phạm Huế, Thư viện Đại Học Khoa Học Huế, Thư Viện Tổng Hợp Huế… Bước hai: Trên cơ sở những tài liệu thu thập, tìm kiếm được chúng tôi tiến hành phân tích để tổng hợp nên những nội dung quan trọng trong việc tiếp thu kỹ thuật phương Tây vận dụng cụ thể và phù hợp với tình hình Nhật Bản trong công cuộc cải cách của Thiên Hoàng Minh Trị, đồng thời đưa ra một số nhận xét đánh giá về vấn đề này
Bước ba; Sau Khi trình bày nội dung cụ thể của cuộc cải cánh Minh Trị Chúng tôi làm nổi bật lên việc tiếp thu kỹ thuật phương Tây trong cuộc cải cách
Trang 9đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề Nhật Bản tiếp thu của phương Tây nhưng lại để lại dấu ấn đậm nét của con người Nhật Bản qua các lĩnh vực khác nhau
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ giúp cung cấp nguồn tư liệu có tính hệ thống giúp cho chúng ta tái hiện được một cách chân thực và khách quan về việc tiếp thu văn minh phương Tây và dấu ấn của con người Nhật Bản trong cuộc Duy tân Minh Trị (1868 - 10912) Thông qua đó giúp người đọc hiểu hơn về công cuộc cải cách của Nhật Bản, thấy rõ được một trong những nhân tố làm nên thành công trong cuộc Minh Trị Duy tân là việc vận dụng, kết hợp khoa học, kỹ thuật phương Tây với văn hóa truyền thống của Nhật Bản Đồng thời nhận thức được tầm quan trọng cuộc Duy tân Minh Trị đối với tiến trình phát triển của đất nước trong dòng chảy lịch sử của Nhật Bản
Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu cũng là nội dung quan trọng trong học tập và giảng dạy lịch sử thế giới cận đại Vì vậy, việc hoàn thành đề tài còn là nguồn tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập, đối với sinh viên chuyên ngành Lịch sử, Đông Phương học và những ai quan tâm về vấn đề này
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm có hai chương:
Chương 1 Công cuộc Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản (1868 - 1912)
Chương 2 “Kỹ thuật Phương Tây – Tư tưởng Phương Đông” trong công cuộc Minh Trị Duy tân (1868 - 1912) ở Nhật Bản
Trang 10NỘI DUNG Chương 1 CÔNG CUỘC MINH TRỊ DUY TÂN Ở NHẬT BẢN
(1868 - 1912)
1.1 Khái quát tình hình thế giới và Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XIX
1.1.1 Tình hình thế giới nửa đầu thế kỉ XIX
Thắng lợi của cuộc cách mạng Nêđeclan (1566 - 1648) đã mở ra một trang mới của lịch sử nhân loài, là sự kiện đánh dấu mốc mở đầu cho thời kỳ cận đại của thế giới Tiếp sau cuộc cách mạng Nêđeclan, trên thế giới lần lượt bùng nổ cuộc cách mạng tư sản Anh vào thế kỉ XVII, chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ và cuộc cách mạng tư sản Pháp vào cuối thế kỉ XVIII Thắng lợi và ảnh hưởng của các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên này ngày một to lớn và sâu rộng trên phạm vi thế giới vào buổi đầu của thời cận đại
Cùng với sự bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản, từ cuối thế kỉ XVIII đến giữ thế kỉ XIX ở các nước Châu Âu đã có sự phát triển nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất, đặc biệt tại các nước Anh, Pháp, Đức cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu về kỹ thuật và công nghệ Đó là cuộc cách mạng nhằm cơ khí hóa nền sản xuất thay thế cho lao động thủ công, Nhằm tăng năng xuất lao động và củng cố nền tảng của chế độ mới
Cùng với sự phát triển và lan rộng của cách mạng tư sản trên phạm vi thế giới Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt các nước tư bản, nhiều trung tâm công nghiệp mới hình thành, thành thị đông dân xuất hiện, năng suất lao động tăng cao và ngày càng xã hội hóa quá trình lao động của chủ nghĩa
tư bản Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dần được hình thành và ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nhiều quốc gia trên thế giới
Tuy nhiên, cách mạng công nghiệp cũng dẫn đến việc hình thành và phân hóa hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản là tư sản công nghiệp và vô sản công nghiệp, làm nẩy sinh mâu thuẫn trong xã hội và các cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản không ngừng tăng lên Mặt khác, với sự phát triển cao về trình độ sản xuất thì nhu cầu về thị trường, nhân công, nguyên liệu, thuộc địa phục vụ cho
Trang 11nền kinh tế tư bản ngày càng cấp bách Chính điều này đã thôi thúc các nước tư bản phải tìm kiếm các vùng đất mới và tiến hành các cuộc xâm chiếm thuộc địa trong suốt thế kỉ XIX mà đối tượng là các nước châu Á, châu Phi và Mỹ - Latinh
Đến đầu thế kỉ XIX, về căn bản nền kinh tế của các nước châu Ấ vẫn là nền kinh tế tự nhiên, xây dựng trên nền tảng tiểu nông kết hợp với thủ công gia đình
Về chính trị, tình hình chính trị ở châu Á hết sức phức tạp, nhìn chung chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại nhưng trong giai đoạn khủng hoảng và suy thoái trầm trọng Trong xã hội thì thành phần chủ yếu là nông dân sống trong các làng mạc với các tập tục phong kiến lỗi thời Cũng như các nước châu Á, các quốc gia châu Phi và Mỹ - Latinh cũng nằm trong tình trạng lạc hậu, lỗi thời và ngày càng suy yếu
Trước tình hình đó, yêu một yêu cầu đặt ra với các nước châu Á, châu Phi
và Mĩ - latinh là phải nhanh chóng tìm ra một hướng đi mới cho dân tộc, để vừa bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại vừa đưa đất nước ra khỏi tình trạng bị xâm lược và nô dịch
Như vậy, đến nửa đầu thế kỉ XIX trong khi các nước tư bản phương Tây ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhu cầu về thị trường, thuộc địa ngày càng tăng thì ở các nước châu Á, châu Phi, Mỹ - Latinh lại rơi vào khủng hoảng, suy thoái.Vì vậy, các nước châu Á, châu Phi, Mỹ - Latinh trở thành đối tượng xâm nhập của các nướctư bản chủ nghĩa, cũng từ đây các quốc gia này đứng trước nguy cơ bị xâm nhập, cai trị, bóc lột của chủ nghĩa tư bản phương Tây
1.1.2 Tình hình Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XIX
1.1.2.1 Sự suy thoái của chính quyền Tukugawa
(1542-1616) vớ i tư cách là lãnh chúa lớn nhất Nhâ ̣t bản lúc bấy giờ đã sáng lâ ̣p ra triều
đa ̣i Tokugawa kéo dài 250 năm trong li ̣ch sử Nhâ ̣t Bản Tokugawa được Thiên Hoàng phong ban vào năm 1603
Trang 12Đây là mô ̣t triều đa ̣i ra đời trong hoàn cảnh đất nước bi ̣ giày xéo bởi nô ̣i chiến, quyền lực bi ̣ chia rẽ và thường xuyên bi ̣ tranh giành với các lãnh chúa quân sự, liên minh nông dân và các tổ chức nhà thờ Thiên Chúa Giáo “Trên
thực tế , dưới thời Tokugawa nước Nhật hầu như không có nội chiến và được hưởng một thời thanh bình có lẽ lâu dài nhất trong li ̣ch sử các dân tộc trên thế giới” [34, tr 52] Sau năm 1603, nhâ ̣t Bản trở thành mô ̣t quốc gia thống nhất Để
có được sự thống nhất đó Tokugawa Ieyasu bắt đầu được đă ̣t nền móng cho mô ̣t chính thể có kỉ cương và hiệu quả hơn bất kì m ột thời kì nào trước đó ở Nhâ ̣t Bản bằng việc thiết lập chế độ phong kiến theo hướ ng tâ ̣p quyền
Tokugawa Ieyasu khi nắm quyền lực điều hành quốc gia đã nhanh chóng đảm đương chức năng của mô ̣t chính phủ : kiểm soát công viê ̣c đối ngoa ̣i , tiền tê ̣, kiểm soát các tổ chức tôn giáo , quản lý phần lớn tài nguyên c ủa nước Nhật Cùng với việc sở hữu nguồn tài nguyên triều đình Tokugawa còn nắm các thành phố lớn ở Nhâ ̣t Bản và dời đô đến Edo (Tokyo ngày nay ), cho nên thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ Edo
