1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021

53 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Kiến Thức Và Thực Hành Dự Phòng Té Ngã Cho Sản Phụ Sau Sinh Của Điều Dưỡng Tại Bệnh Viện Đa Khoa Quốc Tế Vinmec Năm 2021
Tác giả Cao Thị Lan Hương
Người hướng dẫn TS. Vũ Văn Đẩu
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều Dưỡng Sản Phụ Khoa
Thể loại báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được số liệu cụ thể về thực trạng kiến thức và thực hành của điều dưỡng trong việc phòng ngừa té ngã cho người bệnh cũng như cung cấp bằng chứng về hoạt động đảm bảo an toàn người

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

CAO THỊ LAN HƯƠNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH DỰ PHÒNG TÉ NGÃ CHO SẢN PHỤ SAU SINH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

QUỐC TẾ VINMEC NĂM 2021

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2021

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

CAO THỊ LAN HƯƠNG

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH DỰ PHÒNG TÉ NGÃ CHO SẢN PHỤ SAU SINH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

QUỐC TẾ VINMEC NĂM 2021

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Điều dưỡng Sản phụ khoa

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

TS VŨ VĂN ĐẨU

NAM ĐỊNH – 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, các bạn đồng nghiệp, Nhà trường, bệnh viện, đơn vị công tác và những người thân trong gia đình

Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học,

bộ môn Điều dưỡng Sản phu khoa, các thầy cô giảng dạy của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn tôi TS.Vũ Văn Đẩu, đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City, Tập thể y bác sỹ, điều dưỡng cán bộ Trung Tâm Chăm Sóc Sức Khỏe Phụ Nữ đã cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng, tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến những người thân yêu trong gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè gần xa, đặc biệt là các anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi

về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành chuyên đề này

Cuối cùng tôi cũng xin kính chúc chủ tịch hội đồng cùng các thầy, cô trong hội đồng thật nhiều sức khỏe, hạnh phúc, thành công trong sự nghiệp trồng người cũng như trong cuộc sống

Nam Định, ngày 31 tháng 08 năm 2021

Học viên

CAO THỊ LAN HƯƠNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi là Cao Thị Lan Hương, học viên chuyên khoa I khóa 8, chuyên ngành Sản Phụ Khoa, Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định xin cam đoan:

1 Đây là báo cáo chuyên đề do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Văn Đẩu

2 Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này!

Học viên

CAO THỊ LAN HƯƠNG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC i

DANH MỤC HÌNH VẼ iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ Sở Lý Luận 3

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 3

1.1.2 Nguyên nhân gây té ngã ở NB 6

1.1.3 Hậu quả của té ngã sau sinh 8

1.1.4 Các biện pháp phòng ngừa té ngã ở NB [1] 9

1.1.5 Xử trí khi NB té ngã [1] 10

1.1.6 Té ngã và an toàn người bệnh trong chính sách y tế 11

1.2 Cơ Sở Thực Tiễn 15

1.2.1 Khái quát về té ngã và phòng ngừa té ngã trong bệnh viện trên thế giới và tại Việt Nam 15

1.2.2 Một số nghiên cứu về té ngã và phòng ngừa té ngã trong bệnh viện 18 CHƯƠNG 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 22

2.1 Vài nét về Hà Nội và Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec 22

2.2 Thực trạng kiến thức, thực hành của Điều dưỡng viên về phòng ngừa té ngã cho người bệnh 23

Trang 6

2.2.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 23

2.2.2 Kiến thức và thực hành của Điều dưỡng về phòng ngừa té ngã cho người bệnh 24

CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 26

3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Thực trạng kiến thức, thực hành của Điều dưỡng viên về phòng ngừa té ngã cho người bệnh trước can thiệp 27

3.2.1 Kiến thức 27

3.2.2 Thực hành 28

3.3 Điểm mạnh và điểm yếu của nghiên cứu 28

KẾT LUẬN 30

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 31

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1: Nhà vệ sinh có tay vịn cho người bệnh 32

Hình 2: Biển cảnh báo nguy cơ ngã 33

Hình 3: Hệ thống tay vịn tại hành lang khoa nội trú 33

Hình 4: Hệ thống chuông gọi ĐD ngay tại giường bệnh 34

Hình 5: Xe đẩy và cáng vận chuyển người bệnh 34

Hình 6: Hộp chuông báo cấp cứu treo tường 35

Hình 7: Chuông báo cấp cứu trong phòng vệ sinh 35

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm đối tượng (n=68) 23 Bảng 2.2 Xếp loại điểm kiến thức của Điều dưỡng viên về phòng ngừa té ngã (n=68) 24 Bảng 2.3 Phân loại thực hành Điều dưỡng viên về dự phòng nguy cơ té ngã (n=68) 24 Bảng 2.4 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng với kiến thức phòng ngừa té ngã (n=68) 24 Bảng 2.5 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng với tuân thủ đánh giá nguy cơ té ngã (n=68) 25

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Té ngã là một trong sáu sự cố y khoa được phân loại dựa trên đặc điểm chuyên môn theo Hiệp hội An toàn người bệnh Mỗi năm có khoảng 37,3 triệu ca té ngã cần đến sự thiết lập của y tế, hướng dẫn đến 646.000 ca tử vong do té ngã trên toàn cầu

Té ngã là nguyên nhân hàng thứ hai gây tử vong do thương tích không chủ ý sau tai nạn giao thông và thường gặp ở những người từ 65 tuổi trở lên Tại Việt Nam, theo một thống kê tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, té ngã chiếm 92,31% trong các sự cố Y khoa thường có trong bệnh viện [1] Té ngã mang lại hậu quả to lớn về không chỉ đến sức khỏe mà còn tác động xấu đến chi phí điều trị cho người bệnh Với đặc thù nghề nghiệp của mình, Điều dưỡng có thời gian thiết lập bệnh với các đối tượng khác cao hơn, bảo đảm an toàn cho người bệnh nói chung và phòng té ngã cho người bệnh nói riêng là nhiệm vụ quan trọng lượng Thông tư số 19/2013/TT-BYT của Bộ Y tế đã nêu rõ căn cứ người bệnh té ngã

là một trong những nội dung khi thiết lập chương trình và xây dựng các quy định có thể bảo đảm an toàn cho người bệnh và nhân viên y tế [5] Tại Hà Nội, trong những năm qua, ngành Y tế Hà Nội đã thực hiện các giải pháp nhắm mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về công tác phòng té ngã cho người bệnh và tại Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế Vinmec Hầu hết các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào việc khám phá nguyên nhân và cách

xử trí té ngã ở người lớn tuổi và bệnh nhân tâm thần trong khi trên thực tế, phụ nữ sau sinh có nguy cơ bị ngã rất cao

