LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong chiến lược phát triển giáo dục 28/12/2001 đã nêu: Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
VÕ THỊ KIM THOA
Đề tài:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG ESTE-LIPIT
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƯ PHẠM
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
Đề tài:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG ESTE-LIPIT
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA HÓA
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên : Võ Thị Kim Thoa
1 Tên đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập chương este-lipit để phát triển năng lực cho học sinh lớp 12”
2 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc xây dựng hệ thống bài tập chương este - lipit để phát triển năng lực cho học sinh lớp 12
- Tìm hiểu lý thuyết, bài tập và các phương pháp giải bài tập chương este-lipit
- Xây dựng hệ thống bài tập với nhiều cách giải và phân tích cách học sinh chọn đáp
án khi làm bài tập chương este-lipit với nội dung sách giáo khoa lớp 12, chương trình cơ bản ở trường THPT
3 Giáo viên hướng dẫn: TS Ngô Minh Đức
4 Ngày giao đề tài : 22/9/2016
5 Ngày hoàn thành : 27/4/2017
Chủ nhiệm Khoa Giáo viên hướng dẫn
(Kí và ghi rõ họ, tên) (Kí và ghi rõ họ, tên)
PGS TS Lê Tự Hải TS Ngô Minh Đức
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 28 tháng 4 năm 2017
Ngày….tháng….năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
( Ký và ghi rõ họ, tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô của trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, đặc biệt là thầy cô khoa Hóa học của trường đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báo cho chúng em trong suốt thời gian học tập tai trường Và em cũng xin chân thành cảm ơn thầy Ngô Minh Đức đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành bài khoá luận này
Do hạn chế về thời gian cũng như trình độ lí luận, kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày… tháng … năm 2017
Sinh viên
Võ Thị Kim Thoa
Trang 5BGDĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
BVHTTDL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1 Thứ tự nhiệt độ sôi tăng dần của các este 39
Hình 2 Mùi hương của các este trong thực phẩm 78
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 2
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 4
1.1.1 Định hướng đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục phổ thông sau 2015 4
1.1.2 Khái niệm năng lực 6
1.1.3 Cấu trúc của năng lực 7
1.1.4 Quá trình hình thành năng lực 8
1.1.5 Năng lực của học sinh 9
1.1.6 Các năng lực cốt lõi của học sinh 9
1.1.7 Năng lực trong bộ môn hóa học 9
1.1.8.Tăng cường xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh 11 1.2 BÀI TẬP HÓA HỌC 13
1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học 13
1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của BTHH trong giảng dạy hóa học 13
1.2.3 Phân loại chi tiết bài tập hoá học ở trường phổ thông 14
1.3 QUAN HỆ GIỮA BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 16
1.4 NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN BÀI TẬP ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 17
1.4.1 Quán triệt mục tiêu dạy học 17
1.4.2 Đảm bảo tính khoa học, chính xác của nội dung 17
1.4.3 Phát huy tính tích cực của học sinh 17
Trang 81.4.4 Đảm bảo tính hệ thống 18
1.4.5 Đảm bảo tính thực tiễn 18
1.4.6 Phù hợp với trình độ, đối tượng HS 18
1.5 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC TRONG HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT 19
1.6 MỘT SỐ KINH NGHIỆM RA ĐỀ THI 2013-2016 19
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CHƯƠNG ESTE – LIPIT HÓA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 24
CỦA HỌC SINH LỚP 12 24
2.1 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA CHƯƠNG ESTE- LIPIT 24
2.1.1 Vị trí – ý nghĩa – tầm quan trọng của chương 24
2.1.2 Mục tiêu của chương 24
2.1.3 Cấu trúc nội dung của chương 25
2.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CHƯƠNG ESTE-LIPIT HÓA HỌC 12 25
2.3 TÓM TẮT LÝ THUYẾT 27
2.3.1 Khái niệm este 27
2.3.2 Khái niệm lipit (chất béo) 29
2.3.3 Khái niệm và phương pháp sản xuất xà phòng 31
2.3.4 Các dạng bài tập trong đề thi tuyển sinh đại học- cao đẳng 32
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG GIÁO ÁN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH THÔNG QUA CHƯƠNG ESTE-LIPIT 76
3.1 Bài “Este” 76
3.2 Bài “Lipit” 81
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chiến lược phát triển giáo dục (28/12/2001) đã nêu: Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phê phán, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập
Như vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục: Đào tạo được những con người tích cực, chủ động, sáng tạo Nhưng thực tế, nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục hiện nay cho thấy: Chất lượng nắm kiến thức của học sinh còn chưa cao, đặc biệt việc phát huy năng lực nhận thức, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn
đề không được chú ý rèn luyện đúng mức Trong dạy học hóa học, để nâng cao chất lượng dạy học bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau.Trong đó bài tập hóa học với tư cách là một phương pháp pháp dạy học, có vai trò rất lớn trong việc củng cố, đào sâu, mở rộng, hoàn thiện kiến thức lí thuyết và rèn luyện cho học sinh
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Giải bài tập hóa học đòi hỏi học sinh hoạt động tích cực của trí tuệ, tự lực sáng tạo nên có tác dụng rất lớn đến sự phát triển năng lực nhận thức và năng lực tư duy cho học sinh Hiện nay, hệ thống bài tập hóa học để phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh tương đối ít, chưa có hệ thống, còn nặng về tính toán, chưa đi sâu về bản chất môn học, chưa khai thác hết khả năng tư duy của người học và cũng chưa phục vụ tốt cho hình thức kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quan Do vậy, cần nghiên cứu, bổ sung, đổi mới, làm cho bài tập hóa học ngày càng phong phú hơn
Là một sinh viên trường Đại Học Sư Phạm– Đại Học Đà Nẵng, được lĩnh hội những kiến thức chuyên sâu, nay cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa hóa học, đặc biệt là thầy Ngô Minh Đức, em mong muốn xây dựng một hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm hóa học theo từng chương có chất lượng, phục
vụ tốt cho việc phát tiển năng lực cho học sinh THPT, đồng thời cũng làm phong phú thêm hệ thống bài tập hiện nay Chính vì vậy em đã lựa chọn vấn đề “Xây dựng hệ thống bài tập chương este-lipit để phát triển năng lực cho học sinh lớp 12” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 10- Thông qua các bài tập thực tiễn và hình vẽ để phát triển năng lực cho HS
- Xây dựng một số giáo án có vận dụng các bài tập nhằm phát triển năng lực cho
HS
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Việc sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực trong dạy và học phần
“chương este-lipit” hóa học lớp 12 ở trường THPT
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Là quá trình dạy và học chương este-lipit hóa học lớp 12 ở trường THPT
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần giải quyết các vấn đề nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tổng quan vấn đề
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nhận thức và tư duy
- Nghiên cứu phương pháp giải bài tập theo hướng trắc nghiệm
- Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa bộ môn hóa học ở trường THPT
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập chương Este- Lipit hóa học 12
- Hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng trong quá trình học một cách hợp lí
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng và các biện pháp đề xuất từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng chúng trong việc phát triển năng lực nhận thức và năng lực tư duy của học sinh
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chương “Este-lipit” sách giáo khoa hóa học 12
Trang 116 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, để đạt được các mục đích đã nêu, em đã sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tài liệu về lí luận dạy học, tâm lí học, giáo dục học và các tài liệu khoa học cơ bản liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu các dạng bài tập để phát triển năng lực cho học sinh lớp 12
- Truy cập thông tin, bài giảng và các bài tập thực tiễn trên mạng internet
- Phân tích, tổng hợp
7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Tổng quan cơ sở lý luận về phát triển nhận thức, tư duy và các phương pháp sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực nhận thức, tư duy cho học sinh
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập chương este- lipit hóa học 12
Nghiên cứu và xây dựng hệ thống lý thuyết trọng tâm và bài tập chương este- lipit nói chung và phương pháp giải bài tập theo nhiều cách nói riêng đã xây dựng được một số phương pháp giúp học sinh phát triển năng lực giải bài tập về chương este -lipit phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1.1 Định hướng đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục phổ thông sau 2015 [web]
Đối với công tác quản lý
- Từ năm 2002 bắt đầu triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới mà trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh
- Các sở giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo các trường thực hiện các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học thông qua tổ chức các hội thảo, các lớp bồi dưỡng, tập huấn
về phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo cụm chuyên môn, cụm trường; tổ chức hội thi giáo viên giỏi các cấp, động viên khen thưởng các đơn
vị, cá nhân có thành tích trong hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và các hoạt động hỗ trợ chuyên môn khác
- Triển khai việc “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học”
Đây là hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm, ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học như thế nào? học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? cần điều chỉnh điều gì
và điều chỉnh như thế nào?