Chế đô ̣ Ma ̣c Phủ được thi ết lập từ thời Kamakura (1185-1333), Minamoto Yoritomo đươ ̣c thiên hoàng phong làm Tướng quân vào năm 1192 Ông đã đă ̣t các võ sĩ của ông vào các chức vụ hành chính đồng thời thiết lập chế độ Mạc Phủ để thực sự cai trị toàn quốc Và trong lịch sử nước Nhật dưới thời Tokugawa chế đô ̣ Ma ̣c Phủ v ẫn được duy trì, tổ chức mô ̣t thể chế chính tri ̣ dựa trên sự hiê ̣n diê ̣n song song của hai guồng máy : bakufu, đứng đầu là Shogun Tokugawa ở trung ương và các daimyo cai tri ̣ các han ở đi ̣a phương
Chính quyền Tokugawa kiểm soá t toàn bô ̣ tầng lớp võ sĩ bằng chế độ Sankin Kotai, một chính sách lớn của Mạc phủ Tokugawa nhằm thâu tóm quyền lực về chính trị, kiểm soát hoạt động của các lãnh chúa đồng thời qua đó khẳng định lòng trung thành của các daimyo với tướng quân
Ngoài ra chính quyền Mạc Phủ cũng chia xã hội thành bốn đ ẳng cấp là: sĩ,
người làm r a của cải Công là thợ thủ công , được coi là những người sản xuất
Trang 13hạng hai Còn thương nhân đươ ̣c coi là nh ững người ăn bám do đó bi ̣ xếp ở ha ̣ng dưới cùng
Thời kì Tokugawa là giai đoa ̣n phát triển cuối cùng và cao nhất của chế đô ̣ phong kiến Nhâ ̣t Bản Tuy nhiên, từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX thì chế
đô ̣ Tokugawa Bakufu rơi vào sự khủng hoảng toàn diê ̣n và sâu sắc trên tất cả các
mă ̣t kinh tế, xã hội
“Tình trạng hủ bại , tham nhũng , hối lộ ngày càng tăng trong bộ máy Bakufu cũng như ở các Han Mặc dù nắm quyền sở hữu nhiều vùng đất rộng lớn
và màu mở , nhiều mỏ khoáng sản quan trọng cùng với những trung tâm thương mại lớn như Edo , Kobe, Nagasaki Thế nhưng Bakafu luôn rơi vào tình trạng bi ̣ thiếu hụt về tài chính” [22, tr.35] Để khắc phu ̣c tình tra ̣ng đó chính quyền và
các Daimyo thường xuyên tăng cường thuế khó a bóc lô ̣t nă ̣ng nề ngư ời nông dân Đây là đẳng cấp đông đảo và cũng bị áp bức nặng nề nhất nhất trong xã hô ̣i Bên ca ̣nh đó, chính quyền Bakufu đã vấp phải cuô ̣c đấu tranh của b ộ phận phú nông Phú nông là đi ̣a chủ mới , vừa kinh doanh mang tính chất phong kiến vừa có khuynh hướng phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa Mô ̣t mă ̣t ho ̣ chiếm đoa ̣t, áp bức từ những người nông dân nghèo , mặt khác ho ̣ cũng vấp phải sự chèn ép, kìm hãm từ phía ch ính quyền Bakufu Chính vì thế mâu thu ẫn của phú nông với Bakufu ngày càng gay gắt hơn Trong bâ ̣c thang đẳng cấp thời Edo thì chính quyền Tokugawa báo hiệu cho một cuộc khủng hoảng xã hội đang diễn ra trầm tro ̣ng Những cuô ̣c ba ̣o đô ̣ng của người dân thành thi ̣ cùng với cuô ̣c khởi nghĩa của nông dân liên tiếp nổ ra Nó đã giáng một đòn mạnh vào bộ máy chính trị của chính quyền Bakufu Mạc Phủ đã đàn áp hết sức dã man các cuô ̣c kh ởi nghĩa và tăng cường hơn sự kiểm soát đối với nhân dân
Sau mô ̣t thời gian dài được sống trong điều kiê ̣n hòa bình , tầng lớp võ sĩ
bổng lô ̣c của giới võ sĩ là đủ s ống nhưng đến đầu thế kỉ XIX thì bổng lộc ngày
nhiều võ sĩ phải sống trong cảnh nghèo túng , nợ nần Để đảm bảo cho đời sống
Trang 14thì nhiều võ sĩ p hải bán một phần thu nhập bằng lúa hoặc có không ít người phải bán đồ gia bảo, kiếm hay đồ trang phu ̣c truyền thống của dòng ho ̣ để lấy tiền chi tiêu, trang trải cuộc sống của mình
Vào cuối thời Edo, hiê ̣n tươ ̣ng bần cùng hóa võ sĩ diễn ra rõ rệt Nhiều võ sĩ cấp thấp với số bổng lô ̣c ít ỏi không thể sống được nên đã bỏ chủ đi lang thang
Và ở nhiều nơi cũng diễn ra việc bán tước hiệu võ sĩ cho thương nhân hoặc phú nông giàu có Hâ ̣u quả của tầng lớp này đã làm giảm sự tôn quý của tầng lớp võ
sĩ vốn đã được gìn giữ một cách thiêng liêng từ thế hệ này đến thế hệ khác
Trong tình hình đó , Mạc Phủ Tokugawa lại phải đương đầu với tình hình
nhật bản sớm nhất là người Bồ Đào Nha” [24, tr.79] Lúc đầu do mong muốn
mua đươ ̣c nhiều vũ khí tối tân để tăng cường lực lượng quân sự nên các Daimyo đều hoan ngh ênh người châu Âu đến lãnh đi ̣a của mình để buôn bán Chính vì thế có giai đoa ̣n quan hê ̣ của Nhâ ̣t bản với các nước Tây Âu rất phát triển
Về sau các nước Tây Âu dần để lộ âm mưu xâm lược của mình cho nên chính quyền Nhật Bả n đã ra lê ̣nh cấm đa ̣o Dưới thời Ma ̣c Phủ Tokugawa tiếp theo do yêu cầu phát triển quan hê ̣ với bên ngoài nên đối với viê ̣c truyền đa ̣o cũng làm ngơ Về sau trong liên minh với các Daimyo chống la ̣i Tokugawa có kẻ
là tín đồ của đa ̣o Thiên Chúa Đồng thời Mạc Phủ lại sợ các Daimyo ở vùng Tây Nam sẽ trở nên ma ̣nh hơn nhờ viê ̣c quan hê ̣ mâ ̣u di ̣ch với các nước Phương Tây
và sẽ đe dọa sự thống trị của mình Vì vậy chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đã đi đến biê ̣n pháp tối hâ ̣u thư để giữ toàn quyền quyết đi ̣nh đối với vâ ̣n mê ̣nh của
nước Nhật là “bế quan tỏa cảng” vào năm 1639
Từ sau cuô ̣c k hởi nghĩa của nông dân cùng với sự ủng hô ̣ của các võ sĩ vô
chủ thì chính sách “bế quan tỏa cảng” bắt đầu được thi hành mô ̣t cách ráo riết , triê ̣t để “bất cứ người Nhật nào cũng bi ̣ cấm không được đi ra khỏi nước và ai
đã đi ra nước ngoài thì không được trở về” [34, tr.60] Chính quyền Mạc Phủ đã
ra lê ̣nh cấm buôn bán với nước ngoài , lái buôn và giáo sĩ nước ngoài phải rời
Trang 15khỏi Nhật Bản , chỉ trừ Trung Quốc và Hà Lan được tiếp tục buôn bán ở
Deshima, một hòn đảo nhỏ nằm trong hải cảng Nagasaki
Chính sách “ đóng cửa tự phòng vệ” của Nhâ ̣t Bản cho thấy sự chủ đô ̣ng
trong quan hê ̣ ngoa ̣i giao , trong vấn đề xử lý các mối quan hê ̣ quốc tế nhưng đồng thời cũng thể hiê ̣n những nhược đ iểm căn bản của các quốc g ia phong kiến phương Đông
Như vậy, sự khủng hoảng của chế độ Mạc Phủ Tokugawa diễn ra trên tất cả các mặt Biểu hiện đầu tiên của sự khủng hoảng đó là nền kinh tế phong kiến su ̣p đổ.Trong nông nghiê ̣p, chế đô ̣ tô thuế nă ̣ng nề, viê ̣c nô ̣p tô thuế nă ̣ng nề đó khiế n cho người nông dân lê ̣ thuô ̣c hơn vào đi ̣a chủ và các thương nhân , những người cho vay nă ̣ng lãi Hiê ̣n tượng mua bán ruô ̣ng đất ngày càng gia tăng Đất nước rơi vào tình trạng lạc hậu, khủng hoảng trong khi xã hội lại xuất hiện các yếu tố mới tạo nên những chuyển biến quan trọng cho giai đoạn tiếp theo
1.1.2.2 Sự xuất hiện của các yếu tố mới
Điểm đáng chú ý của chế đô ̣ Ma ̣c Phủ là quá trình phát triển nhanh chóng
của các đô thị và thương nghiệp Sự chuyển mình từ “thành phố pháo đài” thành
Kyoto, Kagoshima… khiến Nhật Bản thời Ma ̣c Phủ trở thành quốc gia có tốc đô ̣
đô thi ̣ hóa cao nhất lúc bấy giờ
Từ sự phát triể n ngày càng lớn ma ̣nh của các ngành thủ công nghiê ̣p và thương nghiê ̣p đã dẫn đến sự thàn h lâ ̣p của tầng lớp thi ̣ dân Sự xuất hiê ̣n ngày càng nhiều của các công trường thủ công cũng như các vùng chuyên môn sản xuất những mă ̣t hàng xuất khẩu thủ công nhất đi ̣nh đã làm cho số lượng thợ thủ công ngày càng tăng lên Bên cạnh tầng lớp thợ thủ công thì tầng lớp thương nhân cũng ngày càng phát triển và giàu lên nhanh chóng Công viê ̣c buôn bán ngày càng phức ta ̣p và phân hóa nên tầng lớp thương nhân được chia làm ba loa ̣i
rõ rệt : tonya có nghĩ a là người buôn bán s ỉ, nakagaiya có nghĩa là người buôn bán trung gian và kourinin là người buôn bán lẻ