Sản phụ luôn bị mất máu khi sinh, có thể gây suy nhược cơ thể và tính đàn hồi của mạch không hồi phục ngay sau khi sinh, có thể gây hạ huyết áp tư thế Cả hai tình huống đều có thể gây ra ngất xỉu hoặc ngã xuống khi thay đổi tư thế nhanh chóng hoặc đứng lên Đây là điểm khác biệt đáng chú ý giữa ngã sau sinh và các loại ngã khác Ngã sau khi sinh có thể dẫn đến các chấn thương như bầm tím, rách da, gãy xương và thậm chí xuất huyết nội sọ, hậu quả là có thể dẫn đến thời gian nằm viện kéo dài, tăng chi phí y tế và tăng gánh nặng xã hội và tài chính cho bệnh nhân vì nạn nhân có phải trả nhiều tiền hơn khi nằm viện kéo dài và họ cần nhiều thời gian hơn

để hồi phục Chưa kể vấn đề sơ sinh sau sinh không được sự chăm sóc và nuôi dưỡng

từ người mẹ Do đó, giảm tỷ lệ ngã sau sinh là rất quan trọng đối với chăm sóc y tế

Trang 11

Để có được số liệu cụ thể về thực trạng kiến thức và thực hành của điều dưỡng trong việc phòng ngừa té ngã cho người bệnh cũng như cung cấp bằng chứng về hoạt động đảm bảo an toàn người bệnh tại bệnh viện, tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec năm 2021” với mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec năm 2021

2 Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec năm 2021

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm về té ngã, nguy cơ té ngã và phòng ngừa té ngã

 Khái niệm về té ngã

Viện Thông tin Y tế Canada (2002): “té ngã là sự thay đổi tư thế không chú ý

mà kết quả là cơ thể nằm xuống nền nhà hoặc hành lang” [14]

Tideiksaar (2002): “té ngã là bất kỳ biến cố mà một người vô tình hay cố ý nằm xuống nền nhà hoặc một vị trí thấp hơn như ghế tựa, nhà vệ sinh hay giường ngủ

" [16]

Tổ chức Y tế thế giới (2018) đưa ra khái niệm: “té ngã là một biến cố dẫn đến việc một người không chú ý nằm xuống mặt đất hoặc sản nhà hay một vị trí thấp khác” [19] Đây là khái niệm mang tính tổng quát nhất so với những khái niệm trên

 Nguy cơ té ngã

Theo WHO những yếu tố nguy cơ dẫn đến té ngã có thể ảnh hưởng đến phân loại và mức độ nghiêm trọng của chấn thương do té ngã [19]

- Các yếu tố nguy cơ khó can thiệp:

Tuổi tác là một trong những yếu tố nguy cơ chính cho việc té ngã Người già

có nguy cơ cao bị những chấn thương nghiêm trọng hoặc tử vong phát sinh do ngã và nguy cơ tăng theo tuổi Tại Hoa Kỳ, có từ 20-30% người già phải chịu các chấn thương

từ trung bình đến nặng như vết bầm tím, gãy xương hông hoặc chấn thương đầu Nguyên nhân có thể do những thay đổi về thể chất, cảm giác và nhận thức liên quan đến lão hóa, kết hợp với sự không thích nghi với môi trường ở người già

Một nhóm nguy cơ cao khác là trẻ em, thời thơ ấu xảy ra té ngã phần lớn là do giai đoạn đang phát triển của chúng, sự tò mò bẩm sinh trong môi trường xung quanh

và mức độ độc lập ngày càng tăng cùng với các hành vi thiếu kiểm soát thường làm tăng nguy cơ mắc bệnh” Mặc dù việc giám sát của người lớn không đầy đủ là một yếu

tố rủi ro thường được đề cập đến, nhưng các trường hợp té ngã ở trẻ em thường liên quan đến tình trạng nghèo đói, làm cha mẹ đơn thân và môi trường đặc biệt nguy hiểm

Trang 13

Trên tất cả các nhóm tuổi và khu vực, cả hai giới đều có nguy cơ bị té ngã Ở một số quốc gia, tỷ lệ nam giới tử vong do ngã cao hơn nữ giới Phụ nữ lớn tuổi và trẻ nhỏ đặc biệt dễ bị té ngã và tăng mức độ nghiêm trọng của chấn thương Trên toàn thế giới, nam giới luôn duy trì tỷ lệ tử vong và số năm cuộc sống bị mất đi do té ngã cao hơn nữ giới Giải thích có thể về gánh nặng lớn hơn được thấy ở nam giới bao gồm mức

độ rủi ro cao hơn, thực hiện các hành vi và mối nguy hiểm trong nghề nghiệp

- Các yếu tố nguy cơ có thể can thiệp:

Nghề nghiệp ở độ cao hoặc điều kiện làm việc nguy hiểm khác Sử dụng rượu bia hoặc các chất kích thích Các yếu tố kinh tế xã hội bao gồm nghèo đói, nhà ở quá đông đúc, làm cha mẹ đơn thân, tuổi mẹ trẻ Tình trạng sức khỏe: bệnh thần kinh, tim mạch Tác dụng phụ của thuốc, không hoạt động thể lực và mất thăng bằng (ở người cao tuổi) Khả năng di chuyển, nhận thức và thị lực kém, đặc biệt là những người sống trong viện dưỡng lão hoặc cơ sở chăm sóc mãn tính Môi trường không an toàn, đặc biệt là với những người thăng bằng kém và tầm nhìn hạn chế

 Phòng ngừa té ngã

Phòng ngừa nói chung, theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “làm một cái gì đó trước khi sự việc, hiện tượng diễn ra nhằm ngăn chặn không để xảy ra hậu quả” [7] Luận điểm này thường được áp dụng đối với các hiện tượng xấu, phức tạp, ảnh hưởng tới cuộc sống con người và xã hội Như vậy có thể suy rộng ra phòng ngừa té ngã cho người bệnh của điều dưỡng viên là các hoạt động tác động lên người bệnh của người điều dưỡng nhằm mục đích ngăn chặn không để xảy ra té ngã khi người bệnh điều trị tại cơ sở y tế

1.1.1.2 Khái niệm về điều dưỡng, kiến thức và thực hành của người điều dưỡng

 Khái niệm về điều dưỡng

Điều dưỡng bao gồm các hoạt động chăm sóc tự chủ và kết hợp của các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, có bệnh hoặc khỏe mạnh ở trong tất cả các cơ sở y tế Điều dưỡng giúp tăng cường sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và chăm sóc người bệnh, người tàn tật và chăm sóc cuối đời Tham gia vận động chính sách, thúc đẩy môi trường an toàn, nghiên cứu, định hình chính sách y tế, quản lý hệ thống y tế, giáo dục sức khỏe cũng là những vai trò quan trọng của điều dưỡng

