So sánh hệ thống tài chính Mỹ và hệ thống tài chính Việt Nam BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH BÀI TẬP NHÓM HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA MĨ SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA MĨ VỚI VIỆT NAM Môn Lí thuyết Tài chính – Tiền tệ GV LỜI MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 I Định nghĩa 4 II Bản chất 6 III Hậu quả 7 Ngân hàng 7 Bất động sản 9 IV Vì sao nợ xấu tăng? 10 Nợ xấu tăng có nguyên nhân từ sự yếu kém của các tổ chức tín dụng 10 Nhóm nguyên nhân thuộc môi trường kinh doan.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
************
BÀI TẬP NHÓM:
HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA MĨ
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA MĨ VỚI VIỆT NAM
Môn: Lí thuyết Tài chính – Tiền tệ
GV:
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I/ Định nghĩa : 4
II/ Bản chất 6
III/ Hậu quả 7
Ngân hàng: 7
Bất động sản 9
IV/ Vì sao nợ xấu tăng? 10
Nợ xấu tăng có nguyên nhân từ sự yếu kém của các tổ chức tín dụng 10
Nhóm nguyên nhân thuộc môi trường kinh doanh 12
Nhóm nguyên nhân chủ quan 14
V/ Thực trạng nợ xấu ở Việt Nam 15
1/Quy mô 15
2/Nguyên nhân của thực trạng trên 16
3/ Tỷ lệ nợ xấu Việt Nam thấp hơn một số nước trong khu vực tại thời điểm Chính phủ phải xử lý 16
VI/ Giải pháp cho vấn đề nợ xấu 17
Mô hình Hàn Quốc, Nhật Bản 17
Mô hình Mỹ, Trung Quốc 19
Thực tế giải quyết nợ xấu ở Việt Nam hiện nay 19
*Những giải pháp cụ thể đối với Việt Nam 21
KẾT LUẬN 24
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH VIÊN 26
Trang 3Lời mở đầu:
Nợ xấu là vấn đề gây “nhức nhối”, cũng như được nhắc đến nhiềunhất đối với lĩnh vực tài chính nói chung hay ngân hàng nói riêng, là mộtvấn đề quan trọng của nền kinh tế thị trường hiện nay, ảnh hưởng đến sứckhoẻ và tương lai của nền kinh tế Do đó việc tìm hiểu đặc điểm, bản chất vàphân tích kĩ càng phạm trù nợ xấu trong ngân hàng là một trong những điềuquan trọng mà sinh viên Kinh tế, đặc biệt là sinh viên chuyên ngành TàiChính Ngân Hàng chúng em cần phải có
Dưới sự hướng dẫn của giảng viên là PGS TS Bùi Thị Mai Hoàichúng em đã có những hiểu biết cơ bản và nhất định về các định chế tàichính, bên cạnh đó để gia tăng thêm khả năng tìm hiểu cũng như hiểu mộtcách tường tận và sâu sắc hơn, nhóm chúng em xin trình bày những thảoluận về Nợ công trong ngân hàng Việt Nam
Với việc nghiên cứu từ những tài liệu trên mạng để tìm ra nhữngnguyên nhân và giải pháp cho vấn đề nợ công, nhận biết được thực trạngphát triển của nền tài chính Việt Nam, chính điều này sẽ định hướng chochúng em một tầm nhìn mới để phát triển tư duy, sáng tạo đồng thời chúng
em sẽ nhận biết rằng ngành Ngân Hàng Việt Nam chúng ta đang ở đâu vàcần phải làm những gì, thực hiện những công việc gì cũng như cách vậnhành của nó, tạo những hiểu biết thuận lợi cho công việc về sau
Trong bài phân tích của nhóm em có sử dụng những tài liệu trong vàngoài nước, chúng em sẽ trích dẫn ở phần cuối của bài phân tích
Bài phân tích của chúng em chắc chắn không thể tránh được nhữngsai sót, hi vọng sẽ được cô giúp đỡ, bên cạnh đó chúng em sẽ đảm bảo tínhđúng đắn của những tài liệu chúng em sử dụng Chúng em xin cảm ơn cô rấtnhiều
Trang 4NỘI DUNG
I/ Định nghĩa :
Định nghĩa nợ xấu của Việt
Nam được đề cập tại Quyết định
493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước
ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà
nước như sau:“Nợ xấu là những
khoản nợ được phân loại vào nhóm 3
(dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và
nhóm 5 (có khả năng mất vốn).”