Trang 16Với sự phổ biến của nền k inh tế tiền tê ̣ và mức tiêu thu ̣ ngày càng cao , trong khi giai cấp thương nhân ngà y càng giàu có thì võ sĩ và nông đân lại ng ày càng nghèo khó Tầng lớp võ sĩ –từng đươ ̣c coi tro ̣ng nhất trong xã hô ̣i phải vay mươ ̣n tiền ba ̣c của các thương nhân , và ngày càng lệ t huô ̣c tài chính vào đ ẳng cấp này, là đẳng cấp“thấp” nhất trong xã hô ̣i Tình trạng này đã đảo lộn những
nguyên tắc căn bản nhất trong chính quyền Tokugawa
Để giải quyết những khó khăn về kinh tế, chính quyền Tokugawa đã đưa ra nhiều chính sách , biê ̣n pháp nhằm cải cách về tài chính , khi thì đổi tiền , khi thì đánh thuế cao vào tầng lớp thương nhân giàu có , khi thì kêu go ̣i dân chúng cần kiê ̣m nhưng không có biê ̣n pháp nào đem la ̣i kết quả
Sự phát triển ma ̣nh mẽ của đẳng cấp công thương cùng với nền kinh tế
mống tư bản chủ nghĩa trong lòng xã hô ̣i phong kiến Nhâ ̣t Bản cùng với sự suy yếu của chính quyền Ma ̣c Phủ Tokugawa Cho đến giữa thế kỉ XIX thì mâu thuẫn trong nướ c ngày càng trở nên trầm tro ̣ng hơn , đó là mâu thu ẫn giữa quan
hê ̣ sản xuất cũ lỗi thời với phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa
Như vậy, đến đầu thế kỉ XIX Nhật Bản lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra cho thấy chính quyền Tokugawa sau mấy trăm năm tồn tại đã đến lúc không đủ sức điều hòa các mâu thuẫn trong xã hội và giải quyết con đường phát triển cho đất nước Trong khi
đó, tại Nhật Bản đã xuất hiện của các yếu tố mới và những tiền đề mới để phát triển đất nước theo con đường khác
Trong cùng một bối cảnh với các nước châu Á, khi mà chế độ phong kiến trở nên khủng hoảng và lỗi thời, không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của
xã hội thì việc tìm ra một con đường mới cho dân tộc là một điều tất yếu Lịch sử
đã đặt ra cho Nhật Bản một yêu cầu là phải có một hướng đi mới, để vừa đưa đất nước vượt qua khủng hoảng vừa bắt kịp với xu thế thời đại Chính vì vậy, trong lúc này Nhật Bản cần nhanh chóng có những bước đi phù hợp hơn, tiến bộ hơn Cuộc Minh Trị Duy tân diễn ranhư một điều tất yếu để đưa Nhật Bản đi theo con
Trang 17đường tư bản chủ nghĩa vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước vừa phù hợp vớiyếu tố thời đại
1.2 Khái quát công cuộc Duy tân Minh Trị của Nhât Bản (1868 - 1912) 1.2.1 Kinh tế
Nhằm tạo điều kiện cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển trong nông nghiệp, cũng như để gia tăng nguồn thu tài chính cho chính phủ trong điều kiện kinh tế công thương nghiệp còn yếu kém Từ năm 1872 – 1873 nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh về cải cách ruộng đất, xác lập quyền sở hữu ruộng đất cho người đang chiếm hữu, đánh thuế đất dựa trên giá đất và đánh vào người sở hữu đất đai, ruộng đất được phép mua bán, nguyên tắc sở hữu một phần ruộng đất được ban hành, quyền tự do trồng trọt trên mảnh đất được thừa nhận,sự độc quyền của giai cấp phong kiến bị xóa bỏ
Cải cách ruộng đất đã góp phần giải quyết vấn đề tài chính và giữ vai trò
quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa đất nước “Nông nghiệp đã đáp ứng
đủ nhu cầu lương thực trong nước, tăng ngân sách cho nhà nước, năm 1873 tiền thuế đất chiếm 90% tổng số thuế và khoảng 70% thu nhập của chính phủ” [24,
tr.95]
Nhận thức được tầm quan trọng của công nghiệp đối với sự phát triển của đất nước, năm 1780 chính quyền Minh Trị đã thành lập bộ công nghiệp Trong vòng 20 năm từ năm 1875 – 1895 đầu tư công nghiệp của chính phủ chiếm khoảng 30 – 40% tổng đầu tư quốc gia, cơ sở thiết bị công nghiệp và cơ sở hạ
tầng được chú ý xây dựng “Đến năm 1893, hệ thống đường sắc Nhật Bản lên
tới 2000 dặm, việc vận tải đường biển cũng được hiện đại hóa với các tàu chạy bằng hơi nước, mạng lưới thông tin liên lạc cũng được mở rộng” [24, tr.97]
Nhật Bản cũng nhanh chóng phát triển các cơ sở công nghiệp hiện đại như khai thác mỏ, xây dựng các nhà máy dệt, nhà máy luyện kim, xi măng, đóng tàu… Như vậy, trong công nghiệp nhà nước chú trọng đầu tư công nghiệp nặng, tuy nhiên cũng phát triển công nghiệp nhẹ một cách tương ứng cũng như tham
Trang 18gia điều tiết sự phát triển của nền kinh tế, chú ý phát triển cả công nghiệp quốc doanh và công nghiệp tư nhân
Ngoài ra, Nhật Bản còn tiến hành thành lập ngân hàng, thống nhất tiền tệ dựa trên cơ sở đồng Yên, sử dụng một loại tiền do cục đúc tiền phát hành, chính phủ còn thống nhất hệ thống đo lường, thống nhất thị trường, tạo điều kiện cho việc giao lưu buôn bán trong nước phát triển
1.2.2 Chính trị
Ngay khi lên cầm quyền, Thiên hoàng đã tuyên bố xóa bỏ chế độ Mạc phủ thành lập chính phủ mới, trong đó đại biểu của tầng lớp quý tộc tư sảnhóa đóng vai trò quan trọng Về hình thức, quyền lực của nhà nước được tổ chức theo
nguyên “tắc tam quyền phân lập” do chính viện (nội các chính phủ), Hữu viện
(chăm lo việc tư pháp), Tả viện (cơ quan lập pháp) điều hành Tuy nhiên, trên thực tế mọi quyền lực đều tập trung trong tay Thiên hoàng với sự giúp sức của các đại thần thân tín Và các cơ quan này tồn tại đến năm 1885, khi chính quyền Minh Trị thực thi chế độ nội các, cùng với tam viện, chính quyền còn thiết lập sáu bộ: bộ Dân vụ; bộ Quốc phòng; bộ Tài chính; bộ Tư pháp; bộ Hoàng cung;
bộ Ngoại giao
Chính phủ của Minh Trị còn thực thi nhiều biện pháp nhằm tạo điều kiện cho việc thống nhất đất nước, xóa bỏ chế độ đẳng cấp phong kiến, thủ tiêu đặc quyền của Samurai để tập trung mọi quyền lực vào tay Thiên hoàng Ngày 12 –
7 – 1871, chính phủ đã đưa ra mệnh lệnh “phế Han lập Ken”, theo đó hơn 265
Han bị xóa bỏ thay vào đó là hệ thống chính quyền địa phương thống nhất với 3 phủ và 72 Ken
Ngày 11 – 2 – 1889, Hiến pháp đầu tiên của Nhật Bản được công bố Đây được xem là bộ luật căn bản của nhà nước Nhật Bản trong suốt thời kỳ Minh Trị cho đến năm 1946 Hiến pháp quy định quyền lực tuyệt đối của Thiên Hoàng, theo hiến pháp thì Quốc hội có khả năng phản ánh rộng rãi ý kiến của nhân dân thực hiện quyền bình đẳng giữa các công dân
Trang 19Như vây, Hiến pháp được ban hành đã xác lập rõ ràng thể chế chính trị mới
của Nhật Bản là chế độ quân chủ lập hiến Hiến pháp “là ví dụ điển hình của
quan điểm xây dựng một mô hình Nhà nước hiện đại theo kiểu phương Tây nhưng vẫn kết hợp, duy trì những yếu tố truyền thống”[29, tr.177]
1.2.3 Văn hóa – Giáo dục
Với chủ trương tiếp thu văn minh phương Tây của nhà cầm quyền mới nhằm hiện đại hóa đất nước, thời Minh Trị trên khắp cả nước đã lan rộng phong trào văn minh khai hóa Phong trào đã làm thayđổi bộ mặt của các đô thị với những ngôi nhà mới có kiến trúc theo lối phương Tây Ngay cả người Nhật cũng thay đổi theo phong cách phương Tây, nhất là những người có địa vị, mà Thiên Hoàng Minh Trị là người đi đầu trong phong trào này
Để nâng cao trình độ dân trí,đáp ứng nhu cầu tiếp thu khoa học kỹ thuật và phát triển của xã hội, chính phủ Nhật Bản đặc biệt chú ý đến cải cách giáo dục Việc chăm lo giáo dục dưới thời Minh Trị được xem là một chiến lược hàng đầu cho việc xây dựng một xã hội văn minh Điều này không chỉ giới hạn trong việc học tập khoa học kỹ thuật để xây dựng kinh tế mà còn là việc tiếp thu, giáo dục, văn hóa, tư tưởng, phong cách, lối sống của xã hội tư sản phương Tây
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, Nhật Bản đã thi hành chế độ