Trang 14

 Khái niệm về điều dưỡng viên

Điều dưỡng viên là người đã hoàn thành một chương trình giáo dục điều dưỡng

cơ bản, tổng quát và được ủy quyền bởi cơ quan quản lý thích hợp để thực hành điều dưỡng tại quốc gia của mình Giáo dục điều dưỡng cơ bản là một chương trình nghiên cứu được công nhận chính thức cung cấp nền tảng rộng rãi và vững chắc về khoa học hành vi, đời sống và kỹ năng thực hành điều dưỡng nói chung, cho vai trò định hướng

và giáo dục sau cơ bản của chuyên ngành điều dưỡng hoặc thực hành nâng cao

 Kiến thức và thực hành của người điều dưỡng

- Kiến thức là sự nhận thức hoặc thành thạo có được từ kinh nghiệm, thông tin

về sự vật, hiện tượng Nó là tập hợp sự hiểu biết về lý thuyết và thực hành về một lĩnh vực của con người Kiến thức thường được tích lũy qua học tập, qua kinh nghiệm sống Kiến thức được cung cấp bởi các giáo viên, cha mẹ, bạn bè, sách vở, báo chí

và kiến thức của mỗi người được tích lũy trong suốt cuộc đời [11] Tập hợp những kiến thức đã được hệ thống hóa gọi là tri thức, có 2 hệ thống tri thức là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học

+ Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định và là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học

+ Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,

Như vậy, kiến thức điều dưỡng là tập hợp sự hiểu biết lý thuyết về lĩnh vực điều dưỡng Kiến thức điều dưỡng được tích lũy qua quá trình học tập chuyên nghiệp của sinh viên điều dưỡng tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có đào tạo về chuyên ngành điều dưỡng cũng như quá trình công tác của người điều dưỡng viên

Trang 15

sau này Kiến thức điều dưỡng vừa là tri thức kinh nghiệm, vừa là tri thức khoa học của người điều dưỡng

- Thực hành điều dưỡng là ứng dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ trong việc giảm bớt, hỗ trợ hoặc nâng cao phản ứng của cá nhân, cộng đồng đối với các vấn đề sức khỏe hiện tại hay tiềm tàng Nó tập trung vào việc thúc đẩy, bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa thương tích hoặc bệnh tật và chăm sóc người bệnh, người tàn tật để xác định nhu cầu điều dưỡng trong duy trì, tối ưu hóa sức khỏe hay chăm sóc giảm nhẹ lúc cuối đời

- Có nhiều phương pháp để đánh giá kiến thức và thực hành điều dưỡng Việc lựa chọn phương pháp đánh giá phụ thuộc vào từng chủ đề và lĩnh vực cụ thể Đối với đánh giá kiến thức điều dưỡng, hiện nay người ta thường xây dựng những bộ câu hỏi trắc nghiệm tự điền, tốt nhất là sử dụng bộ câu hỏi được xây dựng bởi những tổ chức, những nhà khoa học có uy tín và đã chứng minh tính hiệu quả, được ứng dụng rộng rãi Còn đối với đánh giá thực hành điều dưỡng, bảng kiểm quan sát được dùng như là một phương pháp phổ biến

1.1.2 Nguyên nhân gây té ngã ở NB [17]

Phụ nữ sau sinh hiếm khi có một nguyên nhân đơn thuần hoặc yếu tố nguy cơ gây ngã Ngã thường do một sự tương tác phức tạp giữa những điều sau đây:

1.1.2.1 Nguyên nhân nội tại

- Tuổi: phụ nữ trên 40 tuổi nếu sinh con nguy cơ té ngã sau sinh cao hơn so với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

- Tình trạng dinh dưỡng

 Suy dinh dưỡng hay thừa cân béo phì đều có nguy cơ té ngã như nhau

 Tình trạng dinh dưỡng tiết chế không hợp lý dễ đưa tới tình sạng suy nhược chung của cơ thể

- Thị lực kém: Nếu NB không đeo kính khi di chuyển ở môi trường không quen thuộc, ánh sáng không đủ hoặc làm gia tăng nguy cơ té ngã

- Nghe kém: Các nội dung được Điều dưỡng tư vấn NB có thể không tiếp thu được hết dẫn đến thiếu kiến thức để chủ động phòng tránh té ngã cho bản thân

- Suy giảm khối lượng tuần hoàn tỷ lệ thuận với nguy cơ ngã Sau sinh NB thường mất khoảng 200 - 300 ml máu làm tụt huyết áp tư thế khi vận động dẫn

Trang 16

đến: choáng, té ngã Nguy cơ ngã càng cao hơn nữa nếu sau sinh NB bị mất trên 500ml máu hoặc sảy ra băng huyết

- Đau: Có hai nguyên nhân gây đau ở phụ nữ sau sinh đó là đau do co hồi tử cung và đau do vết khâu tầng sinh môn ở phụ nữ sinh thường hoặc đau vết mổ nếu sinh mổ Đau nhiều sau sinh dẫn đến việc vận động khó khăn và là một yếu tố gia tăng nguy cơ té ngã ở nhóm đối tượng này

- Mất thăng bằng khi di chuyển: Trải qua quá trình sinh nở phụ nữ sinh đường

âm đạo mất rất nhiều sức cho việc rặn sinh Hai chân họ thường bị run, yếu

cơ sau khi đẻ làm mất thăng bằng khi di chuyển dẫn đến té ngã

- Gây tê gây mê: Hầu hết các phụ nữ sinh thường đều chọn gây tê ngoài màng cứng làm phương pháp giảm đau trước sinh và gây tê thần kinh thẹn để giảm đau sau sinh Nhóm phụ nữ sinh mổ 100% đều áp dụng gây tê tuỷ sống hoặc gây mê làm biện pháp vô cảm Và chính các biện pháp gây tê gây mê này cũng làm phụ nữ sau sinh bị yếu cơ, giảm cảm giác ngoại biên => gia tăng nguy cơ ngã

- Các bệnh khác: Bệnh huyết áp, tiểu đường, tim mạc hoặc rau tiền đạo, rối loạn đông máu … làm gia tăng hơn nữa nguy cơ ngã ở nhóm đối tượng sau sinh

- Nguy cơ té ngã cũng tăng nếu phụ nữ sau sinh có sử dụng các thuốc nhóm: Thuốc lợi tiểu, thuốc hạ huyết áp, thuốc an thần, thuốc hạ đường huyết…

1.1.2.2 Yếu tố bên ngoài

- Điều kiện chăm sóc không tốt: Điều dưỡng quá tải, không đủ thời gian quan tâm, thiếu sự nhắc nhở

- Cơ sở vật chất, môi trường kém an toàn.Ví dụ:

Trang 17

 Sàn nhà trơn trượt: nước lau sàn chưa khô, nước điều hoà nhỏ xuống sàn

 Nhà vệ sinh không có tay vịn, bồn cầu quá thấp khiến NB khó khăn khi ngồi xuống

 Môi trường không quen thuộc với NB (không gian phòng tại bệnh viện khác với ở nhà) làm giảm khả năng định hướng khi di chuyển