Các nhóm nợ này được đề cập chi tiết tại điều 6 :
“c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại;
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3
và Khoản 4 Điều này
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại;
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3
và Khoản 4 Điều này
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời
hạn đã được cơ cấu lại;
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3
và Khoản 4 Điều này.”
Trang 5Và điều 7 của Quyết định nói trên:
“c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổchức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đếnhạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổnthất một phần nợ gốc và lãi
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tíndụng đánh giá là khả năng tổn thất cao
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)bao gồm: Các khoản nợ được tổchức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.”
Còn theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc, “về
cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên
90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, táicấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đãquá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năngkhoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”
Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá hạntrên 90 ngày và khả năng trả nợ nghi ngờ
Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổnthất cho doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ chodoanh nghiệp là không thể được thu thập, và tất cả những nỗ lực hợp lý đãđược tận dụng để thu thập các số tiền nợ Điều này thường xảy ra khi cáccon nợ đã tuyên bố phá sản hoặc chi phí của việc theo đuổi hành động hơnnữa trong một nỗ lực để thu thập các khoản nợ vượt quá các khoản nợ củachính nó
Trang 6Nợ xấu đại diện cho tiền bị mất do một doanh nghiệp là lý do tại sao
nó được coi là một khoản chi phí
Riêng đối với ngân hàng : nợ xấu ngân hàng là do khách hàng vay vốn
sử dụng vốn vay không hiệu quả
Nợ xấu đang là gánh nặng không chỉ cho hệ thống ngân hàng, mà còn cho cả nền kinh tế Để giải bài toán trên thì cần có những biện pháp
“mạnh tay” hơn đối với các nguyên nhân gây ra rủi ro chéo trong hệ thống ngân hàng.
III/ Hậu quả
Bản chất của nợ xấu ngân hàng
là do khách hàng vay vốn sử dụng vốn
vay không hiệu quả Nợ xấu thường
phát sinh sau một chu kỳ vay vốn,
thậm chí sau một thời gian dài Hiện
nợ xấu trên thực tế rơi vào một số lĩnh
vực về sản xuất, công nghiệp, xây dựng Đây là những lĩnh vực chịu tácđộng lớn bởi thị trường bất động sản đóng băng
Nói đầu tư chéo là các giao dịch do các định chế tài chính thực hiện
thông qua các định chế tài chính khác và thông thường là các định chế thuộclĩnh vực khác Chẳng hạn, các ngân hàng thương mại đầu tư cho các doanhnghiệp nhưng thông qua công ty chứng khoán hoặc công ty bảo hiểm Còn
sở hữu chéo là các khoản đầu tư tài chính do các định chế tài chính hoặc các
doanh nghiệp thực hiện để sở hữu vốn của nhau Thông thường sở hữu chéo
sẽ tạo ra cơ hội để cổ đông chi phối định chế tài chính thực hiện đầu tư chéotheo chủ đích của họ Sở hữu chéo bản thân nó là một chất dẫn lan truyền rủi
ro giữa các định chế, các doanh nghiệp khi cổ đông gặp khó khăn trong hoạtđộng kinh doanh và tài chính Nếu có thêm hoạt động đầu tư chéo, quy mô
Trang 7của sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ được khuyếch đại và làm gia tăng mức độ lantruyền rủi ro hệ thống.