giáo dục cưỡng bức “Từ nay trở đi, chúng thứ nhơn dân, không kể hoa tộc, sĩ
tộc, cùng là các hạng cày ruộng, làm nghề đi buôn cho đến đàn bà con gái cũng vậy, tất sao trong làng đừng còn một nhà nào không học, trong nhà đừng còn một người nào không học” [28, tr.177]
Chế độ giáo dục phong kiến cũ dần bị xóa bỏ và được thay thế bằng hệ thống giáo dục mới, gồm các bậc tiểu học, trung học, đại học Giáo dục Nhật Bản được thành 8 khu đại học, mỗi khu đại học được chia thành 32 khu trung học và mỗi khu trung học được chia thành 10 khu tiểu học Cùng với hệ thống trường công, các trường chính quy, trường tư thục, dân lập, bổ túc và các trường dạy ở chùa cũng đóng vai trò to lớn và được khuyến khích phát triển
Trang 20Nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập cũng có những thay đổi căn bản Phương pháp dạy học bằng đồ dùng trực quan được chú trọng, việc học gắn với đời sống thực tế, phát huy tính tư duy độc lập, tính sáng tạo của người học Với việc chú trọng đầu tư và cải cách mạnh mẽ nền giáo dục, chỉ trong một
thời gian ngắn giáo dục Nhật Bản đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể “Đến
đầu thế kỉ XIX có đến 98% số trẻ em đến tuổi đi học được đến trường, so với năm 1886 là 46%” [24, tr.92].“văn hóa tri thức được phổ cập đến toàn diện; trình độ học vấn của nhân dân được nâng cao; tình thần, tác phong khoa học xâm nhập vào đời sống xã hội” [27, tr.141]
1.3.4 Quân sự
Trong thời kỳ Mạc phủ, Nhật Bản phải phụ thuộc vào lực lượng quân sự từ các Han, nhưng sau khi lên nắm quyền Minh Trị đã tiến hành cải cách quân sự nhằm tiến tới xây dựng một nền quân sự thống nhất, đủ sức đương đầu với các thế lực bên ngoài Để thực hiện mục tiêu đó, năm 1872 chính phủ Nhật Bản ban hành sắc lệnh thành lập quân đội thường trực, trên cơ sở thi hành nghĩa vụ quân
sự toàn dân và cải tổ quân đội theo khuôn mẫu của các nước tư bản phương Tây Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng đẩy mạnh việc mua vũ khí hiện đại của phương Tây để tăng sức mạnh cho quân đội, cho người ra nước ngoài học tập và nghiên cứu về mô hình quân sự của các nước tiên tiến cũng như việc chế tạo vũ khí để có thể tự chủ trong vấn đề phát triển quân đội thực sự hùng mạnh Nhờ những cải cách trong lĩnh vực quân sự mà quân đội Nhật Bản từng bước phát
triển và “chỉ trong vòng vài chục năm ngắn ngủi, Nhật Bản đã xây dựng được
một lực lượng quân sự hùng hậu và thiện chiến” [22, tr.88]
1.2.5 Kết quả
Công cuộc Minh Trị Duy tân về bản chất là một cuộc cách mạng tư sản và
có một ý nghĩa vô cùng to lớn, đánh dấu một mốc lớn trong lịch sử Nhật Bản thời kỳ cận đại Duy tân Minh Trị đã đưa Nhật Bản thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng và tiến lên theo con đường tư bản chủ nghĩa Nhờ cuộc cách mạng này mà Nhật Bản đã tạo được sự thay đổi thần kỳ, xóa bỏ mọi cản trở của chế độ phong kiến, đặt nền móng cơ bản đưa Nhật Bản trở một trong những cường quốc
Trang 21trên thế giới Công cuộc cải cách không chỉ giúp cho Nhật Bản trở thành quốc gia duy nhất ở châu Á hoàn toàn thoát khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân phương Tây, mà còn đưa Nhật Bản bước vào hàng ngũ các cường quốc tư bản phát triển lúc bấy giờ
Với cuộc cách mạng năm 1868, Nhật Bản đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trong trên tất cả các lĩnh vực cuộc cách mạng này đã dẫn đến quá trình công nghiệp hóa của Nhật Bản, nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong
30 năm cuối thế kỉ XIX, khiến nước này trở thành một cường quốc quân sự khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh với Trung Quốc (1894 - 1895) và đánh bại Hải quân Hoàng gia Nga (1904 - 1905)
Như vậy, vào nửa đầu thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản đang trên đà xác lập ở phạm vi thế giới cùng với sự lan tỏa mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp
ở các nước tư bản Âu – Mĩ Trong khi đó, châu Á vẫn nằm trong bốn bức tường khép kín của chế độ phong kiến, với sự lạc hậu và khủng hoảng về mọi mặt Chế
độ phong kiến không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội Một yêu cầu đặt ra đối với các quốc gia phương Đông là phải tìm ra con đường mới để đưa đất nước vừa thoát khỏi cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng, vừa phù hợp với xu thế thời đại và đuổi kịp các nước phương Tây
Trong bối cảnh đó, hầu hết các nước châu Á đã thực hiện chính sách “đóng
cửa”để tự vệ đất nước, nhưng khi chủ nghĩa thực dân phương Tây ồ ạt xâm nhập
vào châu Á, hầu hết các quốc gia này đều không thể chống đỡ được trước sức mạnh tuyệt đối của các nước phương Tây
Nhật Bản – một trường hợp hết sức đặc biệt, trên tinh thần tự lực tự cường cùng với một nền văn hóa giàu bản sắc, Nhật Bản đã tiến hành công cuộc Minh Trị Duy tân, chủ trương học tập phương Tây để canh tân đất nước dựa trên cơ sở
của “tinh thần Nhật Bản” Chính cuộc Minh Trị Duy tân đã tạo cho Nhật Bản
những bước tiến thần kỳ trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, đưa Nhật Bản thoát ra khỏi số phận của một nước phụ thuộc, thuộc địa như hầu hết các nước phong kiến châu Á, trở thành một nước tư bản bắt kịp và sánh ngang hàng với các nước tư bản Âu – Mĩ
Trang 22Chương 2 “KĨ THUẬT PHƯƠNG TÂY – TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG” TRONG CÔNG CUỘC MINH TRỊ DUY TÂN (1868 - 1912)
Ở NHẬT BẢN 2.1 Điều kiện để thực hiện “Kỹ thuật Phương Tây – Tư tưởng Phương Đông” trong Minh Trị Duy tân
2.1.1 Điều kiện chủ quan
2.1.1,1 Cơ sở kinh tế
Cho đến đầu thế kỉ XIX, Nhật Bản vẫn là một quốc gia phong kiến dưới sự cai trị của chính quyền Mạc Phủ.Chính vì vậy, để có thể tiếp nhận những thành tựu của văn minh phương Tây vào công cuộc Duy Tân Minh Trị thì Nhật Bản phải có những điều kiện nhất định Những chuyển biến của nền kinh tế Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XIX đã tạo ra những tiền đề quan trọng, làm cơ sởcho chính quyền Thiên Hoàng Minh Trị áp dụng những thành tựu của văn minh phương Tây vào công cuộc duy tân đất nước
Trước hết, vào thời kỳ Mạc Phủ do nắm giữ được ưu thế vượt trội về chính trị, kinh tế mà chính quyền Tukugawa đã duy trì được nền hòa bình và ổn định ở Nhật Bản Môi trường hòa bình và ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế nhật Bản phát triển trong suốt thời kỳ cầm quyền của Mạc Phủ Xuất phát từ nhận thức kinh tế là nền tảng cơ bản để tái thiết đất nước Từ đầu thế kỉ XVII, Mạc Phủ Tukugawa đã thi hành một số chính sách nhằm tạo nên những động lực cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế
Trong sản xuất nông nghiệp, được chính quyền chú trọng đầu tư, diện tích dất canh tác được mở rộng, sản lượng không ngừng tăng lên và loại hình sản phẩm cũng phong phú hơn Cùng với việc mở rộng diện tích thì sản lượng cũng
tăng lên rõ rệt, diện tích đất canh tác “giữa thế kỉ XV là từ 950.000 ha tăng lên
1.640.000 ha vào năm 1600 và đến năm 1720 tăng lên 2.970.000 ha Năm 1600, tổng sản lượng lương thực đạt 19,7 triệu Koku thì đếncuối thời kỳ Mạc Phủ đã vượt lên 48,6 triệu Koku” [36, tr.206]
Trang 23Ngoài ra, nông nghiệp Nhật Bản cũng hình thành các khu chuyên canh, từ