 Dép đi không chắc chắn, không đúng kích cỡ

 Quần áo đồng phục kích cỡ quá dài, quá rộng

 Giường bệnh quá cao, không khoá hết các bánh xe, không nâng thanh chắn giường …vv

1.1.2.3 Các yếu tố hoàn cảnh

Các hoạt động hiện tại có thể làm tăng nguy cơ ngã và chấn thương liên quan đến ngã Có thể kể đến như:

- Vừa đi bộ vừa nói chuyện

- Bị phân tâm bởi việc thực hiện nhiều nhiệm vụ và sau đó không chú ý tới nguy

cơ về môi trường (ví dụ có vật cản hoặc bước hụt cầu thang )

- Đi vào phòng tắm (nhất là vào ban đêm khi không tỉnh táo hoặc khi ánh sáng không đầy đủ)

- Vội vã trả lời điện thoại

- Cố gắng với các đồ vật ở xa

- Không có người hỗ trợ đi lại khi sức khoẻ còn yếu …vv

1.1.3 Hậu quả của té ngã sau sinh

- Đối với người mẹ và gia đình:

 Chậm hồi phục sau sinh

 Chấn thương các cơ quan tổ chức trên cơ thể => tăng thời gian, chi phí lưu viện và gia tăng gánh nặng chăm sóc cho gia đình

 Tử vong

- Đối với trẻ sơ sinh: không được mẹ chăm sóc, không được bú sữa mẹ

Trang 18

1.1.4 Các biện pháp phòng ngừa té ngã ở NB [1]

1.1.4.1 Các biện pháp về môi trường và cơ sở vật chất:

- Lắp đặt các thiết bị báo động ở ngay giường, hoặc xây dựng lại quy trình kiểm tra và thử hệ thống báo động ở ngay giường

- Lắp đặt các loại khóa chốt tự động ở các phòng toilet/phòng tắm

- Hạn chế mở cửa sổ

- Lắp đặt các hệ thống báo động ở các lối thoát

- Cải thiện hoặc chuẩn hóa hệ thống gọi điều dưỡng

- Sử dụng những loại giường thấp cho bệnh nhân có nguy cơ té ngã cao

- Cải thiện hệ thống chiếu sáng

- Kiểm soát tiếng ồn cho tốt

- Sắp đặt để những bệnh nhân có nguy cơ té ngã cao ở gần khu vực điều dưỡng

- Đảm bảo sao cho các vật dụng sinh hoạt cần thiết cho bệnh nhân ở ngay gần tầm tay họ

1.1.4.2 Các biện pháp về nhân viên y tế

- Củng cố lại quy trình liên quan đến phòng ngừa ngã cho NB

- Tư vấn cho từng nhân viên tham gia vào việc chăm sóc bệnh nhân

- Giúp các nhân viên săn sóc bệnh nhân hiểu được bệnh nhân bằng cách nhận biết một số bệnh nhân có nguy cơ dễ ngã hơn những người khác bởi vì họ đang trải qua một số thay đổi ví dụ như thay đổi trong khả năng tự lập, chậm thích nghi với những thay đổi môi trường xung quanh, thay đổi về trí nhớ ngắn hạn, giảm khả năng kiểm soát xúc cảm, thay đổi các giác quan (như thị lực, thính giác, cân bằng, nhận biết các hu cầu bài tiết), những thay đổi về vận động tinh

tế, những cảm xúc tích cực, khó khăn trong giao tiếp

- Thành lập Ủy ban phòng chống té ngã để đánh giá nguy cơ té ngã ở những bệnh nhân mới nhập viện, thường xuyên xem xét, phân tích các trường hợp té ngã, đánh giá các biện pháp can thiệp giảm nguy cơ té ngã, phân tích xu hướng

và trao đổi các thông tin thu thập được với các nhân viên khác

- Cung cấp cho nhân viên các dấu hiệu dễ thấy bằng mắt để nhận biết bệnh nhân nào có nguy cơ té ngã cao (ví dụ như dùng màu đặc biệt cho vòng đeo cổ tay bệnh nhân hoặc biển cảnh báo treo ở cửa buồng bệnh

Trang 19

- Đánh giá xem nhân viên phản hồi các cuộc gọi của bệnh nhân (qua hệ thống gọi điều dưỡng) trong bao lâu và rút ngắn khoảng thời gian ấy nếu cần thiết,

để đảm bảo rằng các nhu cầu của bệnh nhân về thức ăn, đồ uống, các vật dụng

vệ sinh được đáp ứng

- Xem lại quy trình đánh giá trình độ của nhân viên

- Liên đới trách nhiệm cảnh báo của nhân viên khoa Dược đối với bệnh nhân cần dùng phối hợp nhiều loại thuốc

1.1.4.3 Các biện pháp về phía bệnh nhân

- Bổ sung thêm nội dung về nguy cơ té ngã vào chương trình giáo dục dành cho bệnh nhân và gia đình bệnh nhân

- Cung cấp các hướng dẫn tập vật lý trị liệu, thể dục phục hồi chức năng và các chương trình điều trị ngoại trú cho bệnh nhân

- Tối đa hóa việc tự chăm sóc

- Tư vấn cho bệnh nhân để có được giấc ngũ bình thường, tự nhiên

- Đánh giá các loại thuốc sử dụng

- Điều trị giảm đau hiệu quả

- Liên tục đánh giá lại trình trạng sức khỏe của bệnh nhân và các kết quả xét nghiệm

- Cung cấp dịch vụ người chăm sóc trúc trực

- Phong phú hóa các hoạt động cho bệnh nhân

- Khuyến khích các kỹ thuật làm thư giãn cho bệnh nhân

- Tăng cường trao đổi thong tin liên lạc

1.1.5 Xử trí khi NB té ngã [1]

- Thậm chí khi ta áp dụng nhiều biện pháp phòng ngừa nhưng vẫn có trường hợp té ngã xảy ra Khi đó bạn có thể áp dụng các hướng dẫn sau để đảm bảo việc xử trí là phù hợp:

- Kiểm tra các dấu hiệu sinh tồn (Huyết áp, mạch, hô hấp, nhiệt độ, nhịp thở…)

- Không di chuyển bệnh nhân cho đến khi nào thiết lập xong ranh giới di chuyển

- Hỏi bệnh nhân có đau chỗ nào không

- Yêu cầu bệnh nhân giơ tay lên và hỏi xem có đau không

- Yêu cầu bệnh nhân giơ chân lên và hỏi xem có đau ở đâu không

- Kiểm tra xem hai chân bệnh nhân có dài bằng nhau không

Trang 20

- Nếu như bàn chân xoay vào trong hay ra ngoài hoặc bệnh nhân than đau, tuyệt đối “không di chuyển bệnh nhân” nên cho bệnh nhân được khám để đánh giá thêm (ví dụ thận trong chuyển bệnh nhân đến khoa cấp cứu hoặc gọi xe cấp cứu)

- Nếu bệnh nhân có thể di chuyển cử động được các chi hãy giúp bệnh nhân đứng lên

- Kiểm tra các dấu hiệu về chấn thương đầu, mất phương hướng, lú lẫn, hai đồng

tử không đều (phần lớn lý do dẫn đến tử vong trong các ca té ngã là do chấn thương đầu thường là xuất huyết dưới màng cứng)

- Luôn kiểm tra lại bệnh nhân vài giờ sau khi té ngã để xem có vị trí nào bị đỏ, sưng, nóng hoặc xem bệnh nhân có khó khan cử động hoặc di chuyển các đầu ngón tay, ngón chân Nếu có cần phải khám để đánh giá kỹ hơn trình trạng của bệnh nhân

- Luôn hỏi xem bệnh nhân có thấy khỏe không? Có thấy chóng mặt, tối xầm hay hoa mắt không?