Chúng ta đã nhận biết từ khá lâu sởhữu chéo sẽ gây rủi ro cho hệ thống tàichính Chính vì vậy, khi sửa đổi Luật Ngânhàng Nhà nước và Luật tổ chức tín dụngvào năm 2010, chúng ta đã giới hạn phạm
vị, đối tượng, quy mô được sở hữu vốn tại
tổ chức tín dụng áp dụng cho cả tổ chức vàthể nhân, đồng thời hạn chế sở hữu vốngiữa các tổ chức tín dụng
Bảng cân đối kế toán của các ngânhàng (NH) chiếm tỷ lệ nợ xấu cao, đồngnghĩa với việc NH sẽ không thể cho vay và các DN không tiếp cận được vốn
để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Tình trạng này kéo dài sẽ gâyảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế của đất nước trong những năm tiếptheo
Khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và vôhình đối với xử lý nợ xấu càng lớn Về mặt hữu hình là việc các tài sản cầm
cố tại ngân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng
sẽ mất dần, nếu nợ xấu được xử lý nhanh thì các tài sản này sẽ được đem ra
sử dụng nhanh chóng, tạo nên giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh tế Vềmặt vô hình khi quá trình xử lý nợ xấu kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm củaViệt Nam sẽ khó mà duy trì được mức tín nhiệm như hiện nay, điều này gâyảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư
Tuy nhiên, đáng lo hơn là những con số nợ này đang kìm hãm nềnkinh tế, và nó dễ dàng vô hiệu hóa các biện pháp phục hồi kinh tế nếu chúng
ta không tính tới nó
Những khoản nợ này kéo theo các vụ đòi nợ lùm xùm theo kiểu xã hộiđen, kiện cáo tập thể… gây mất trật tự xã hội, đẩy nhanh sự phá sản cácdoanh nghiệp, làm chùn chân nhiều kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh
Lượng doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản sẽ tiếp tục gia tăng dovẫn đang có nợ xấu tại ngân hàng, hàng hóa chậm tiêu thụ Như vậy, nềnkinh tế sẽ mất đi một lượng vốn lớn, do vốn không được quay, dòng tiềntrong nền kinh tế không lưu thông được, hệ thống ngân hàng tiếp tục khó
Trang 8khăn về thanh khoản.Điều này sẽ đe dọa đến sự phát triển bền vững của hệthống tài chính nợ xấu tiếp tục ở mức cao khiến doanh nghiệp càng thêmkhó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, còn ngân hàng thì sẽ ngày càng
bị ăn mòn vào lợi nhuận
Nhưng khi nợ xấu đã đến ngưỡng báo động, nếu cứ để các ngân hàngthương mại và doanh nghiệp tự xử lý, thì số lượng doanh nghiệp dừng hoạtđộng, phá sản sẽ tiếp tục gia tăng do vẫn đang có nợ xấu tại ngân hàng, hàng
Như vậy, nền kinh tế sẽ mất đi một lượng vốn lớn, do vốn không đượcquay, dòng tiền trong nền kinh tế không lưu thông được, hệ thống ngân hàngtiếp tục khó khăn về thanh khoản Điều này sẽ đe dọa đến sự phát triển bềnvững của hệ thống tài chính Khi nợ xấu quá ngưỡng cho phép (dưới 5% trêntổng dư nợ là bình thường), thì phải có biện pháp xử lý nợ xấu từ nhiều phía,trong đó có biện pháp từ phía cơ quan quản lý nhà nước
Nếu nợ xấu tiếp tục ở mức cao sẽ khiến doanh nghiệp càng thêm khókhăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, còn ngân hàng thì sẽ ngày càng bị
ăn mòn vào lợi nhuận Đây cũng là một trong những lý do làm chậm tốc độtăng tín dụng quá thấp
Bất động sản
Tỷ lệ nợ xấu đối với lĩnh vực chovay bất động sản thương mại và bất độngsản dân dụng mặc dù trong các báo cáo
là không thật sự lớn, tuy nhiên có thể vì
lý do nào đó trong phương án kinhdoanh, số tiền cho vay lẽ ra được rót vàocác lĩnh vực sản xuất nhưng kỳ thực lạiđược rót vào bất động sản hoặc lĩnh vựcphi sản xuất Không thể có số liệu thống
kê chính thức trong lĩnh vực này nhưng có thể dư nợ cho vay loại này không
hề nhỏ đối với nền kinh tế, tình trạng bất động sản xuống giá như thời gianvừa qua càng làm cho nhu cầu đối với bất động sản giảm mạnh, hàng tồnkho về bất động sản ngày càng tăng lên, các DN bất động sản bắt buộc phảiliên tục hạ giá bán nhưng vẫn không thể bán được, quá trình này diễn ra liêntục trong thời gian dài dẫn tới hiện tượng bán tháo, tuột dốc không phanh,
Trang 9khi đã dẫn tới tình trạng bán tháo mà vẫn không có người mua thì số tiền màcác DN bất động sản bán được cũng không thể nào trả được hết nợ gốc chongân hàng
IV/ Vì sao nợ xấu tăng?