đó tạo nên nguồn sản phẩm hàng hóa phong phú và cung cấp nguyên liệu cho các xưởng thủ công Kinh tế nông nghiệp đã được đa dạng hóa, nhiều nông đân trở thành người lao động kiêm nghiệp, vừa làm nghề nông vừa kết hợp với sản xuất thủ công nghiệp hay buôn bán chuyên nghiệp Hoạt động của họ đã phục vụ đắc lực cho nhu cầu sản xuất và đời sống nông thôn, đồng thời góp phần gắn kết kinh tế nông thôn với mạng lưới thị trường chung, đem lại sức sống mới cho kinh tế nông nghiệp
Thủ công nghiệp và công nghiệp cũng được phát triển để đáp ứng nhu cầu của giai cấp phong kiến Việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất mới cũng như khả năng mở rộng quy mô sản xuất cũng góp phần tạo nên những biến đổi trong ngành thủ công Trên cả nước đã hình thành nhiều trung tâm thủ công nghiệp với quy mô tương đối lớn Trong thủ công nghiệp đã hình thành các ngành như dệt lụa, giấy, in, nấu rượu, sản xuất đường, chế biến hải sản… trong công nghiệp các ngành khai mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí… cũng bắt đầu phát triển
Với sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản thì việc ra đời đội ngũ thương nhân chuyên nghiệp cùng với hoạt động thương mại là một điều tất yếu, đó cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển,
hình thành mạng lưới thị trường trong nước và quốc tế “Đến năm 1783, qua
phân loại dân số, thương nhân chiếm tỉ lệ 12/2% so với chỉ có 7,7% thuộc về đẳn cấp Samurai” [36, tr.224], điều này cho thấy sự phát triển nhanh chóng về
số lượng của đội ngũ thương nhân và cũng chứng tỏ giai đoạn này hoạt động thương mại của Nhật Bản cũng phát triển mạnh
Nền kinh tế Nhật Bản thời kỳ Mạc Phủ đã phát triển ở một trình độ nhất định Nếu như, trong thời kỳ nắm quyền của Mạc Phủ nền kinh tế Nhật Bản trì trệ, lạc hậu, yếu kém thì sẽ không tạo được những cơ sở cần thiết để nước này áp dụng những thành tựu văn minh tiên tiến vào công cuộc cải cách Tuy nhiên, với
sự phát triển của các ngành kinh tế đã tạo ra nguồn nội lực từ bên trong, tạo ra
Trang 24những tiền đề cần thiết để Nhật Bản có thể áp dụng những thành tựu của văn minh phương Tây vào công cuộc Minh Trị Duy tân của mình
Từ giữa thế kỉ XVII, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu phát
triển ở thành thị và phần nào ở nông thôn Nhật Bản “Nhiều công trường thủ
công xuất hiện, nhất là công trường dệt vải lụa (năm 1850, ở Tokyo có công trường sử dụng đến 10 – 20 máy dệt) Năm 1854, cả nước Nhật có trên 300 công trường thủ công, có từ 10 công nhân trở lên Năm 1869, số công trường thủ công tăng lên 400 Trong sản xuất công nghiệp công trường thủ công vẫn chưa chiếm
ưu thế”[25, tr.130] Tuy vậy, Vào nửa đầu thế kỉ XIX, tại Nhật Bản các yếu tố tư
bản chủ nghĩa đã xuất hiện và xâm nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế phong kiến của quốc gia này
Dưới thời Tukugawa đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các thành phố lớn và thương nghiệp Thời kỳ này Nhật Bản có trên 200 thành phố, thị trấn Thành phố trở thành trung tâm của sản xuất thủ công nghiệp cung cấp cho thị trường Thợ thủ công tập trung trong các phường hội, độc quyền sản xuất
một số loại hàng hóa Bên cạnh đó, “sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa –
tiền tệ phát triển đã tác động to lớn đến xã hội Tukugawa Càng củng cố thêm chế độ phong kiến và mỗi quan hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau giữa nhà sản xuất, thương nhân, cho vay lãi Quan hệ sản xuất mới tư bản chủ nghĩa thâm nhập vào xã hội phong kiến nhưng không phá vỡ xã hội này” [24, tr.83] Nếu xét
về xu thế của thời đại, tại thời điểm này xu thế trên thế giới là xóa bỏ nền kinh tế phong kiến tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa như các nước phương Tây,và chính Nhật Bản cũng đang chuyển mình trên con đường này
Có thể khẳng định, việc các yếu tố tư bản chủ nghĩa thâm nhập ngày càng sâu vào Nhật Bản cũng là một cơ sở quan trọng để quốc gia nhanh chóng áp dụng những thành tựu của văn minh phương Tây vào cuộc Duy tân của mình đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế
Trang 252.1.1.2 Cơ sở xã hội
Bên cạnh những chuyển biến về kinh tế làm cơ sở cho chính quyền mới áp dụng những thành tựu của văn minh phương Tây vào công cuộc Minh Trị Duy tân, thì những chuyển biến về xã hội cũng tạo ra những điều kiện nhất định và có vai trò hết sức quan trọng để Nhật Bản có thể thích ứng nhanh chóng với nền văn minh phương Tây, khi quốc gia này tiến hành học hỏi vàáp dụng văn minh phương Tây vào công cuộc canh tân đất nước
Vào cuối thời kỳ Tukugawa, trong tình hình chính trị hết sức phức tạp các nước phương Tây không ngừng ra tăng sức ép, thì ở Nhật Bản đã đồng thời xuất hiện những trào lưu tư tưởng và học thuật như: Khai quốc học (kaikoku), Hà Lan học (rangaku), Tây dương học (seiyogaku)…
Trong đó trào lưu học thuật Hà Lan học có vai trò quan trọng,“không chỉ
thức tỉnh người Nhật trước những thành tự khoa học, kĩ thuật phương Tây mà còn đem lại một niềm đam mê mãnh liệt về những gì mà phương Tây có vào đầu thời Minh Trị” [27, tr.150].“Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Hà Lan học không chỉ có nghĩa là học tập Hà Lan mà còn mở rộng tầm nghiên cứa ra nhiều nước châu Âu Do vậy, về sau Rangaku đã chuyển dần thành trào lưu Tây Phương học (Yogaku, Dương học)” [36, tr.236]
Rangaku là một trào lưu học tập và tư tưởng phát triển mạnh ở Nhật Bản sau chính sách văn hóa thông thoáng Tướng quân Yoshimune, chính sách này đã nới lỏng luật kiểm soát đối với sách báo nước ngoài mà trước kia bị chính quyền Mạc phủ cấm.Tướng quân Yoshimune cho rằng, Nhật Bản phải quan tâm học tập khoa học phương Tây, vì vậy ông khuyến khích việc học tập, nghiên cứu sách báo phương Tây và học tiếng Hà Lan Phong trào Hà Lan học phát triển từ năm
1720 đến 1868, “đã khuyến khích người Nhật tiếp thu tư tưởng, khoa học kỹ
thuật phương Tây để qua đó tăng cường sức mạnh đất nước đồng thời đả phá những quan niệm tư duy thủ cựu Các học giả nổi tiếng của phong trào Rangaku như Aoki Konyo, Ino Tadataka, Sugita Genpaku…” [13, tr.89]
Trang 26Phong trào Hà Lan học phát triển trên nhiều lĩnh vực, các học giả Rangaku còn nghiên cứu về các ngành thiên văn, vật lý, họa đồ, địa lý, y học, hằng hải…
Chính vì vậy, “ở nửa đầu thế kỉ XIX, hầu hết các quan chức cao cấp hoặc những
người Nhật học thức cao cũng đã biết rằng qua một số lĩnh vực nhất là y học, địa lý, hằng hải, thiên văn học, làm lịch và làm thuốc súng, thì công nghệ của phương Tây đã đi trước những kiến thức truyền thống của Trung Quốc và Nhật Bản” [3, tr.282]
Phong trào Rangaku đã thể hiện tinh thần cầu học, một tinh thần đã giúp Nhật Bản thoát ra khỏi guồng máy xâm lược của chủ nghĩa thực dân Cũng chính
từ phong trào này mà dân chúng Nhật Bản ngày càng ý thức nhu cầu phải “mở
cửa” đất nước để giao lưu với bên ngoài Bên cạnh đó, phong trào Hà Lan học
và sau đó phát triển thảnh Tây Dương học có thể coi là “nhân tố khơi nguồn,
định hướng, thậm chí là đặt nền tảng hết sức quan trọng cho công cuộc cận đại hóa của nước Nhật, góp phần làm thay đổi diện mạo Nhật Bản thời cận đại Đây thực sự là một trong những phép lạ trong lịch sử văn minh thế giới”[50, tr.119]