- Triển khai xây dựng Mô hình trường học đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học
và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Mục tiêu của mô hình này là đổi
mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng khoa học, hiện đại; tăng cường mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau giữa các hình thức và phương pháp
tổ chức hoạt động dạy học - giáo dục, đánh giá trong quá trình dạy học - giáo dục và
đánh giá kết quả giáo dục; thực hiện trung thực trong thi, kiểm tra Góp phần chuẩn
bị cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá phục vụ đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015
- Triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông theo Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại các trường và các địa phương tham gia thí điểm Mục đích của việc thí điểm là nhằm:
Trang 13(1) Khắc phục hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, hoạt động giáo dục của các trường phổ thông tham gia thí điểm; (2) Củng cố cơ chế phối hợp và tăng cường vai trò của các trường sư phạm, trường phổ thông thực hành sư phạm và các trường phổ thông khác trong các hoạt động thực hành, thực nghiệm sư phạm và phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông; (3) Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục, phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông cho đội ngũ giảng viên các trường/khoa sư phạm, giáo viên các trường phổ thông tham gia thí điểm; (4) Góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015
- Triển khai áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2013; sử dụng di sản văn hóa trong dạy học theo Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; triển khai sâu rộng Cuộc thi dạy học các chủ đề tích hợp dành cho giáo viên
- Quan tâm chỉ đạo đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức thi, kiểm tra đánh giá như: Hướng dẫn áp dụng ma trận đề thi theo Công văn số 8773/BGDĐT-GDTH, ngày 30/12/2010 về việc Hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra vừa chú ý đến tính bao quát nội dung dạy học vừa quan tâm kiểm tra trình độ tư duy Đề thi các môn khoa học xã hội được chỉ đạo theo hướng "mở", gắn với thực tế cuộc sống, phát huy suy nghĩ độc lập của học sinh, hạn chế yêu cầu học thuộc máy móc Bước đầu tổ chức các đợt đánh giá học sinh trên phạm vi quốc gia, tham gia các kì đánh giá học sinh phổ thông quốc tế (PISA) Tổ chức Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học; Cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học nhằm khuyến khích học sinh trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống; góp phần thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực học sinh
- Thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 về chống tiêu cực và khắc
phục bệnh thành tích trong giáo dục và phát động cuộc vận động “Nói không với
tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” đã hạn chế được nhiều tiêu
cực trong thi, kiểm tra
Trang 14 Đối với giáo viên
- Đông đảo giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học Nhiều giáo viên đã xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá
- Một số giáo viên đã vận dụng được các phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá tích cực trong dạy học; kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong tổ chức hoạt động dạy học được nâng cao; vận dụng được qui trình kiểm tra, đánh giá mới
Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
- Cơ sở vật chất phục vụ đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá những năm qua đã được đặc biệt chú trọng Nhiều dự án của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước đã từng bước cải thiện điều kiện dạy học và áp dụng công nghệ thông tin - truyền thông ở các trường trung học, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá
- Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương tăng cường hoạt động tự làm thiết bị dạy học của giáo viên và học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự chủ động, sáng tạo của
giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy và học ở trường trung học phổ thông
Với những tác động tích cực từ các cấp quản lý giáo dục, nhận thức và chất lượng hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá của các trường trung học cơ sở đã có những chuyển biến tích cực, góp phần làm cho chất lượng giáo dục
và dạy học từng bước được cải thiện
1.1.2 Khái niệm năng lực [10]
Năng lực Theo Từ điển Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân, “NL là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt công việc đó nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn.”