- Viết báo cáo sự cố về trường hợp NB ngã tìm nguyên nhân gốc rễ và rút kinh nghiệm trên toàn bệnh viện

1.1.6 Té ngã và an toàn người bệnh trong chính sách y tế

1.1.6.1 Thế giới

Những năm gần đây an toàn người bệnh luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu trong chính sách y tế trên phạm vi toàn thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng Đã có ba hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh được tổ chức, quy tụ các Bộ trưởng Bộ Y tế của các quốc gia thành viên của WHO, các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách y tế [19].

- Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ nhất (2016) tại Luân Đôn, Vương Quốc Anh Tổng giám đốc WHO, các nhà lãnh đạo y tế của các quốc gia thành viên và các chuyên gia với quan điểm đồng thuận cao ủng hộ phong trào an toàn người bệnh toàn cầu cũng như hợp tác quốc tế ở tất cả các cấp và đưa ra

5 điểm hành động cụ thể: (1) Cam kết chính trị và lãnh đạo; (2) Các chính sách khuyến khích và cho phép cải thiện an toàn cho bệnh nhân; (3) Thay đổi mô hình: cung cấp một không gian để mọi người báo cáo về an toàn; (4) Đo lường hiệu quả: điểm chuẩn,

Trang 21

phát triển các chỉ số và hệ thống dữ liệu; (5) Phong trào an toàn cho bệnh nhân: kêu gọi hành động khẩn cấp của các chính phủ [19].

- Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ hai (2017) tại Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức đã thảo luận và định hướng chính sách cho 6 vấn đề nhằm thúc đẩy an toàn người bệnh, cụ thể là: (1) Kinh tế và hiệu quả của sự an toàn người bệnh; (2) An toàn người bệnh toàn cầu: Quan điểm từ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình; (3) An toàn người bệnh trong kỷ nguyên số; (4) Phòng ngừa và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm; (5) Tăng tính an toàn trong chẩn đoán và điều trị-

bộ công cụ lượng giá; (6) An toàn người bệnh trong dùng thuốc [19].

- Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ ba (2018) tại Tokyo, Nhật Bản thể hiện sự lo ngại về sự cải thiện tiến trình đảm bảo an toàn người bệnh bất chấp những nỗ lực của các quốc gia và đưa ra Tuyên bố Tokyo với những cam kết mạnh mẽ hơn để đẩy nhanh tiến độ hướng tới cải thiện an toàn người bệnh toàn cầu, cụ thể là: (1) Cam kết mạnh mẽ trong việc duy trì động lực chính trị về “ Hành động toàn cầu về an toàn người bệnh ” tại các quốc gia trên toàn thế giới, làm việc cụ thể với từng quốc gia, bao gồm cả các nước có thu nhập thấp và trung bình nhằm đẩy mạnh khả năng thông qua hợp tác và học hỏi, ưu tiên an toàn người bệnh trong chính sách và các chương trình y tế tiến tới mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; (2) Cam kết hỗ trợ và thúc đẩy các cơ sở khám chữa bệnh công lập và

tư nhân, từ tuyến chăm sóc y tế ban đầu đến tuyến cao nhất nhằm thực hiện cải tiến trong hệ thống và thực hành nâng cao an toàn người bệnh, hướng tới đạt được các mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và mục tiêu phát triển bền vững của liên hợp quốc; (3) Cam kết xây dựng năng lực lãnh đạo và quản lý nhằm hỗ trợ mục tiêu chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, thực hiện và đẩy mạnh hệ thống và các quy trình an toàn người bệnh, tạo một môi trường an toàn và minh bạch, khích lệ đồng đều, giáo dục và đào tạo đội ngũ nhân viên y tế về an toàn người bệnh, khuyến khích sự tham gia của bệnh nhân và gia đình, tăng hiệu quả và giảm thiểu nguy cơ rủi

ro qua việc chia sẻ kiến thức, phương pháp thực hành tốt nhất và cách điều trị tối ưu; (4) Phối hợp cùng người bệnh và gia đình người bệnh, các tổ chức quốc tế và các bên liên quan nhằm tăng tính rõ ràng, minh bạch và làm việc hướng tới hành động toàn cầu về an toàn người bệnh, trong đó lấy ngày 17 tháng 9 hàng năm là ngày An toàn người bệnh thế giới [19]

Trang 22

1.1.6.2 Việt Nam

Tại Việt Nam, vấn đề an toàn người bệnh luôn được sự quan tâm không những chỉ của riêng ngành y tế Cùng với sự phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được nâng cao đòi hỏi Nhà nước, ngành y tế cùng các nhà hoạch định chính sách cần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, hoàn thiện hệ thống pháp quy về y tế, đặc biệt là quan tâm đến an toàn người bệnh

Luật khám bệnh, chữa bệnh (2009) tại điều 7 quy định người bệnh có quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế, trong đó: (1) Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh; (2) Được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ thuật Những quy định trên thể hiện sự quan tâm lớn của những nhà hoạch định chính sách nhằm đảm bảo

sự an toàn cho người bệnh [8]

Để cụ thể hóa những quy định về an toàn người bệnh, ngày 26/01/2011 Bộ Y

tế đã ban hành Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Điều 14 của Thông tư quy định “ Bảo đảm an toàn

và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh” bao gồm

ba nội dung: (1) Bệnh viện xây dựng và thực hiện những quy định cụ thể về an toàn cho người bệnh phù hợp với mô hình bệnh tật của từng chuyên khoa; (2)Điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, bảo đảm an toàn, tránh nhầm lẫn cho người bệnh trong việc dùng thuốc, phẫu thuật

và thủ thuật; (3) Bệnh viện thiết lập hệ thống thu thập và báo cáo các sự cố, nhầm lẫn, sai sót chuyên môn kỹ thuật tại các khoa và toàn bệnh viện Định kỳ phân tích, báo cáo các sự cố, sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc và có biện pháp phòng ngừa hiệu quả [8]