Với sự xuất hiện những luồng tư tưởng mới ở Nhật Bản trong thời kỳ Tukugawa, đặc biệt là phong trào Hà Lan học đã tạo ra những chuyển biến về tư tưởng trong xã hội Chính những chuyến biến về tư tưởng và sự phát triển của phong trào Rangaku đã tạo điều kiện cho Nhật Bản tiếp cận sâu hơn và bộc phát nhu cầu học tập văn minh phương Tây ngay từ đầu thế kỉ XIX, đây là một cơ sở
và tiền để hết sức quan trọng để sau khi lên cầm quyền, chính quyền của Thiên Hoàng Minh Trị có thể nhanh chóng áp dụng những thành tựu của văn minh phương Tây kết hợp với những truyền thống văn hóa của quốc gia này vào cuộc Duy tân
Môi trường xã hội có những chuyển biến cũng khiến cho giáo dục từng bước thoát ra khỏi những định chế phong kiến và ngày càng trở thành nhu cầu hiểu biết, học tập của đông đảo tầng lớp nhân dân Những điều kiện kinh tế, xã hội đã góp phần thúc đẩy quá trình đại chúng hóa giáo dục ở Nhật Bản, nâng cao trình độ dân trí và tạo ra một năng lực tiếp nhận tri thức mới cho nhiều bộ phận
Trang 27xã hội Ngay từ thời Mạc phủ cầm quyền, ở một số trường, ngoài những môn học luân lý và triết luận Nho giáo, học sinh còn được học toán, địa lý, lịch sử và
cả một số môn về khoa học, kỹ thuật của phương Tây và các môn ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Hà Lan…
Vào cuối thời Tukugawa “học tập đã trở thành một bộ phận quan trọng
trong cuộc sống hành ngày của hầu hết các Samurai cũng như đông đảo tầng lớp bình dân Điều đó có nghĩa rằng, trước khi hệ thống giáo dục hiện đại được thiết lập đã có một số lượng đông đảo giáo viên kinh nghiệm, biết bao nhiêu người trẻ tuổi có trình độ sơ đẳng biết đọc, biết viết Và rất nhiều gia đình đã quen với cuộc sống cho con đi học” [28, tr.166]
Giáo dục đã góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc, tôi rèn và khích lệ ý thức dân tộc mạnh mẽ Vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, chính quyền Mạc phủ
bắt đầu bài trừ việc giảng dạy của Hà Lan Dù vậy, “vẫn có những ngôi trường
theo phương pháp giáo dục phương Tây đã đào tạo được rất nhiều cá nhân xuất sắc, những người đó đã trở thành ngọn đuốc đi đầu trong quá trình kết hợp Wayo – Setchu, có nghĩa là truyền thống Nhật Bản và công nghệ phương Tây”
[13, tr.93]
Trong thời cầm quyền của Tukugawa, giáo dục đã có những bước tiến quan trọng góp phần làm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu và tiếp cận văn minh phương Tây đối với dân chúng cũng như tầng lớp trên của Nhật Bản Và đây cũng là cơ sở quan trọng để Nhật Bản dựa trên những yếu tố truyền thống của mình kết hợp với văn minh phương Tây trong công cuộc canh tân đất nước
Như vậy, sự chuyển biến về tư tưởng cũng như sự phát triển của các phong trào học thuật và những bước tiến trong giáo dục, đã trở thành những nhân tố
quan trọng để “phá vỡ thế độc tôn của Nho học, coi Trung Hoa là nguồn tiếp
cận tri thức và là khuân mẫu duy nhất” [17, tr.7] Không chỉ vậy, những nhân tố
đó còn “hướng tư duy xã hội đến mô hình phát triển mới và những giá trị tiên
tiến của văn minh phương Tây” [28, tr.166].Và có thể khẳng định, chính những
Trang 28chóng và đạt hiệu quả trong việc kết hợp những giá trị tiên tiến của văn minh phương Tây với các yếu tố truyền thống của con người Nhật Bản trên con đường canh tân đất nước
2.1.1.3 Văn hóa truyền thống
Một cơ sở quan trọng để Nhật Bản có thể kết hợp giữa văn hóa truyền thống của đất nước với nền văn minh tiên tiến đến từ phương Tây, đó chính là đặc điểm của nền văn hóa Nhật Bản với những bản sắc riêng biệt, mang đặc trưng của con người Nhật Bản Và chính những đặc điểm về điều kiện tự nhiên
đã tạo nên những nét riêng về tính cách con người Nhật Bản mà khó có thể tìm thấy ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới
Nhật Bản nằm ở một vị trí địa lý đặc thù với hình thể là một chuỗi các hòn đảo, xung quanh được bao bọc bởi đại dương Môi trường biển cũng đã tạo cho Nhật Bản Nhận thức đúng đắn và thân thiện với biển, không sợ sóng to gió lớn
Và trong điều kiện thế giới đang có nhiều thay đổi ở bối cảnh đầu thế kỉ XIX, thì
tâm lý này cũng “tạo nên tính cách tiên phong, dám đương đầu và thách thức
trong phát triển Vì vậy người Nhật đã từng có câu khẩu hiệu: Học tập phương Tây Đuổi kịp phương Tây, vượt qua phương Tây” [2, tr.4] Chính tính cách
mạnh mẽ, sẵn sàng đương đầu với thử thách đã trở thành cơ sở để Thiên Hoàng Minh Trị áp dụng những thành tựu văn minh phương Tây vào công cuộc cải cách đất nước
Cũng chính từ môi trường tự nhiên khắc nghiệt đã tạo nên tính cách kiên cường cũng như bản tính mau lẹ, thích ứng nhanh với mọi hoàn cảnh của người Nhật Bản Chính vì vậy khi khoa học, kỹ thuật, những thành tựu của văn minh phương Tây đến gõ của châu Á thì Nhật Bản đã có cách ứng xử rất riêng khác hẳn với nhiều quốc gia trong cùng một hoàn cảnh Trong lúc hầu hết các quốc
gia châu Á đều tiếp tục thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” tuyệt giao với
phương Tây, thì Nhật Bản đã mở tung cánh cửa đất nước tiếp cận với các luồng
tư tưởng mới, ra sức học tập những cái tiến bộ để canh tân đất nước
Trang 29Đặc điểm địa lý bị cô lập của nước Nhật cũng góp phần không nhỏ vào việc hình thành nên tâm lý tính cách người Nhật Người Nhật luôn tự ý thức bản thân trong quan hệ với thế giới bên ngoài, trong mục tiêu xây dựng nền văn hóa tự lực
tự cường mang màu sắc riêng của dân tộc “Người Nhật luôn biết dung hòa yếu
tố văn hóa bên ngoài với tinh thần cố hữu của họ để tạo thành một nền văn minh rất riêng cho dân tộc Nhật” [2, tr.4] Điều này được chứng minh ngay trong đầu
thế kỉ XIX, khi các trào lưu học thuật mới xuất hiện ở Nhật Bản thì đã hình thành chủ trương kết hợp giữa Wayo – Setchu, có nghĩa là kết hợp giữ truyền thống Nhật bản với công nghệ phương Tây Chính vì vậy, có thể khẳng định, đặc điểm này là một cơ sở quan trọng để Chính quyền mới sau khi lên cầm quyền thực hiện việc áp dụng thành tựu văn minh phương Tây trên cơ sở tính cách văn hóa của người Nhật vào công cuộc duy tân của mình
Mặc khác, Từ những yếu tố văn hóa truyền thống mang đặc trưng riêng của con người Nhật mà cách tiếp nhận văn minh của họ cũng có điểm khác biệt Khi bàn về cách tiếp nhận văn minh của bên ngoài của người Nhật các học giả đều
nhận xét rằng: “Có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước
ngoài cho bằng người Nhật Họ không ngừng theo dõi những diễn tiến trên thế giới bên ngoài, đánh giá và cân nhắc ảnh hưởng của những trào lưu và xu hướng chính đối với Nhật Bản Một điều đáng chú ý khác là khi họ biết trào lưu nào đang thắng thế thì họ có khuynh hướng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ” [23, tr.1]
Đi theo nhận định này thì có thể thấy, đặc điểm trong cánh tiếp nhận văn minh của Nhật Bản là khảo sát, phân tích, quyết định tiếp nhận cái văn minh nhất chứ không nhất thiết phải tiếp nhận cái văn minh hơn mình Chính từ cách tiếp
nhận như vậy mà Nhật Bản đã thật sự “đi tắt đón đầu” một cách thành công
Chính từ cách thức tiếp nhận văn minh mang nét riêng của Nhật Bản cũng trở thành cơ sở để chính quyền Minh Trị chọn lọc những thành tựu phù hợp với đặc điểm đất nước, con người Nhật bản để từ đó đề ra các biện pháp canh tân đất
nước
Trang 30Ngoài ra, do môi trường tự nhiên là quốc đảo, lại nhiều thiên tai bất trắc luôn xảy ra, nên dân tộc Nhật luôn có ý thức học tập, tinh thần tự cường, thay đổi mau chóng với tình hình Nhà nghiên cứu người Nhật Tadao Umesao đã