Đinh Quang Báo đã đưa ra khái niệm về NL như sau: “NL là một thuộc tính tích hợp nhân cách, tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” Như vậy, có thể nhìn nhận một cách tổng quát, NL luôn gắn với khả năng thực hiện, nghĩa là phải biết làm chứ không dừng lại ở hiểu Hành động “làm” ở đây lại gắn với những yêu cầu cụ thể về kiến thức, kĩ năng, thái độ để đạt được kết quả
Trang 151.1.3 Cấu trúc của năng lực [10]
-Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức tâm lý vận động
-Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn
đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là ngững khả năng tiếp nhận,
xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận - giải quyết vấn đề
-Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
-Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm
Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO:
Trang 16Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội
và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này
1.1.4 Quá trình hình thành năng lực [10]
- Tư chất với sự hình thành và phát triển năng lực
Tư chất là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lý bẩm sinh
và những chức năng của chúng được biểu hiện trong nhũng hoạt động đầu tiên của con người Trong tư chất ngoài những yếu tố bẩm sinh di truyền còn có những yếu
tố tự tạo trong cuộc sống cá thể Những đặc điểm di truyền có được bảo tồn và thể hiện ở thế hệ sau hay không và thể hiện mức độ nào, điều đó hoàn toàn do hoàn cảnh sống quyết định Như vậy, tư chất là một trong những điều kiện hình thành năng lực, nhưng tư chất không qui định trước sự phát triển của các năng lực Trên
cơ sở của tư chất, có thể hình thành những năng lực rất khác nhau trong hoạt động, điều đó còn tùy thuộc vào điều kiện sống và hoạt động của mỗi cá nhân
- Điều kiện xã hội với sự hình thành và phát triển năng lực
Năng lực con người chỉ được hình thành và phát triển trong điều kiện sống
và điều kiện của con người đó Nó là sản phẩm của sự phát triển xã hội và xã hội là yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển năng lực Xã hội ngày càng phát triển thì năng lực con người ngày càng phát triển theo để đáp ứng với yêu cầu xã hội Năng lực con người con phụ thuộc vào chế độ chính trị xã hội, sự phân công lao động của xã hội, sự giáo dục, … trong đó giáo dục là tác động tích cực nhất của xã hội đối với sự hình thành và phát triển năng lực của cá nhân Bởi vì, năng lực là điều kiện để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo luôn có mối quan hệ thống nhất với nhau Năng lực không biểu hiện trong tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà nó được phát hiện
ra trong quá trình lĩnh hội tri thức
Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất, nhưng điều chủ yếu là năng lực được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới tác động của dạy học và giáo dục Vì vậy, vấn đề phát hiện và bồi dưỡng năng lực, năng khiếu là một trong những vấn đề cơ bản của chiến lược giáo dục nhằm:
Trang 17nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài… Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực Mỗi người đếu có năng lực đối với một hoạt động nào đó Vì vậy, khi phân công lạo động ta cần phải tìm hiểu năng lực của mỗi người sao cho phù hợp với từng loại công việc
1.1.5 Năng lực của học sinh
Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống
Năng lực học sinh là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố,
đa tầng bậc, hàm chứa trong đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng… mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội…thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội
1.1.6 Các năng lực cốt lõi của học sinh
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin
- Năng lực sử dung ngôn ngữ
- Năng lưc tính toán
1.1.7 Năng lực trong bộ môn hóa học [10]
Trong môn Hóa học bao gồm 6 năng lực đặc thù
Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
- Nghe và hiểu, trình bày và vận dụng được nội dung các thuật ngữ hóa học, danh pháp hóa học và các biểu tượng hóa học (kí hiệu, hình vẽ, mô hình cấu trúc các phân tử các chất, các liên kết hóa học)
- Biểu diễn đúng công thức hóa học của các hợp chất vô cơ và các hợp chất hữu cơ các dạng công thức, đồng đẳng, đồng phân
- Quy tắc đọc tên tên theo các danh pháp khác nhau đối với các hợp chất hữu cơ
Trang 18Năng lực nghiên cứu và thực hành hóa học
- Sử dụng thành thạo các đồ dùng thí nghiệm, lắp đặt các bộ dụng cụ thí nghiệm, hiểu được tác dụng của từng bộ phận, biết phân tích sự đúng sai trong cách lắp
- Mô tả và giải thích được các hiện tượng thí nghiệm và rút ra những kết luận về tính chất của chất, được các phương trình hóa học và rút ra được những kết luận cần thiết
- Năng lực này bao gồm các năng lực tiến hành thí nghiệm, sử dụng và vận dụng thí nghiệm; năng lực quan sát, mô tả, giải thích các hiện tượng tự nhiên
- Tiến hành độc lập các thí nghiệm nghiên cứu, tìm kiếm và thu được những kiến thức cơ bản để hiểu biết giới tự nhiên và kĩ thuật
Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học
- Phân tích được tình huống, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống
- Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề Đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề, lựa chọn được giải pháp phù hợp
- Đề xuất được giả thuyết khoa học khác nhau Lập được kế hoạch để giải quyết vấn
đề đặt ra Thực hiện kế hoạch độc lập sáng tạo hoặc hợp tác trên cơ sở các giả thuyết đã đề ra
- Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề, suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới
Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
- Năng lực hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức hóa học đó Khi vận dụng kiến thức chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
Trang 19- Định hướng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi vận dụng kiến thức hóa học phải ý thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụng trong các lĩnh vực gì, ngành nghề gì trong cuộc sống
- Phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các vấn đề thực phẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, khoa học thường thức, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và môi trường