Cải tiến chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế trong giai đoạn hiện nay trong đó yếu tố an toàn người bệnh là tiêu chí hàng đầu Thông tư 19/2013/TT-BYT của Bộ Y tế về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện tại Điều 7 có quy định về triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế, các hoạt động bao gồm: (1) Thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn

Trang 23

người bệnh và nhân viên y tế: Xác định chính xác người bệnh; An toàn phẫu thuật, thủ thuật; An toàn trong sử dụng thuốc; Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; Phòng ngừa rủi ro, sai sót do trao đổi thông tin sai lệch giữa các nhân viên y tế; Phòng ngừa người bệnh bị ngã; An toàn trong sử dụng trang thiết bị y tế; (2) Bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người bệnh, khách thăm và nhân viên y tế; tránh tai nạn, rủi ro, phơi nhiễm nghề nghiệp; (3) Thiết lập hệ thống thu thập, báo cáo sai sót chuyên môn, sự cố y khoa tại các khoa lâm sàng và toàn bệnh viện, bao gồm báo cáo bắt buộc

và tự nguyện; (4) Xây dựng quy trình đánh giá sai sót chuyên môn,sự cố y khoa để xác định nguyên nhân gốc, nguyên nhân có tính hệ thống và nguyên nhân chủ quan của nhân viên y tế; đánh giá các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra; (5) Xử lý sai sót chuyên môn, sự cố y khoa và có các hành động khắc phục đối với nguyên nhân gốc, nguyên nhân có tính hệ thống và nguyên nhân chủ quan để giảm thiểu sai sót, sự cố và phòng ngừa rủi ro

Để triển khai thực hiện Thông tư 19/2013/TT - BYT có hiệu quả Bộ Y tế đã ban hành Tài liệu an toàn người bệnh (2014) Tài liệu bao gồm có 6 nội dung: (1) Tổng quan về an toàn người bệnh; (2) Phòng ngừa sự cố y khoa trong việc xác định người bệnh và Cải thiện thông tin trong nhóm chăm sóc; 3) Phòng ngừa sai sót trong

sử dụng thuốc; (4) Phòng ngừa sự cố y khoa trong phẫu thuật; (5) Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; (6) Phòng ngừa sự cố y khoa trong chăm sóc và sử dụng trang thiết bị vật tư y tế Tài liệu An toàn người bệnh nhằm cung cấp các kiến thức hiểu biết về tần suất các sai sót chuyên môn, sự cố y khoa, các nguyên nhân và các giải pháp để hạn chế các sai sót chuyên môn và sự cố y khoa tới mức thấp nhất có thể trong các cơ sở khám chữa bệnh để đảm bảo các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn hơn cho người bệnh Đồng thời tài liệu cũng giúp cán bộ y tế cập nhật những chủ trương, chính sách mới về an toàn người bệnh Trong những nội dung trên, vấn đề phòng ngừa té ngã cho người bệnh được đề cập đến ở nội dung thứ 6 [13]

Thực hiện những cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ ba (2018) tại Tokyo, Nhật Bản Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 43/2018/TT - BYT hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Thông tư quy định việc nhận diện, báo cáo, phân tích, phản hồi và xử lý

sự cố y khoa cũng như trách nhiệm thực hiện của CBYT và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong phòng ngừa sự cố y khoa Tại phụ lục II của Thông tư, người bệnh

Trang 24

bị tử vong hoặc di chứng nghiêm trọng do té ngã trong lúc được chăm sóc tại cơ sở y

tế thuộc nhóm sự cố do môi trường [12]

An toàn người bệnh cũng là một tiêu chí trong đánh giá năng lực của người điều dưỡng Tiêu chuẩn 5 trong bộ Chuẩn năng lực cơ bản của Điều dưỡng Việt Nam về

“ Tạo sự an toàn, thoải mái và kín đáo cho người bệnh ” quy định điều dưỡng viên cần: (1) Thực hiện các biện pháp an toàn trong chăm sóc người bệnh; (2) Tạo môi trường chăm sóc thoải mái trong khi chăm sóc cho người bệnh; (3) Bảo đảm sự kín đáo trong khi chăm sóc người bệnh [9]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về té ngã và phòng ngừa té ngã trong bệnh viện trên thế giới và

tại Việt Nam

1.2.1.1 Trên thế giới

Tại Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 700.000 đến 1.000.000 người bị ngã trong khi đang nằm viện Hậu quả là người bệnh có thể bị gãy xương, tổn thương phần mềm hoặc chảy máu nội tạng Phòng ngừa té ngã có liên quan đến việc quản lý các rủi ro tiềm ẩn của người bệnh như các vấn đề với việc đi bộ và chuyển viện, tác dụng phụ của thuốc, nhu cầu vệ sinh thường xuyên cũng như tối ưu hóa thiết kế môi trường bệnh viện Những biện pháp này không được sử dụng một cách có hệ thống trong tất

cả các bệnh viện Việc phòng ngừa té ngã tại bệnh viện đòi hỏi sự phối hợp liên ngành trong chăm sóc người bệnh Một số phần của chăm sóc phòng ngửa té ngã cần được làm thường xuyên, các phần còn lại phải được điều chỉnh theo hồ sơ rủi ro cụ thể của người bệnh Để thực hiện được sự phối hợp này, phòng ngừa chất lượng cao đòi hỏi

sự tổ chức và hoạt động thực hành theo nhóm, khả năng giao tiếp cũng như chuyên môn cá nhân của cán bộ y tế Hoạt động phòng ngừa té ngã cũng cần được cân bằng với các nhu cầu khác như giảm thiểu sự hạn chế và duy trì khả năng vận động của người bệnh nhằm cung cấp những chăm sóc tốt nhất cho họ [15]

Trong hai năm 2016, 2017 theo một thống kê tại Anh có hơn 250.000 người bệnh bị té ngã trong các bệnh viện đa khoa, nhà cộng đồng và bệnh viện tâm thần Các trường hợp té ngã được báo cáo trong các sự cố về an toàn người bệnh và gây những hậu quả: (1) hơn 2500 ca vỡ xương chậu; (2) Người bệnh mất tự tin và phục hồi chậm hơn, ngay cả khi tác động vật lý do ngã là tối thiểu; (3) Gây lo lắng cho gia đình và nhân viên y tế; (4) Kiện tụng làm giảm uy tín, niềm tin vào bệnh viện; (5)