chứng minh rằng “Người Nhật Bản dường như luôn đi theo cái mới” Các nhà
nghiên cứu Việt Nam cũng thừa nhận rằng dù Nhật Bản và Việt Nam trong đầu
thời cận đại có hoàn cảnh giống nhau, nhưng “vua quan họ tỉnh ngộ, lại có thêm
bọn chí sĩ duy tân đông đảo và dân tâm sĩ khí cũng phấn chấn hăng hái Nhờ vậy, mà họ duy tân tự cường được và mau lẹ nữa là khác” [2, tr.7]
Chính hoàn cảnh sống từ môi trường tự nhiên khắc nghiệt dữ dội đã góp phần tạo nên tính cách mau lẹ thay đổi cho phù hợp với tình hình cũng như tinh thần hướng ngoại, cầu tiến, ham học hỏi của người dân nơi đây Điều này cũng
là cơ sở quan trọng, mang đặc trưng của văn hóa Nhật Bản để quốc gia này dựa vào đó đưa những tiến bộ của nền văn minh phương Tây vào hòa nhập cùng công cuộc Minh Trị Duy tân
Như vậy, không thể phủ định vai trò quan trọng của văn hóa truyền thống Nhật Bản trong những bước tiến thần kỳ của quốc gia này trên con đường cận đại hóa đất nước Chính những yếu tố văn hóa đặc trưng của con người Nhật Bản trở thành cơ sở, điều kiện quan trọng để Thiên Hoàng Minh Trị kết hợp giữa văn
minh Phương Tây với yếu tố truyền thống trong cuộc cải cách của mình
2.1.2 Điều kiện khách quan
2.1.2.1 Sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản nửa đầu thế kỉ XIX
Sự xác lập của chủ nghĩa tư bản vào buổi đầu thời cận đại đã báo hiệu sự thắng thế của chủ nghĩa tư bản trước quan hệ sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời và lạc hậu Đặc biệt, đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, các nước này lại tiên phong trong cuộc cách mạng công nghiệp, tạo nên những biến đổi to lớn về
bộ mặt kinh tế, xã hội ở châu Âu và Bắc Mĩ Điều này càng tác động đến nhiều nước trên trế giới trong đó có Nhật Bản
Những tiến bộ trong lĩnh vực khoa học, những cải tiến về kỹ thuật từ cuộc
cách mạng công nghiệp mang lại đã “biến những nguồn lực vô tri, vô giác thành
Trang 31những nguồn lực có sinh khí cho phép loài người có khả năng khai thác được nguồn năng lượng mới”[37, tr.50].Từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX,
cách mạng công nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển trên mọi mặtcủa hàng loạt các nước châu Âu và Bắc Mĩ, thậm chí tại các nước chưa tiến hành cách mạng tư sản cũng có được sự phát triển từ cuộc cách mạng công nghiệp này như Đức, Italia…
Đến đầu thế kỉ XIX, khi nền kinh tế tư bản phát triển ngày càng mạnh, các nướctư bản Âu – Mĩ bắt đầu dòm ngó đến các vùng đất khác để tìm kiếm thị trường và thuộc địa Cũng như nhiều nước châu Á, Nhật Bản trở thành đối tượng xâm nhập của các nước tư bản Âu – Mĩ Và cũng chính từ đây Nhật Bản bắt đầu biết đến và được chứng kiến sức mạnh của các nước tư bản phương Tây cũng như những thành tựu văn minh mà họ tạo ra Để từ đó với tinh thần cầu tiến của người Nhật, đã trở thành một động lực để họ học hỏi những tiến bộ của nền văn minh phương Tây áp dụng vào công cuộc cải cách đất nước
Nếu xét về yếu tố thời đại thì chính sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến và sự giàu mạnh nhanh chóng của các nước Âu – Mĩ đã tác động mạnh mẽ vào Nhật Bản, để quốc gia này nhận thức được xu thế phát triển mới của thời đại từ đó có những thay đổi cần thiết và bắt nhịp đúng với xu thế phát triển đó Mặc khác, chính sức mạnh và những gái trị tiến bộ của văn minh phương Tây đã cho người Nhật một cái nhìn khác về những gì đang diễn ra trước mắt họ và từ đó nhu cầu học hỏi, hiểu biết và áp dụng những tiến bộ của văn minh phương Tây đã thôi thúc họ tiến hành công cuộc canh tân đất nước Ngoài ra, cũng chính sự phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật ở các nước tư bản Âu – Mĩ, khi xâm nhập vào Nhật Bản cũng đã tăng cường mối quan hệ giao lưu trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa… của Nhật Bản với các quốc gia tư bản này Sự giao lưu trong lĩnh vực giữa Nhật Bản và phương Tây thời kỳ cũng này trở thành điều kiện để văn minh phương Tây tác động ảnh hưởng sâu rộng đến các quốc gia châu Á, trong đó có Nhật Bản Đây cũng là điều kiện để Nhật Bản
Trang 32tìm hiểu sâu hơn những thành tựu của văn minh phương Tây, để tứ đó áp dụng vào tình hình cụ thể của đất nước khi tiến hành công cuộc Duy tân
Như vậy, có thể khẳng định, chính sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp đã trở thành những nhân tố khách quan tác động trực tiếp vào đất nước Nhật Bản Và chính sự tác động của hai yếu tố này đã trở thành cơ sở để sau khi chính quyền của Thiên Hoàng Minh Trị lên cầm quyền có thể nhanh chóng đưa những thành tựu văn minh phương Tây kết hợp các yếu tố truyền thống của Nhật Bản phục vụ chocông cuộc canh
tân đất nước
2.1.2.2 Quan hệ Nhật Bản với phương Tây nửa đầu thế kỉ XIX
Trong bối cảnh các nước tư bản phương Tây đang khao khát tìm kiếm thị trường, nguyên liệu và thuộc địa thì các nước châu Á lại đang nằm trong bốn bức tường của chế độ phong kiến lạc hậu, trong đó có Nhật Bản đã trở thành đối tượng xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Sau gần hai thế kỉ thực hiện chính sách tỏa quốc, bước sang thế kỉ XIX lịch
sử Nhật Bản đứng trước những thách thức nghiêm trọng đặc biệt là nguy cơ từ bên ngoài lãnh thổ Đầu thế kỉ XIX, cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng sâu sắc, về đối ngoại chính quyền Tukugawa cũng thường xuyên chịu
áp lực chính trị từ các nước tư bản phương Tây Tuy tham vọng của mỗi nước có
sự khác nhau nhưng mục đích chung là đều muốn sử dụng sức mạnh quân sự để buộc chính quyền Tukugawa phải bãi bỏ chính sách tỏa quốc, mở cửa giao thương quốc tế và nhượng bộ về ngoại giao
Trên bình diện quan hệ quốc tế, từ cuối thế kỉ XVIII các nước tư bản trẻ như Anh, Pháp, Nga và Mĩ ngày càng thâm nhập mạnh mẽ đến nhiều vùng đất châu Á và cạnh tranh quyết liệt với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan để tranh giành thị trường và khu vực ảnh hưởng Trong suy tính của nhiều cường quốc phương Tây thì Nhật Bản, một quốc gia có lãnh thổ trải dài 3.800km từ bắc xuống nam, là cửa ngõ hết sức quan trọng để xâm nhập vào Trung Quốc cũng
như khu vực bắc Thái Bình Dương “Châu Á trong đó có Nhật Bản trở thành
Trang 33món mồi béo bở mà phương Tây thèm khát Nước Nhật vốn nằm trên tuyến đường biển quốc tế được xem là một quốc gia có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng” [22, tr.43]
Từ cuối thế kỉ XVIII, Nga đã không ngừng gây sức ép với Nhật nhưng lực lượng của Nga vẫn không đủ mạnh để khiến cho chính quyền Mạc phủ phải từ
bỏ chính sách tỏa quốc Trong thời gian đó,Hà Lan với tư cách là quốc gia có
quan hệ với Nhật Bản trong suốt thời kỳ tỏa quốc đã “khuyến cáo chính quyền
Nhật Bản nên sớm thức thời mở của đất nước để trách lặp lại bài học đau đớn của Trung Quốc sau chiến tranh thuốc phiện” [29, tr.152]
Cùng với Nga và Hà Lan, trong những thập niên đầu tiên của thế kỉ XIX, các nước Anh, Pháp… cũng muốn khẳng định vị trí của mình ở Nhật Bản Họ đã
cử đại diện cùng nhiều đoàn tàu đến Nhật Bản yêu cầu mở cửa để mở rộng quan
hệ giao thương
Tuy nhiên, đi đầu trong nỗ lực buộc Nhật Bản phải mở cửa chính là Mĩ, với
chiêu bài “vì lợi ích chung của nhân loại” cho đến giữa thế kỉ XIX, Mĩ đã không