- Tìm mối liên hệ và giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên và các ứng dụng của hóa học trong cuộc sống và trong các lĩnh vực đã nêu trên dựa vào các kiến thức hóa học và kiến thức liên môn khác
- Chủ động sáng tạo lựa chọn phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề Có năng lực hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn đề hóa học liên quan đến cuộc sống thực tiễn và bước đầu biết tham gia nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề
đó
Năng lực sáng tạo
- Đề xuất được câu hỏi nghiên cứu cho một vấn đề hay chủ đề học tập cụ thể; đề xuất giả thuyết nghiên cứu phù hợp với câu hỏi nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo
- Đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi để kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu, thực hiện phương án thực nghiệm Sau đó, các em sẽ xây dựng báo cáo kết quả nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo
1.1.8.Tăng cường xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh [10]
1.1.8.1 Sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học để rèn các kiến thức kĩ năng THTN góp phần phát triển năng lực thực hành hóa học cho HS
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh các bước giải bài tập thực nghiệm:
Bước 1: Giải lí thuyết, hướng dẫn học sinh phân tích lí thuyết, xây dựng các bước giải, dự đoán hiện tượng, kết quả thí nghiệm, lựa chọn hóa chất, dụng cụ, dự kiến cách tiến hành
Bước 2: Tiến hành thí nghiệm, chú trọng đến các kỹ năng:
- Mô tả đầy đủ, đúng hiện tượng thí nghiệm và giải thích đúng các hiện tượng đó
- Đối chiếu kết quả thí nghiệm với việc giải lí thuyết, rút ra nhận xét, kết luận
Trang 20Với các dạng bài tập khác nhau thì các hoạt động cụ thể của học sinh cũng có thể thay đổi cho phù hợp Cần chú ý rằng khi sử dụng các bài tập thực nghiệm, có thể dùng nhiều hình thức khác nhau:
+ Sử dụng các thí nghiệm hóa học và các dụng cụ hóa chất cần thiết để làm bài tập (toàn thể học sinh làm hoặc một vài em làm thí nghiệm biểu diễn; kết hợp vừa giải bằng lí thuyết và có một phần bằng thực nghiệm)
+ Bài tập chỉ được giải bằng lí thuyết (mang tích chất thực nghiệm tưởng tượng) + Bài tập bằng hình vẽ, sơ đồ (dùng hình vẽ để mô tả cách lắp đặt dụng cụ, thu khí, hoặc từ hình vẽ, sơ đồ cho trước, phân tích các khả năng phù hợp)
1.1.8.2 Tăng cường các dạng bài tập có sử dụng sơ đồ,hình vẽ
Các dạng bài tập này hiện nay còn ít được sử dụng trong dạy học, việc sử dụng dạng bài tập này sẽ góp phần hình thành cho HS năng lực quan sát ,năng lực tư duy hóa học
1.1.8.3 Sử dụng bài tập hóa học xây dựng tình huống có vấn đề,dạy học sinh giải quyết vấn đề,tổ chức cho học sinh tìm tòi,giải quyết vấn đề
Phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, thực tiễn là một năng lực cần thiết Trong phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề giáo viên phải tạo tình huống có vấn đề, điều chưa biết là yếu tố trung tâm gây ra sự hứng thú nhận thức, kích thích tư duy, tính tự giác, tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh Giáo viên có thể sử dụng bài tập nêu vấn đề để tạo tình huống có vấn
đề đối với học sinh rồi giúp học sinh tự lực giải quyết các vấn đề đặt ra Bằng cách
đó học sinh vừa nắm được tri thức mới vừa nắm được phương pháp nhận thức tri thức đó, phát triển được tư duy sáng tạo, học sinh còn có khả năng phát triển vấn đề
và vận dụng kiến thức vào tình huống mới
Như vậy bằng những bài tập nêu vấn đề của giáo viên mà học sinh tiếp thu kiến thức mới một cách tích cực, chủ động, sáng tạo
1.1.8.4 Tăng cường xây dựng và sử dụng các bài tập giải quyết vấn đề,các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, năng lực xử lí thông tin…
Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp , đánh giá vận dụng kiến thức vào những bối cảnh và tình hướng thực tiễn Những bài tập này là những bài tập
mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều cách giải quyết khác nhau góp phần
Trang 21hình thành cho học sinh các năng lực như: Năng lực xử lý thông tin, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.2 BÀI TẬP HÓA HỌC
1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, BTHH được giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, BTHH vừa là mục đích vừa là nội dung lại vừa là nội dung dạy học hiệu của, nó không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức mà nó còn mang lại niềm vui cho úa trình khám phá, tìm tòi, phát hiện của việc tìm ra đáp số BTHH là công cụ rất hiệu nghiệm để củng
cố, khắc sâu và mở rộng kiến thức cho học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn cuộc sống Đặc biệt BTHH còn mang lại cho người học một trạng thaí hưng phấn, hứng thú nhận thức Đây là yếu tố tâm lý quan trọng của qúa trình nhận thức đang được chúng ta quan tâm
1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của BTHH trong giảng dạy hóa học
Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được các kiến thức vào việc giải baì tập, học sinh mới nắm bắt kiến thức một cách sâu sắc
- Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập, học sinh sẽ buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực tế cho thấy học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hóa học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học… Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn luyện các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh…
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất
Trang 22- Rèn luyện cho học sinh đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học Bài tập thực tiễn, thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)
1.2.3 Phân loại chi tiết bài tập hoá học ở trường phổ thông
1.2.3.1 Cơ sở phân loại
Có nhiều cách phân loại bài tập tùy thuộc vào cơ sở phân loại Có thể dựa vào các
cơ sở sau đây:
- Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thể chia thành bài tập
lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm) và bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
- Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành: Bài tập định tính (không có tính toán) và bài tập định lượng (có tính toán)