Nợ xấu tăng có nguyên
nhân từ sự yếu kém của các tổ
chức tín dụng
Nhưng cơ bản nhất vẫn là
nguyên nhân có tính hệ thống
Chính sách tiền tệ nới lỏng
để kích thích tăng trưởng không
kiểm soát được dẫn đến đầu tư
công tràn lan, dàn trải, mở rộng
quy mô một cách duy ý chí bất chấp nhu cầu thật của phát triển kinh tế - xã hội.
Tình trạng thiếu cơ chế giám sát, quản lý không minh bạch đã dungdưỡng cho căn bệnh lãng phí, quan liêu, tham nhũng hoành hành, khiếnnguồn vốn lớn bỏ ra không thu hồi được, làm gánh nặng nợ xấu tăng lên.Chính sách tăng trưởng dựa vào doanh nghiệp nhà nước và sự yếu kém củacông tác giám sát các quan hệ sở hữu chéo giữa các ngân hàng với nhau vàgiữa ngân hàng với khu vực doanh nghiệp cũng khiến cho nợ xấu tăng lênnhanh chóng Đây có thể coi là những nguyên nhân sâu xa làm gia tăng nợxấu mà muốn ngăn chặn cần phải có những giải pháp để khắc phục tận gốc
Một đặc điểm của chính sách kinh tế Việt Nam là lấy doanh nghiệpnhà nước làm chủ đạo và chính sách khiếm hụt ngân sách để thúc đẩy tăngtrưởng Không thể phủ nhận rằng chính sách khiếm hụt ngân sách mà con đẻcủa nó là đầu tư công và khu vực kinh tế nhà nước đã đóng vai trò to lớntrong quá trình công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế, nhất là trong thời kỳđầu đổi mới
Tuy nhiên, đáng tiếc, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhànước ngày càng kém hiệu quả và đang bộc lộ rõ xu hướng độc quyền Đặcđiểm này đã tạo ra cho các doanh nghiệp nhà nước một sân chơi được ưu áiđặc biệt Doanh nghiệp nhà nước được cấp tín dụng khá dễ dãi từ hệ thốngcác ngân hàng thương mại, được quyền vay tín chấp hoặc vay theo sự chỉđạo của chính phủ trong khi khu vực kinh tế dân doanh phải kiểm soát rất
Trang 10ngặt nghèo Vì được ưu ái, nhiều doanh nghiệp nhà nước coi tín dụng là bầusữa vô tận.