ngừng gây áp lực với Nhật Bản Ngày 15 – 7 – 1853, dưới sự chỉ huy của Đề đốc Matthe Calbraith Perry, 4 tàu chiến Mĩ chạy bằng hơi nước và có thể chạy ngược chiều gió đã tiến vào vịnh Uraga, cửa ngõ thành Edo và trình lên thư của tổng thống Millard Fillmmore Thành Edo bị đặt trong tầm pháo của Mĩ Sự hiện diện của chiến hạm Mĩ và bức thư của tổng thống Millard Fillmmore đã gây nên sự hoảng loạn tại trung tâm chính trị của Nhật Bản Tình thế đó đã buộc chính quyền Tukugawa phải suy tính đến những khả năng xấu có thể xảy ra đối với thể chế chính trị phong kiến và chủ quyền dân tộc
Nhận thấy nguy cơ của một cuộc chiến tranh đang đến gần và Nhật Bản chắc chắn không đủ lực lượng để đối đầu với sức mạnh của phương Tây Ngày
31-3-1854 chính quyền Tukugawa đã quyết định nhượng bộ và ký “hiệp ước
hòa bình và hữa nghị” với Mĩ Ký kết hiệp ước đồng nghĩa với việc chính quyền
Tukugawa chấm dứt việc thực hiện chính sách tỏa quốc kéo dài hơn hai thế kỉ
Trang 34Tuy nhiên, việc ký kết hiệp ước với Mĩ lập tức trở thành nguyên cớ để các cường quốc phương Tây khác buộc Nhật Bản phải ký các hiệp ước tương tự Và
chỉ “trong vòng 4 năm (1854 - 1858), Mạc Phủ đã phải liên tục chấp thuận và
ký các hiệp ước ngoại giao và thương mại với hơn 20 nước và khu vực lãnh thổ Nhật Bản đã ký hiệp ước với 13 nước châu Âu, 3 nước châu Á và 4 nước châu Mĩ” [29, tr.153] Việc liên tục ký các hiệp ước với nước ngoài cho thấy chính
sách mở cửa và đối ngoại của Nhật Bản hết sức khác biệt và điển hình so với các quốc gia trong khu vực trong cùng một hoàn cảnh
Chính quyền Tukugawa ký kết các “hiệp ước bất bình đẳng” với các nước
phương Tây đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội Nhật Bản Nhưng cũng từ chủ trương ký các hiệp ước và mở cửa đất nước cũng tránh cho Nhật Bản phải đối đầu với một cuộc xâm lực vũ trang đến từ các cường quốc phương Tây Mặc khác, thông qua việc ký các hiệp ước đã giúp Nhật Bản có điều kiện tái hòa nhập với những chuyển biến chung và hoạt động của nền kinh
tế thế giới Nhờ chính sách “mở cửa” nhiều sản phẩm hàng hóa của Nhật Bản
được xuất khẩu tạo nên nguồn vốn tích lũy hết sức quan trọng để xây dựng các
ngành công nghiệp mới Chích sách “mở cửa” và quan hệ với các cường quốc
trên thế giới cũng giúp Nhật Bản nhận thức rõ hơn về sự lạc hậu của mình so với các nước Âu – Mĩ và càng thôi thúc họ đi tới quyết tâm cải cách Đẩy nhanh tiến trình cải cách và đưa cuộc cải cách đi đến thành công
Việc các nước phương Tây đến châu Á gõ cửa thị trường Nhật Bản đã giúp quốc gia này tiếp cận và chứng kiến sức mạnh thực sự của nền văn minh phương Tây, từ đó phát triển tư tưởng học hỏi phương Tây canh tân đất nước Để đặt chân vào thị trường Nhật Bản các nước phương Tây đã không ngừng gây sức ép cho quốc gia này và cường quốc đóng vai trò then chốt buộc Nhật Bản phải mở cửa chính là Mĩ, và tiếp sau là nhiều quốc gia khác như Anh, Nga, Hà Lan, Pháp, Đức… Qua việc tiếp xúc và thấy được sức mạnh của văn minh phương Tây, chính quyền Tukugawa đã chủ trương đẩy mạnh học tập văn mình phương Tây
Trang 35và “tìm mọi cách để nhanh chóng tiếp cận với văn minh phương Tây Đào tạo
những người hiếu biết ngôn ngữ và khoa học phương Tây” [28, tr.166]
Như vậy, chính nhữngnỗ lực buộc Nhật Bản phải mở cửa và việc tiếp xúc với văn minh phương Tây của Nhật Bản vào nửa đầu thế kỉ XIX đã trở thành điều kiện khách quan tác động vào Nhật Bản, để quốc gia này thấy được những thành tựu văn minh tiên tiến của phương Tây, từ đó chủ động học tập và đi đến
áp dụng nó vào công cuộc Duy tân Minh Trị vào năm 1868
2.2 Việc thực hiện phương châm “Kỹ thuật Phương Tây – Tư tưởng Phương Đông” trong cải cách Minh Trị Duy tân (1868 - 1912)
2.2.1 Thuê chuyên gia nước ngoài và cử học sinh du học
Từ yếu tố văn hóatruyền thống, với đặc trưng là tính hiếu kỳ và nhạy cảm đối với văn hóa nước ngoài Nhật Bản đã hoàn toàn chủ động trong việc tiếp thu,
học hỏi văn minh phương Tây để canh tân đất nước Mà “biểu hiện cụ thể nhất
cho sự chủ động trong tiếp nhận văn minh phương Tây đó chính là việc cử phái đoàn thị sát các nước Âu – Mĩ, cũng như trong việc thuê chuyên gia nước ngoài làm cố vấn, giảng dạy tại Nhật Bản và cử học sinh du học”[23, tr.3]
Ngày 8/10/1871, Thiên Hoàng Minh Trị đã ban chiếu cử Iwakura làm đại
sứ đặc mệnh toàn quyền, 4 phó sứ cùng phái đoàn đông đảo đi thị sát các nước
phương Tây “Nhiệm vụ của sứ đoàn được nêu rõ: một là thăm các nước đã ký
hiệp ước với Nhật, trình quốc thư lên nguyên thủ các nước đó; Hai là thương thuyết để sửa đổi hiệp ước mà chính quyền Mạc phủ đã ký trước đây; ba là thị sát, nghiên cứu chế độ văn vật của các nước tiên tiến Âu – Mĩ”[22, tr.191] Thời
gian của chuyến thị sát kéo dài gần 2 năm, phái đoàn đã có dịp quan sát một cách tổng quan toàn bộ nền văn minh Âu – Mĩ, những thành quả to lớn của cuộc cách mạng công nghiệp, những điều mới mẻ trong cơ cấu của chế độ tư bản chủ nghĩa Từ đó, phái đoàn đưa ra những kết luận quan trọng về sự tiến bộ vượt bậc
của văn minh phương Tây so với phương Đông “Toàn thể thành viên trong xứ
đoàn đều có nhận thức chung là Nhật Bản cần thiết học tập văn minh phương
Trang 36“Chuyến đi sang Âu – Mĩ không chỉ trang bị cho phái bộ một tầm nhìn quốc tế, có những nhận định tổng quan về văn minh Âu – Mĩ mà còn góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa tiến trình cải cách, đưa Nhật Bản thật sự hội nhập với sự phát triển chung của thế giới”[29, tr.186] Sau chuyến khảo sát phương
Tây, sứ đoàn Iwakura đã có đề xuất quan trọng, Nhật Bản cần phải mời chuyên gia của những nước tiên tiến theo từng lĩnh vực để đẩy nhanh quá trình cận đại hóa đất nước Lĩnh vực mà Nhật Bản ưu tiên học tập là công nghệ và kỹ thuật Theo đó, liên quan đến các lĩnh vực công nghiệp, Nhật Bản thuê nhiều chuyên
gia nước ngoài nhất Tính tổng thể mà nói, “chuyên gia nước ngoài làm việc ở
Bộ Công nghiệp chiếm 1/3 tổng số chuyên gia ở Nhật Bản Trong thời kỳ đầu tỷ
lệ đó lên đến 50% Giáo dục cũng là lĩnh vực được ưu tiên thuê chuyên gia, bộ giáo dục chủ yếu thuê chuyên gia giảng dạy ở các ngành khoa học tự nhiên, y học và ngôn ngữ học, các chuyên gia người Đức chiếm 37,2%, Anh: 22,5%, Mỹ: 20,1%, Pháp: 13%”[22, tr.226] Bộ Hải quân phần lớn thuê các chuyên gia
người Anh huấn luyện Bộ Nội vụ chủ yếu thuê chuyên gia người Đức Bộ Lục quân chủ yếu thuê chuyên gia Pháp Cục Khai khẩn Hokkaido thuê nhiều chuyên gia Mỹ trong các ngành khai khoáng, xây dựng đường sá và sản xuất nông nghiệp Bộ Tài chính chủ yếu thuê các chuyên gia Anh và Pháp giúp đỡ kiến thức tài chính cận đại
Có thể thấy, chính quyền mới rất mạnh tay trong việc thuê chuyên gia nước ngoài nhằm phục vụ công cuộc cận đại hóa đất nước không phải Nhật thuê chuyên gia một cách ồ ạt mà họ có sự lựa chọn các quốc gia có trình độ tiên tiến nhất về lĩnh vực nào thì thuê chuyên gia về lĩnh vực đó Có như vậy, Nhật mới
sớm nắm bắt được những kiến thức tiên tiến nhất để học tập, mới có thể “đi tắt
đón đầu”, tiến kịp các nước tiên tiến nhất thế giới “Mục tiêu lớn nhất của chính phủ Nhật không phải là đơn thuần sử chất xám của chuyên gia mà muốn họ đào tạo những chuyên gia người Nhật để Nhật có thể nhanh chóng tự lập trong việc phát triển đất nước” [22, tr.229]