- Dựa vào các kiểu bài và dạng bài có thể chia thành bài tập cân bằng phương trình phản ứng, bài tập viết chuỗi phản ứng, bài tập điều chế, bài tập nhận biết, bài tập tách các chất ra khỏi hỗn hợp, bài tập xác định thành phần hỗn hợp, bài tập lập CTPT, bài tập tìm nguyên tố chưa biết
- Dựa vào nội dung có thể chia thành: bài tập nồng độ, điện phân, áp suất …
- Dựa vào chức năng có thể chia thành: bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ: bài tập đánh giá có khả năng vẽ sơ đồ, tìm tài liệu, tổng kết … Bài tập rèn luyện tư duy khoa học (phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn dịch …)
- Dựa vào khối lượng kiến thức hay mức độ đơn giản hoặc phức tạp có thể chia thành bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp
1.2.3.2 Phân loại chi tiết bài tập hoá học ở trường phổ thông
Bài tập lý thuyết định tính gồm các dạng chính sau:
-Viết công thức điện tử, công thức cấu tạo, công thức đồng phân
- Viết phương trình phản ứng biểu diễn dãy chuyển hóa của chất
Trang 23- Xác định cấu tạo cuả một chất dựa vào tính chất của nó
- Trình bày tính chất hóa học của một chất
- Trình bày các định luật và học thuyết hóa học, các khái niệm hóa học cơ bản Bài tập lý thuyết lượng hay bài tập tính toán gồm các dạng chính sau:
- Tính khối lượng phân tử của một chất Đổi từ gam sang mol nguyên tử hoặc mol phân tử và ngược lại
- Tính theo công thức hóa học: tính tỉ lệ khối lượng giữa các nguyên tố trong hợp chất, tính khối lượng nguyên tử của một nguyên tố khi biết công thức phân tử của của một hợp chất và thành phần trăm các nguyên tố còn lại
- Tính theo phương trình hóa học ( cân bằng phương trình )
- Hoàn thành các phương trình phản ứng hạt nhân Tính chu kì bán hủy
- Tính lượng lượng chất tan và lượng dung môi để pha chế một lượng dung dịch có nồng độ cho trước hoặc tính nồng độ của dung dịch
- Xác định nguyên tố hóa học
- Xác định công thức phân tử của hợp chất.Tính thành phần phần trăm về thể tích hay khối lượng của một hỗn hợp
- Tính tốc độ phản ứng hóa học
- Tính độ điện li, hằng số cân bằng axit, bazo
- Tính hiệu ứng nhiệt của phản ứng
- Tính độ tinh khiết của một chất hoặc hiệu suất của phản ứng
- Quan sát mô tả, giải thích hiện tượng thí nghiệm
- Làm thí nghiệm để nghiên cứu tính chất của một chất hoặc của một phản ứng hóa học
- Nhận biết các chất
- Tách các chất ra khỏi hỗn hợp
- Điều chế các chất
Trang 24- Xác định độ tan của các chất và nồng độ của dung dịch
- Xác định thành phần phần trăm về khối lượng của hỗn hợp các chất
- Điều chế các chất hoặc tính hiệu suất của phản ứng hoặc tinh chế một chất rồi tính
Trong học tập hóa học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho
HS là hoạt động giải bài tập Thông qua hoạt động này năng lực tư duy được phát triển, HS sẽ có những phẩm chất tư duy mới, thể hiện ở: năng lực phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng mới, tạo ra kết quả học tập mới
Người GV cần ý thức được mục đích của việc giải bài tập hóa học, không phải chỉ là tìm ra đáp số đúng mà còn là phương tiện khá hiệu quả để rèn luyện tư duy hóa học cho HS BTHH phong phú và đa dạng, để giải được BTHH cần vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… Qua đó HS phát triển năng lực nhận thức, tư duy logic, biện chứng, khái quát, phát huy khả năng suy luận, tích cực
Với những bài tập có nhiều cách giải sẽ giúp rèn luyện trí thông minh cho HS thông qua việc HS tự chọn một cách giải độc đáo, hiệu quả Bên cạnh đó, HS còn đợc rèn luyện ý thức tự giác trong học tập, nâng cao khả năng hiểu biết về bản thân, giúp
HS năng động, sáng tạo, thấy được giá trị lao động qua những bài tập thực hành,
Trang 25thực nghiệm, liên quan đến thực tế sản xuất và đời sống, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho HS
1.4 NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN BÀI TẬP ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
1.4.1 Quán triệt mục tiêu dạy học
Bài tập là một phương tiện để tổ chức các hoạt động của học sinh nhằm khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết, hình thành và rèn luyện các
tư duy sáng tạo cho học sinh
1.4.2 Đảm bảo tính khoa học, chính xác của nội dung
Khi xây dựng, nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa học, bài tập cho đủ các dữ kiện, không được dư hay thiếu Các bài tập không được mắc sai lầm hay thiếu chính xác trong cách diễn đạt, thiếu logic chặt chẽ Vì vậy giáo viên khi ra bài tập cần chú ý tính logic chính xác và đảm bảo tính khoa học về ngôn ngữ hóa học
1.4.3 Phát huy tính tích cực của học sinh
Với mục đích của đề tài là nghiên cứu bài tập dùng cho học sinh khá giỏi, chúng tôi phân ra làm hai loại bài tập: bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp
- Bài tập cơ bản: loại bài tập chỉ yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã biết để giải quyết các tình huống quen thuộc
- Bài tập tổng hợp: loại bài tập đòi hỏi học sinh khi giải vận dụng một chuỗi các lập luận logic, giữa cái đã cho và cái cần tìm Do đó học sinh cần phải giải thành thạo các bài tập cơ bản và phải nhận ra quan hệ logic của toàn bài, từ đó học sinh đề ra cách giải quyết cho bài tập đó Đối với học sinh khá giỏi cần phải có nhiều bài tập dạng tổng hợp để phát huy năng lực sáng tạo của các em Đồng thời cũng cần lựa
Trang 26chọn một số bài tập hấp dẫn, gây hứng thú học tập như: bài tập liên hệ thực tế, bài tập sử dụng hình vẽ
1.4.4 Đảm bảo tính hệ thống
Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập có những loại bài tập được đầu tư nhiều hơn, vì chúng góp phần quan trọng hơn vào việc hình thành và rèn luyện những kĩ năng liên quan đến nhiều hoạt động giáo dục…Giữa các bài tập trong hệ thống luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bài tập trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện bài tập sau và bài tập sau là sự cụ thể hóa, là sự phát triển và củng cố vững chắc hơn bài tập trước Toàn bộ hệ thống bài tập đều nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng cơ bản
Mặt khác, hệ thống bài tập còn phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú
Sự đa dạng của hệ thống bài tập sẽ giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể, chuyên biệt một cách hiệu quả
1.4.5 Đảm bảo tính thực tiễn