Với tâm lý “vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy”, họ vay mượn xả láng
và sử dụng đồng vốn một cách vô tư Họ thoải mái đầu tư vô tội vạ ra ngoài
ngành nghề chính Kết quả của sự dễdãi bất thường này cùng với sự buônglỏng kiểm soát của nhà nước đối vớivốn chủ sở hữu, khả năng quản trịdoanh nghiệp kém đã dẫn đến một hệquả tất yếu: hệ số nợ phải trả/vốn chủ
sở hữu ngày càng cao ngất ngưởng
Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tàichính Vương Đình Huệ trước Quốc hội vừa qua càng làm rõ tình hình trên.Theo báo cáo này, có đến 30 tập đoàn, tổng công ty có hệ số nợ phải trả/vốnchủ sở hữu công ty lớn hơn 3 lần Trong đó có 12 tập đoàn, tổng công ty có
hệ số nợ từ 3 - 5 lần 10 doanh nghiệp có hệ số từ 5 đến 10 lần 8 doanhnghiệp có hệ số trên 10 lần
Trong khi đó, cũng theo Bộ trưởng Vương Đình Huệ, hệ số nợ trênvốn tự có trung bình của doanh nghiệp là 1,77, nghĩa là khoảng 64% là vốnvay Với tỷ lệ này, chỉ tính lãi suất 15%, lợi nhuận doanh nghiệp phải đạt10% trở lên mới hòa vốn Lợi nhuận dưới 10% sẽ mất khả năng chi trả Nhưvậy, 30 doanh nghiệp có vốn vay/vốn chủ sở hữu từ 3 lần trở lên, cùng vớinhiều doanh nghiệp nhà nước khác, khó có khả năng trả nợ Báo cáo của Ủyban Tài chính và Ngân sách trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã minhchứng: số nợ xấu nằm ở khu vực doanh nghiệp nhà nước lên đến 70%, trong
đó các tập đoàn, tổng công ty chiếm 53%
Nhưng nợ xấu ở Việt Nam còn gắn chặt với một hoạt động kinh doanhkhác: kinh doanh bất động sản Nhìn thấy lợi nhuận khổng lồ trong bất độngsản, lợi dụng chính sách nới lỏng tiền tệ của Nhà nước, hoạt động kinhdoanh bất động sản phát triển tự phát theo kiểu “trăm hoa đua nở” Cácdoanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn đua nhau vay tiền đổ vào các
dự án đô thị, các khu công nghiệp Cơn sốt bất động sản cũng kéo người dân
đổ xô vào vay tiền ngân hàng để đầu tư
Kết quả là cung vượt quá cầu Giá bất động sản bị thổi phồng quá giátrị thực của hàng hóa và quá sức mua của người dân Bong bóng bất động
Trang 11sản vỡ Hàng tồn kho bất động sản tăng mạnh khiến cho nợ xấu của khu vựcnày tăng cao Ngoài ra, tỷ lệ thế chấp khoảng 60% vốn vay ở các ngân hàng
ở các lĩnh vực khác là bất động sản khi cần không thanh lý được cũng làmtăng thêm gánh nặng nợ xấu cho nền kinh tế
Nhóm nguyên nhân thuộc môi trường kinh doanh
Kể từ cuối năm 2008, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộckhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm
phát cao và hiện nay là suy giảm tốc độ tăngtrưởng kinh tế trong nước, do đó môi trườngkinh doanh và hoạt động ngân hàng gặp nhiềukhó khăn làm cho chất lượng tín dụng suy giảm
và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tíndụng Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăngtrưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưngtốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân
51% Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng từ năm
2011 chậm lại đáng kể, đặc biệt là 5 tháng đầunăm 2012 dư nợ tín dụng không tăng nhưng nợxấu tăng tới 45,5% do tình hình kinh doanh vàtài chính của các doanh nghiệp suy giảm mạnh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu chậm lại từ năm 2011: Năm
2011, tăng trưởng kinh tế 5,89% Trong 6 tháng đầu năm 2012, tăng trưởngkinh tế ước chỉ đạt 4,38% so với cùng kỳ năm 2011 (cùng kỳ năm 2011 tăng5,57%)
Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng chậm, thấp hơn so với cùng kỳ cácnăm trước: Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2011 tăng 6,8% so với năm
2010 Tính chung 06 tháng đầu năm 2012, chỉ số sản xuất công nghiệp chỉtăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, chỉ bằng 45% m ức tăng 6 tháng đầunăm 2011 (9,7%) Giá trị sản xuất xây dựng trong 6 tháng đầu năm 2012theo giá so sánh năm 1994 chỉ bằng 99,6% so với cùng kỳ năm 2011 Ngànhxây dựng gặp nhiều khó khăn do hoạt động đầu tư tăng chậm, thị trường bấtđộng sản trầm lắng kéo dài Nhiều công trình, dự