Trang 25

Gây tổn thất 630 triệu bảng mỗi năm Thống kê cũng chỉ ra rằng nguy cơ té ngã tăng cao ở những người bệnh già yếu, những người đang hồi phục sau chấn thương, đại phẫu hoặc những bệnh nhân bị mất nước, suy nhược Phần lớn các vụ té ngã xảy ra ở người bệnh nội trú trong những ngày đầu nhập viện do môi trường xung quanh không quen thuộc Không phải tất cả các trường hợp té ngã đều có thể phòng ngừa được, tuy nhiên việc phòng ngừa bằng những chỉ dẫn cụ thể có thể ngăn chặn được 20 - 30% số trường hợp té ngã trong bệnh viện Phòng ngừa té ngã phụ thuộc vào việc đánh giá kịp thời các nguy cơ tiềm ẩn, các phản ứng lâm sàng đòi hỏi sự phối hợp nhóm trong chăm sóc và mỗi người bệnh có những can thiệp riêng như luôn có sự hỗ trợ người bệnh khi đi bộ, xây dựng văn hóa báo cáo sự cố Trên thực tế việc áp dụng phòng ngừa té ngã cho người bệnh là rất khác nhau giữa các bệnh viện, bao gồm cả việc thiếu quan tâm đến các đánh giá về thị lực, hạ huyết áp ở tư thế đứng ở người bệnh

Tại Australia ghi nhận 34.000 trường hợp người bệnh bị té ngã khi đang điều trị trong bệnh viện trong hai năm 2015 và 2016, chiếm tỷ lệ 3,2/1000 trong đó các bệnh viện công có tỷ lệ té ngã cao hơn các bệnh viện tư nhân (4,6/1000 so với 1,3/1000) Báo cáo cũng chỉ ra rằng té ngã trong bệnh viện có căn nguyên từ những tác dụng phụ khi người bệnh điều trị tại bệnh viện và trong một số trường hợp té ngã (18,0%) không xác định rõ được vị trí người bệnh ngã

Malaysia là quốc gia tiên phong trong khu vực Đông Nam Á (2006) tham gia Liên minh thế giới vì an toàn người bệnh (WAPS) Với mục tiêu “ An toàn cho tất cả mọi người ! Chúng ta hãy làm việc cùng nhau trên tinh thần học hỏi để làm cho hệ thống chăm sóc sức khỏe trở nên an toàn hơn trong năm 2013 và những năm sau nữa Thành công không phải không bao giờ phạm sai lầm nhưng là không bao giờ phạm sai lầm lần thứ hai ” Chương trình phòng ngừa té ngã cho người bệnh tại Malaysia được thực hiện tại tất cả các bệnh viện bao gồm giúp đỡ bảo vệ người bệnh, du khách

và nhân viên Tất cả các nhân viên bệnh viện phải được đào tạo phòng ngừa té ngã, đặc biệt là điều dưỡng viên phải thường xuyên đánh giá mức độ rủi ro té ngã để đảm bảo người bệnh được an toàn trong suốt quá trình điều trị tại bệnh viện

1.2.1.2 Tại Việt Nam

Năm 2009, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật khám bệnh, chữa bệnh trong đó tại điều 7 quy định người bệnh được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ

Trang 26

thuật [19] Năm 2011, Bộ Y tế ban hành Thông tư 07/2011/TT - BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, trong đó có quy định

“Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh” [8] Đến năm 2013,Bộ Y tế ban hành Thông tư 19/2013/TT-BYT về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện có quy định về triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế, thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế trong đó có nội dung phòng ngừa người bệnh bị ngã [11]

Một vấn đề mà ngành y tế nước ta đang phải đối mặt là tình trạng quá tải tại bệnh viện Nghiên cứu ở một số bệnh viện tuyến trung ương chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến quá tải như tình trạng vượt tuyến còn phổ biến, thiếu hiệu quảtrong hoạt động của hệ thống phân tuyến kỹ thuật, tâm lý người bệnh Sự quá tải làm cho bệnh viện hoạt động vượt công suất thiết kế từ các chỉ số về giường bệnh đến tương quan giữa

số cán bộ y tế với số lượng bệnh nhân Hệ quả tất yếu của sự quá tải người bệnh là cán bộ y tế phải chịu một cường độ lao động cao và cũng làm phát sinh những sự cố

y khoa không mong muốn Chương trình hành động Quốc gia về tăng cường công tác Điều dưỡng hộ sinh giai đoạn từ nay đến năm 2020 cũng ghi nhận “Tình trạng quá tải người bệnh và quá tải công việc làm cho điều dưỡng viên không có nhiều thời gian giao tiếp với người bệnh, tăng nguy cơ sai sót chuyên môn” [10]

Tháng 6/2016, Tổ chức Nghiên cứu xây dựng Chính sách Y tế và Chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) chính thức công bốViệt Nam là quốc gia thứ 66 trên thế giới đã nghiên cứu về văn hóa ATNB và tiếng Việt là phiên bản thứ 31 của Bảng câu hỏi khảo sát văn hóa ATNB trong bệnh viện của tổ chức AHRQ Đây là kết quả của công trình nghiên cứu cấp thành phố của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề“ Khảo sát thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố HồChí Minh” do TS.BS Tăng Chí Thượng - Phó Giám đốc Sở Y tế làm chủ nhiệm đề tài cùng nhóm nghiên cứu thực hiện Nghiên cứu này không những có thể

áp dụng cho các bệnh viện của thành phố Hồ Chí Minh mà có thể triển khai trên cả nước [1]

Tại các bệnh viện ở nước ta hiện nay, an toàn người bệnh từng bước được đưa vào như là một trong những nội dung quan trọng nhất góp phần cải tiến chất lượng bệnh viện Tháng 5/2017, Bệnh viện Bạch Mai ban hành Quy định An toàn người