Thông qua việc dạy chữ để dạy người Đặc biệt là rèn luyện cho HS ý thức trách nhiệm công dân sống và làm việc theo pháp luật, bảo vệ tài nguyên, môi trường… Đồng thời chú ý đến việc giáo dục HS kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS
Ví dụ: Thông thường, các este dùng trong công nghiệp thực phẩm, đồ uống, bánh kẹo được tổng hợp hoặc chiết xuất từ thiên nhiên Tuy nhiên, do giá thành cao và một số nguyên nhân khác, nên hầu hết nguồn chủ yếu từ tổng hợp hóa học Phản ứng điều chế este là phản ứng thuận nghịch Để nâng cao hiệu suất của phản ứng có thể thực hiện những biện pháp nào?
Trả lời:
-Dùng dung dịch axit H2SO4 đặc sẽ hút được nhiều nước
-Lấy dư một trong 2 chất tham gia phản ứng
Trang 27gắng cao mới có thể giải được Các bài tập phải có đủ loại điển hình và tính mục đích rõ ràng Với hệ thống bài tập được xây dựng theo nguyên tắc này sẽ giúp cho
1.5 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC TRONG HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Qua điều tra GV và HS, tôi có một số nhận xét sau về thực trạng sử dụng BTHH ở trường phổ thông:
-Sử dụng BTHH trong dạy học có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực
- Về nguồn bài tập: phần lớn GV sử dụng bài tập có sẵn trong sách giáo khoa (SGK), sách bài tập và các sách tham khảo Sử dung bài tập trên internet, tìm tòi, xây dựng bài tập mới và xây dựng thành hệ thống bài tập thì ít có GV thực hiện HS cũng ít khi làm bài tập ở ngoài SGK, sách bài tập
- Về các dạng bài tập: hay dùng câu hỏi lý thuyết, bài tập lý thuyết định tính trong dạy học Đặc biệt bài toán hóa học là dạng bài không thể thiếu Còn những dạng bài tập như bài tập thí nghiệm, hình vẽ hay bài thực nghiệm định lượng hầu như không được chú ý
- Mục đích sử dụng bài tập: bài tập giúp HS nhớ lý thuyết, rèn kỹ năng và đáp ứng yêu cầu kiểm tra, thi cử vẫn là mục đích sử dụng cao nhất Tiếp theo là bài tập giúp
HS vận dụng và mở rộng kiến thức Riêng bài tập nhằm mục đích giúp HS tự tìm tòi kiến thức và rèn kỹ năng tự học thì ít được sử dụng Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc nâng cao khả năng nhận thức và tư duy cho HS
- Phương pháp dạy học: còn nặng nề các phương pháp truyền thống, chưa sử dụng nhiều phương pháp, phương tiện học tích cực
-Về các kiểu bài lên lớp có sử dụng bài tập: chủ yếu là vào giờ ôn tập, kiểm tra còn giờ học lý thuyết mới hay thực hành thì ít sử dụng
- Về cách tổ chức lớp khi làm bài tập: hầu như GV làm bài mẫu hoặc gọi HS biết làm lên bảng rồi cho HS làm bài áp dụng chứ ít khi thấy HS độc lập suy nghĩ hay thảo luận và lên thuyết trình
1.6 MỘT SỐ KINH NGHIỆM RA ĐỀ THI 2013-2016 [web 1]
- Đề thi có thể hay hoặc không hay theo ý kiến chủ quan của mỗi người, nhưng nhất thiết phải chính xác
- Đề thi “đúng” quan trọng hơn đề thi “hay”
PHẦN 1: KINH NGHIỆM 2013 - 2014
Trang 281 Câu văn rõ ràng, tránh sự trùng lặp từ đến mức tối thiểu
2 Không nói là phản ứng điều chế cao su mà nói là điều chế polime thành phần chính của cao su
3 Khi nói về đồng phân phải cẩn thận Chú ý: đồng phân của X là không tính X
4 Khi nói về phản ứng của iot với hồ tinh bột phải nói là nhiệt độ thường Vì nếu hồ tinh bột nóng thì không có phản ứng tạo hợp chất màu
5 Phản ứng của Ag với muối FeCl3 không nên ra vì có phản ứng, do: Kết tủa AgCl
đã làm giảm nồng độ Ag+ dẫn đến làm giảm thế điện cực của cặp Ag+/Ag , vì vậy
mà tạo điều kiện cho phản ứng của Ag với muối Fe3+ Nhạy cảm Bản thân Ag cũng phản ứng được với muối Fe3+ (phản ứng xảy ra đáng kể)
6 Khi cho Al vào dung dịch CuSO4 thì có phản khí bay ra, sau đó mới có Cu bám vào: Giải thích: Muối Cu2+
thủy phân tạo môi trường axit, do đó Al tác dụng với H+nên có khí hiđro bay ra
7 Không nên nói công thức cấu tạo của amino axit là… Vì amino axit có 2 dạng
phân tử và muối nội Chỉ nên dùng từ công thức của amino axit là …
8 Không dùng câu dẫn: cho các dung dịch tác dụng với khí mà phải nói ngược lại
vì người ta cho khí vào dung dịch chứ không cho dung dịch vào khí
9 Trước từ “thu được” phải có dấu “,”
10 Độc nồng độ và độc bản chất: Rất độc thì hiểu theo nghĩa độc bản chất, chỉ cần lượng rất nhỏ cũng độc
11 Khi ra đề về điện phân tạo khí thì nói: các khí sinh ra không tan trong dung dịch
12 Ra đề cần chú ý cận của đáp án đúng và cận của đáp án sai phải hài hòa Ví dụ: không nên để giá trị đáp án đúng quá nhiều giá trị nhỏ nhất hoặc lớn nhất hoặc khoảng giữa mà phải đều ở các giá trị
13 Biên tập đề từ đề đề xuất: Đổi chất, đổi số chất, đổi dữ liệu, đổi hoàn toàn quá trình mà chỉ lấy ý tưởng
14 Ra đề phải có phản biện độc lập: Phản biện về ma trận đề, đề có phù hợp với ma trận không Đề có quá nhiều câu khó không, đề quá nhiều câu dễ không, đề không mượt hay mượt, đề đã xuất hiện trên thị trường đề nhiều chưa
15 Phản biện rồi phải sửa lại nhiều lần và phải duyệt đề với người chịu trách nhiệm
16 Tránh sự trùng lặp ý tưởng của các câu
Trang 2917 Chú ý đến thực tiễn của bài toán Không nên ra những hỗn hợp không có trong thực tiễn
18 Khi ra về cân bằng phản ứng oxi hóa khử không nên dùng câu hỏi: Tổng hệ số
nguyên tối giản của các chất… thực tế toán học không có khái niệm này Mà nên
dùng: Tỉ lệ a:b là…
19 Ngay khi bắt đầu câu thì không dùng kí hiệu chất mà phải thêm từ “Chất”
20 Không ra đề vào phần giảm tải
21 Ra đề phần tạo muối amoni của axit nên tránh axit H2SO4 vì có thể tạo muối axit
22 Không ra đề vào vùng kiến thức gây tranh cãi, có nhiều phương án mà phương
án nào cũng có lí Phần kiến thức nhạy cảm
23 Phương án nhiễu phải có lí do chứ không phải nhiễu bất kì Đáp án nhiễu là do học sinh hiểu sai vấn đề hoặc lập luận sai dẫn đến kết quả của phương án nhiễu
24 Sau đáp án phải có dấu chấm (.)
Ví dụ: B 22,4
25 Nếu câu dẫn và đáp án làm thành 1 câu hoàn chỉnh thì không dùng dấu hai chấm
(:) (dấu hai chấm dùng khi liệt kê ở đáp án) và ở đáp án không viết hoa đầu dòng PHẦN 2: KINH NGHIỆM 2014 – 2015
1 Cẩn thận với câu hỏi: Số đồng phân có phản ứng tráng bạc ứng với công thức phân tử C4H8O2 vì:
HO – CH2 – CO – CH2 – CH3 Chuyển vị thành OHC – CH(OH)CH2CH3 lại có phản ứng tráng bạc
2 Trước từ “thì” sẽ không có dấy phẩy (,)
3.Chuyển câu: Phát biểu nào sau đây là đúng (là sai) thành: Phát biểu nào sau đây
đúng (sai) Không nên nói: phát biểu nào sau đây “không đúng”?