án xây dựng giãn tiến độ hoặc dừng khởi công làm cho nhu cầu nguyên vậtliệu xây dựng không tăng cao, nhiều sản phẩm tiêu thụ khó khăn (như ximăng, sắt thép,…)
Trang 12Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp: Chỉ
số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2011 tăng 6,2% so vớinăm 2010 Trong 5 tháng đầu năm 2012, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệpchế biến, chế tạo chỉ tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước
Tiêu dùng cá nhân tăng chậm: Tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanhthu dịch vụ năm 2011 tăng 24,2% so với năm 2010 và chỉ tăng 4,7% nếu loạitrừ đi yếu tố giá
Tính chung 06 tháng đầu năm 2012, tổng mức hàng hóa bán lẻ vàdoanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước,nếu loại trừ yếu tố giá thì chỉ tăng 6,5%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ cácnăm trước
Chỉ số tồn kho tăng mạnh và ở mức cao so với cùng kỳ các năm trước.Cuối năm 2011, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng23% so với cùng kỳ năm 2010 Tại thời điểm 01/6/2012, chỉ số hàng tồn khocủa ngành công nghiệp chế biến tăng 26% so với cùng kỳ năm trước Điềunày phản ánh khả năng tiêu thụ sản phẩm cũng như sức cầu tiêu dùng củanền kinh tế đang ở mức rất yếu dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh
và làm tăng nợ xấu của các TCTD
Khách hàng vay của TCTD có tình hình
tài chính suy giảm, kém lành mạnh hoặc kinh
doanh thua lỗ Sản xuất kinh doanh phải đối
mặt với vấn đề chi phí cao, lãi suất ngân hàng
cao, thiếu vốn, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó
khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính,
kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ vay ngân
hàng của doanh nghiệp Theo báo cáo của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp
giải thể, tạm ngừng hoạt động tăng nhanh: Năm
2011 có 79.014 doanh nghiệp và tính từ đầu
năm đến ngày 21/6/2012 có khoảng 25.250 doanh nghiệp, tăng 8,1% so vớicùng kỳ năm 2011 (23.358 doanh nghiệp bị phá sản trong 6 tháng đầu năm2011)
Nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựavào vốn vay
Trang 13ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môitrường kinh doanh hạn chế Vì vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chínhsách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng thì các doanh nghiệp dễ gặp khókhăn về khả năng trả nợ.
Theo kết quả giám sát của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng,đến cuối tháng 3/2012 trong hơn 1 triệu khách hàng được chọn mẫu khảo sáttại 57 TCTD của Việt Nam có 10.782 khách hàng có hệ số nợ/vốn chủ sởhữu từ 3 lần trở lên
Nhóm nguyên nhân chủ quan
Hầu hết các TCTD theo đuổi
chiến lược tăng trưởng tín dụng nhanh
trong khi năng lực quản trị rủi ro của
TCTD còn nhiều hạn chế và chậm được
cải thiện, đặc biệt là các NHTMCP
chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị dẫn
đến nợ xấu tăng nhanh hơn dư nợ tín
dụng Một bộ phận không nhỏ vốn tín
dụng và nhiều TCTD tập trung đầu tư
vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, chẳng hạn bất động sản Khi các lĩnhvực này, đặc biệt là thị trường bất động sản đóng băng và giá bất động sảngiảm sâu kéo theo nợ xấu cho vay lĩnh vực này tăng nhan h
Ngoài ra, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng trong một thời gian dàichưa phát huy hiệu quả cao trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thờicác vi phạm, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, nhất là các
vi phạm quy định hạn chế cấp tín dụng và đầu tư quá mức vào một số lĩnhvực tiềm ẩn rủi ro cao
V/ Thực trạng nợ xấu ở Việt Nam