Ngày đăng: 09/05/2022, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Sức khỏe và đời sống (2016). Việt Nam là nước thứ 66 trên thế giới được công nhận nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh,<http://suckhoedoisong.vn/viet-nam-la-nuoc-thu-66-tren-the-gioi-duoc-cong-nhan-nghien-cuu-ve-van-hoa-an-toan-nguoi-benh-nl19457.html>,xem27/07/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam là nước thứ 66 trên thế giới được công nhận nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh
Nhà XB: Báo Sức khỏe và đời sống
Năm: 2016
5. Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế (2014). Tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh
Tác giả: Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
7. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2003). Từ điển Bách khoa Việt Nam 3, Nhà xuất bản từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 484 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam 3
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển bách khoa
Năm: 2003
9. Nguyễn Thị Thanh Hương (2016). Khảo sát thái độ, kiến thức đối với sự cố y khoa không mong muốn của Điều dưỡng, Hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên. Hội nghị Khoa học Công nghệ tuổi trẻ và Nghiệm thu đề tài KH & CN cấp Trường năm 2017, Trường Đại học Y dược Thái Nguyên ngày 20/01/2018, 62-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thái độ, kiến thức đối với sự cố y khoa không mong muốn của Điều dưỡng, Hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Hội nghị Khoa học Công nghệ tuổi trẻ và Nghiệm thu đề tài KH & CN cấp Trường năm 2017, Trường Đại học Y dược Thái Nguyên
Năm: 2016
10. Phạm Thanh Liêm (2017). Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng và nhu cầu đào tạo liên tục tại các Trung tâm Y tế huyện của tỉnh Hà Nam, Luận văn Thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng và nhu cầu đào tạo liên tục tại các Trung tâm Y tế huyện của tỉnh Hà Nam
Tác giả: Phạm Thanh Liêm
Nhà XB: Trường Đại học Y dược Thái Bình
Năm: 2017
12. Nguyễn Xuân Thiêm và cộng sự (2016). Kiến thức, thực hành về an toàn người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2016, Tạp chi y học dự phòng, 27 (6), 152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành về an toàn người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2016
Tác giả: Nguyễn Xuân Thiêm, cộng sự
Nhà XB: Tạp chi y học dự phòng
Năm: 2016
13. Khương Anh Tuấn và cộng sự (2007). Đánh giá tình hình quả tải của một số bệnh viện tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp khắc phục. Viện Chiến lược và Chính sách Y tế.* Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình quả tải của một số bệnh viện tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp khắc phục
Tác giả: Khương Anh Tuấn, cộng sự
Nhà XB: Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
Năm: 2007
14. Agency for Healthcare Research and Quality (2013). 2E Fall Knowledge Test. Preventing Fall in Hospitals: A Toolkit for Improving Quality of Care, No 13 0015 - EF, 119-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preventing Fall in Hospitals: A Toolkit for Improving Quality of Care
Tác giả: Agency for Healthcare Research and Quality
Năm: 2013
15. Ariyati T (2016). Hubungan Karakteristik Perawat Dengan Kepatuhan Penerapan Prosedur Keselamatan Pasien Di Instalasi Rawat Inap II RSU prof.dr. Soerojo Magelang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hubungan Karakteristik Perawat Dengan Kepatuhan Penerapan Prosedur Keselamatan Pasien Di Instalasi Rawat Inap II RSU prof.dr. Soerojo Magelang
Tác giả: Ariyati T
Năm: 2016
16. Australian Institute of Health and Welfare (2018). Safety and quality of hospital care. Australia's health 2018, 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Safety and quality of hospital care
Tác giả: Australian Institute of Health and Welfare
Nhà XB: Australia's health 2018
Năm: 2018
17. Dr Syi Su (2009). Applying root cause analysis to improve patient safety: decreasing falls in postpartum women, National Taiwan University, Graduate Institute of Health Care Organization Administration, College of Public Health,, Taiwan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applying root cause analysis to improve patient safety: decreasing falls in postpartum women
Tác giả: Dr Syi Su
Nhà XB: National Taiwan University, Graduate Institute of Health Care Organization Administration, College of Public Health
Năm: 2009
18. Choi Ae Shin (2012). A Study on Self-leadership, Fall Attitude, and Nurses’ Behavior to Prevent Patient Falls, Journal of Korean Academy of Nursing Administration, 2013, 19.3, 394-403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Study on Self-leadership, Fall Attitude, and Nurses’ Behavior to Prevent Patient Falls
Tác giả: Choi Ae Shin
Nhà XB: Journal of Korean Academy of Nursing Administration
Năm: 2012
11. Các chương trình tập phục hồi chức năng cho người lớn tuổi đi lại được phải:A. Tập luyện rất tích cực ,liên tục.B. Không cần giám sát Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chương trình tập phục hồi chức năng cho người lớn tuổi đi lại được
Tác giả: A
19. WHO (2018). Falls, [online] Available at: http://www.who.int/en/news- room/fact-sheets/detail/falls, [Accessed 6 January 2021] Link
2. Bệnh viện Bạch Mai (2017). Quy định An toàn người bệnh. Ban hành kèm theo Quyết định số 999/QĐ - BM ngày 15/05/2017 của Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Khác
3. Bộ Y tế (2015). Thông tư số 19/2013/TT - BYT ngày 12/07/2013 của Bộ Y tế về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện Khác
4. Bộ Y tế (2018). Thông tư số 43/2018/TT - BYT ngày 26/12/2018 của Bộ Y tế về Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Khác
6. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec (2014). Quy trình phòng ngừa và xử tri té ngã đổi với người bệnh nội trú, tr.10 Khác
8. Hội tim mạch học Quốc gia Việt Nam (2016). An toàn người bệnh trong chăm sóc và điều trị bệnh nhân tim mạch. Hội nghị tim mạch toàn quốc năm 2016, Viện Tim mạch Quốc gia Khác
20. Lee In Kyoung (2011) . Factor Associated with Nurses ' Activities for Hospital Fall Prevention , The Korean Journal of Rehabilitation Nursing , 2013 , 16.1 , 55-62 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đặc điểm đối tượng (n=68) - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Bảng 2.1. Đặc điểm đối tượng (n=68) (Trang 32)
Bảng 2.4. Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Bảng 2.4. Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng (Trang 33)
Bảng 2.2. Xếp loại điểm kiến thức của Điều dưỡng viên về phòng ngừa té ngã (n=68) - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Bảng 2.2. Xếp loại điểm kiến thức của Điều dưỡng viên về phòng ngừa té ngã (n=68) (Trang 33)
Bảng 2.5. Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng với tuân thủ đánh giá nguy cơ té ngã (n=68) - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Bảng 2.5. Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng với tuân thủ đánh giá nguy cơ té ngã (n=68) (Trang 34)
- Một số hình ảnh về cơ sở, vật chất, trang thiết bị để phòng tránh té ngã cho người bệnh được trang bị tại Bệnh viện ĐKQT Vinmec - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
t số hình ảnh về cơ sở, vật chất, trang thiết bị để phòng tránh té ngã cho người bệnh được trang bị tại Bệnh viện ĐKQT Vinmec (Trang 41)
Hình 2: Biển cảnh báo nguy cơ ngã - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Hình 2 Biển cảnh báo nguy cơ ngã (Trang 42)
Hình 3: Hệ thống tay vịn tại hành lang khoa nội trú. - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Hình 3 Hệ thống tay vịn tại hành lang khoa nội trú (Trang 42)
Hình 4: Hệ thống chuông gọi ĐD ngay tại giường bệnh - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Hình 4 Hệ thống chuông gọi ĐD ngay tại giường bệnh (Trang 43)
Hình 5: Xe đẩy và cáng vận chuyển người bệnh. - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Hình 5 Xe đẩy và cáng vận chuyển người bệnh (Trang 43)
Hình 6: Hộp chuông báo cấp cứu treo tường - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Hình 6 Hộp chuông báo cấp cứu treo tường (Trang 44)
Hình 7: Chuông báo cấp cứu trong phòng vệ sinh. - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
Hình 7 Chuông báo cấp cứu trong phòng vệ sinh (Trang 44)
Phần B: Bảng kiểm can thiệp dự phòng ngã cho NB nội trú theo mức độ nguy cơ [6] - Thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng té ngã cho sản phụ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec năm 2021
h ần B: Bảng kiểm can thiệp dự phòng ngã cho NB nội trú theo mức độ nguy cơ [6] (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w