4 Đã dùng từ “hình vẽ” thì không dùng từ “sơ đồ”
5 Nói x : y thì phải thêm từ tỉ lệ (tỉ lệ x :y)
6 Khi cho kim loại tác dụng với dung dịch HNO3 tạo khí NO2 thì không nên nói thu được V lít NO2 (đktc), vì ở đktc thì NO2 đã chuyển hóa một phần thành N2O4 Do
đó nên nói thu được x mol NO2
7 Lưu ý: khi điện phân dung dịch CuSO4 với điện cực trơ thì khi Cu2+ hết có thể ion H+ bị điện phân ở catot (H+ chuyển từ khu vực cực dương sang) Vì vậy, không nên nói “cho đến khi nước bị điện phân ở catot”
Trang 308 Không nên nói chất tham gia phản ứng mà nói chất phản ứng, vì: chất xúc tác thì cũng tham gia vào quá trình phản ứng nhưng không được xem là chất phản ứng
9 Cẩn thận với trường hợp tạo hợp chất hữu cơ mạch vòng Chẳng hạn:
HOOC-CC-COOH + HOCH2CH2OH tạo ra este vòng X1 (C6H4O4) Sau đó
X1 cộng H2O vào liên kết ba tạo thành C6H6O5
10 Cẩn thận nhóm –CN là một nhóm chức (chứa 2 liên kết pi)
11 Phản ứng tráng bạc cần dung dịch AgNO3 dư, NH3 dư Tuy nhiên nồng độ AgNO3 nhỏ (<< 1M)
- Khối lượng Ag không nhiều (khoảng vài gam)
- Không nên dùng axit fomic vì axit có thể phá phức bạc, phản ứng khó thực hiện
- Nếu hỗn hợp HO-CH2CHO (A), HO-CH2COOH (B) Nên cho số mol A gấp ít nhất 10 lần số mol B để đảm bảo chức axit của B không phá phức
12 Theo thói quen, nhiều người ra đề cho rằng phản ứng sau thực hiện dễ dàng:
CH2(COONa)2 + 2NaOH → CH4 + 2Na2CO3
Tuy nhiên rất khó thực hiện Người ta chỉ áp dụng phản ứng vôi tôi xút với RCOONa
13 Khi nhận biết các dung dịch, theo nguyên tắc: người ta dùng quỳ tím đầu tiên, mặc dù không nhận được chất nào nhưng vẫn dùng
14 Cẩn thận với hợp chất tạp chức mà ta không lường hết được
15 Theo thói quen: Cho hỗn hợp peptit, sau đó tách riêng tưng chất rồi đem phản ứng Điều này là vô lí vì rất khó tách riêng từng peptit ra khỏi hỗn hợp
16 Sự thiết kế bài tập phải là hệ thực và tồn tại thực tế
17 Để ý: MgO cho vào dung dịch NaOH vẫn có phản ứng của MgO với nước
18 Tránh trường hợp cho kim loại tác dụng với dung dịch muối Fe3+ vì có sự thủy phân mạnh của muối Fe3+, tạo H+
19 Hỏi glucozơ hòa tan Cu(OH)2 thì nói: dung dịch glucozơ
20 Kí hiệu chất cần ghi đậm, kí hiệu hỗn hợp thì không cần ghi đậm (năm 2015 theo quy tắc này – định dạng như hsgqg, đến năm 2016 – bỏ)
Ví dụ: Sau phản ứng, thu được hỗn hợp X gồm chất Y và chất Z
21 Cẩn thận với nhận xét không chắc chắn sau:
Phản ứng sau không xảy ra: FeO + HNO3 → Fe(NO3)2 + H2O
Vì rằng: Phản ứng trên có thể xảy ra rồi sau đó mới là phản ứng oxi hóa – khử
PHẦN 3: KINH NGHIỆM 2015 – 2016
Trang 31- Phải rất cẩn thận với loại bài tập hợp chất tạp chức vì rằng có rất nhiều trường hợp
mà bản thân người ra đề không lường hết được Vì vậy mà đề thi đại học, chỉ dám
ra những bài toán đốt cháy hoặc thuỷ phân những hợp chất đơn giản
Một số ví dụ:
Ví dụ 1: Ba chất hữu cơ X, Y, Z đều chỉ chứa C, H, O và có tối đa 2 loại nhóm
chức (MZ = 1,18MX; MY = 2MX ) Nếu cho Z phản ứng hết với Na hoặc với
NaHCO3 (dư) thì số mol khí sinh ra đều bằng số mol Z phản ứng Nếu cho hỗn hợp gồm X, Y và Z phản ứng vừa đủ với dung dịch NaOH thì dung dịch thu được có một chất tan T duy nhất Cho 33,04 gam Z phản ứng với NaHCO3, thu được 39,2
gam T Phát biểu nào sau đây sai?
A Tỉ lệ số nguyên tử C trong ba phân tử X, Y, Z tương ứng bằng 1 : 2 : 1
B Chất X dễ tan trong nước hơn chất Z
C Nếu nung chất T với hỗn hợp NaOH và CaO thì thu được ancol
D Ba chất X, Y, Z đều không làm mất màu dung dịch Br2
Ví dụ 2:: Hợp chất hữu cơ X chứa C, H, O thuộc loại hợp chất no, mạch hở và chứa hai loại nhóm chức Thủy phân X trong môi trường axit vô cơ loãng, thu được ba chất hữu cơ Y, Z, T (Y và Z thuộc loại hợp chất đơn chức, có cùng số nguyên tử
cacbon trong phân tử và đều tác dụng với Na giải phóng H2) Nếu đốt cháy hoàn
toàn Y thì thu được CO2 và H2O có số mol bằng nhau Nếu đốt cháy hoàn toàn Z thì
thu được CO2 và H2O có tỉ lệ mol tương ứng bằng 2:3 Cho 0,52 gam T phản ứng
hết với dung dịch AgNO3 dư trong NH3, thu được 1,08 gam Ag và chất hữu cơ E
(ME - M T = 50)
Nhận xét nào sau đây sai?
A Tổng số nguyên tử C trong các phân tử X, Y, Z và T bằng 14
B Tỉ lệ số nguyên tử H giữa Y và T bằng 1:1
C Ở nhiệt độ thường, chất Y hòa tan được Cu(OH)2
D Chất T có mạch cacbon phân nhánh
Trang 32CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CHƯƠNG
ESTE – LIPIT HÓA HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CỦA HỌC SINH LỚP 12 2.1 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA CHƯƠNG ESTE- LIPIT [6]
2.1.1 Vị trí – ý nghĩa – tầm quan trọng của chương
Vị trí: thuộc chương 1, nằm ở đầu sách giáo khoa hóa học lớp 12
Ý nghĩa:
- Chương este-lipit cung cấp cho HS những tri thức khoa học cơ bản về hợp chất hữu cơ, sự biến đổi và mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học hữu cơ, môi trường và con người Những tri thức này rất quan trọng, giúp HS có những nhận thức khoa học về hóa học hữu cơ, góp phần phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành nhân cách người lao động mới năng động và sáng tạo
- Giúp HS củng cố và phát triển các quan điểm duy vật biện chứng, hình thành thế giới quan khoa học cho HS
-Phát triển tư duy khái quát, các phương pháp học tập nghiên cứu về este-lipit -Sự tìm hiểu về các este sẽ giúp học sinh liên hệ giữa lý thuyết và thực tế cuộc sống, rất gần gũi, làm cho học cảm thấy hứng thú và yêu thích môn hóa nhiều hơn
Tầm quan trọng:
Chúng ta biết hầu hết este – lipit rất quen thuộc trong đời sống, nó có rất nhiều ứng dụng, là một hợp chất quan trọng trong nền công nghiệp hiện đại để đáp ứng nhu cầu của con người ví dụ như: làm dung môi, sản xuất nhiều chất quan trọng như: poli(metyl acrylat) và poli(metyl metacrylat) dùng làm thủy tinh hữu cơ; dùng làm chất hóa dẻo, dược phẩm và dùng trong công nghiệp thực phẩm và mĩ phẩm… Chính vì nó có tầm quan trọng như vậy nên con người cần phải tìm hiểu để biết cách ứng dụng và bảo quản chúng Đồng thời giúp học sinh giải quyết các vấn đề trong các kì thi một cách tốt nhất
2.1.2 Mục tiêu của chương
Trang 33-Vận dụng các lý thuyết chủ đạo để nghiên cứu các đối tượng cụ thể về chất hữu
cơ, một số dãy đồng đẳng loại hợp chất hữu cơ tiêu biểu có nhiều ứng dụng, gần gũi trong đời sống, sản xuất
- Có thái độ học tập tích cực và yêu thích bộ môn hóa học
2.1.3 Cấu trúc nội dung của chương
Cấu trúc chương trình nâng cao:
Cấu trúc chương trình cơ bản:
2.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CHƯƠNG ESTE-LIPIT HÓA HỌC 12 [web 2]
Để xây dựng hệ thống câu hỏi/bài tập, ta thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Chọn chủ đề: Este-Lipit
Bước 2: Chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của mỗi chủ đề trong chương trình
hiện hành trên quan điểm định hướng phát triển năng lực HS
Trang 34Cụ thể, nội dung Este, về kiến thức, học sinh biết được: Khái niệm, đặc điểm cấu
tạo phân tử, danh pháp (gốc- chức) của este Tính chất hóa học: Phản ứng thủy phân trong môi trường axit và phản ứng xà phòng hóa Phương pháp điều chế bằng phản ứng este hóa; ứng dụng của một số este tiêu biểu
-Hiểu được: Este không tan trong nước và có nhiệt độ sôi thấp hơn axit đồng phân -Kĩ năng: Viết được công thức cấu tạo của este có tối đa 4 nguyên tử cacbon Viết
được phương trình hóa học (PTHH) minh họa tính chất của este no, đơn chức Phân biệt được este với các chất khác như ancol, axit…bằng phương pháp hóa học
Phát triển năng lực: Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học Năng lực thực hành hóa học
Với nội dung Lipit, về kiến thức, học sinh biết được: Khái niệm và phân loại
lipit; khái niệm chất béo, tính chất vật lý, tính chất hóa học, ứng dụng của chất béo;
cách chuyển hóa chất béo lỏng thành chất béo rắn, phản ứng oxi hóa chất béo bởi oxi không khí
-Kĩ năng: Viết được các PTHH minh họa tính chất của chất béo; phân biệt được dầu
ăn và mỡ bôi trơn về thành phần hóa học; biết cách sử dụng, bảo quản được một số chất béo an toàn, hiệu quả; tính khối lượng chất béo trong phản ứng
Phát triển năng lực: Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học; năng lực tính toán hóa học; năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
Bước 3: Bảng mô tả các mức độ cần đạt cho chủ đề
- Nêu được đặc điểm cấu tạo phân tử este, chất béo
- Phân biệt được dầu ăn,
mỡ bôi trơn
về thành phần hóa học
- Giải thích tính tan
- Suy luận tính chất từ cấu tạo và ngược lại
- Đề xuất các biện pháp xử
lí các hiện tượng , vấn
- Tìm hiểu 1 số este trong hoa quả, ứng dụng
và cách bảo quản
- Tìm hiểu một
số chất béo có trong động vật,
Trang 35- Nhận diện được một số este, chất béo thông qua tên gọi hoặc công thức
- Nêu được tính chất vật
lí, hóa học của este, chất béo
- Nêu được phương pháp điều chế bằng phản ứng este hóa
- Nêu được ứng dụng của một số este, chất béo tiêu biểu
trong nước
và nhiệt độ sôi este thấp hơn axit đồng phân
- Minh họa/chứng minh được tính chất hóa học của este
no, đơn chức, chất béo bằng các PTHH
đề giả định
- Nhận biết, tinh chế, tách chất
- Gọi tên chất tương tự
- Xác định sản phẩm phản ứng
- Vận dụng định nghĩa viết CTCT
- Tính toán:
theo công thức, phương trình, theo các định luật
thực vật và sử dụng an toàn, hiệu quả
- Phân biệt được este với các hợp chất chứa nhóm chức khác bằng phương pháp hóa học
- Xác định được CTCT, số CTCT của một số este
đa chức, tạp chức
- Bài tập tính chỉ
số este, axit, xà phòng hóa, hiệu suất…
- Bài tập về phản ứng thủy phân, phản ứng cháy, hỗn hợp este
- Giải thích được các hiện tượng thí nghiệm
Giải thích được một số hiện tượng thí nghiệm liên quan đến thực tiễn
Phát hiện được một số hiện tượng trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa học để giải thích
Bước 4: Xây dựng một số câu hỏi/Bài tập minh họa theo các mức độ đã mô tả 2.3 TÓM TẮT LÝ THUYẾT [9]
2.3.1 Khái niệm este
2.3.1.1 Cấu tạo phân tử este
Trang 36- Este là dẫn xuất của axit cacboxylic Khi thay thế nhóm hiđroxyl (–OH) ở nhóm cacboxyl (–COOH) của axit cacboxylic bằng nhóm –OR’ thì được este Este đơn giản có công thức cấu tạo: RCOOR’ với R, R’ là gốc hiđrocacbon no, không no hoặc thơm (trừ trường hợp este của axit fomic có R là H)
- Este no, đơn chức mạch hở có công thức phân tử CnH2nO2 với n2
- Một vài dẫn xuất khác của axit cacboxylic có công thức cấu tạo như sau:
Este Anhiđrit axit Halogenua axit Amit
2.3.1.2 Cách gọi tên este
Tên gốc hiđrocacbon R’ + tên anion gốc axit (thay đuôi ic = at)
2.3.1.3 Tính chất vật lí của este
- Giữa các phân tử este không có liên kết hiđro vì thế este có nhiệt độ sôi thấp hơn
so với axit và ancol có cùng số nguyên tử C Ví dụ HCOOCH3 (ts = 30oC);
2.3.1.4 Tính chất hóa học của este
- Phản ứng thủy phân, xúc tác axit:
- Phản ứng xà phòng hóa:
- Phản ứng hidro hóa chất béo lỏng:
Trang 37
2.3.1.5 Điều chế este
- Este của ancol:
- Este của phenol:
- Este có gốc vinyl:
2.3.1.6 Ứng dụng
- Làm dung môi (butyl và amyl axetat được dùng để pha sơn tổng hợp)
- Poli(metyl acrylat), poli(metyl metacrylat) dùng làm thủy tinh hữu cơ, poli(vinyl axetat) dùng làm chất dẻo hoặc thủy phân thành poli(vinyl ancol) dùng làm keo dán
- Một số este có mùi thơm của hoa quả được dùng trong công nghiệp thực phẩm (bánh kẹo, nước giải khát) và mỹ phẩm (xà phòng, nước hoa…)
2.3.2 Khái niệm lipit (chất béo)
2.3.2.1 Phân loại lipit
- Lipit là những hợp chất hữu cơ có trong tế bào sống, không hòa tan trong nước nhưng tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực như ete, clorofom, xăng dầu…
- Lipit được chia làm hai loại: lipit đơn giản và lipit phức tạp
+ Lipit đơn giản: sáp, triglixerit và steroit
+ Lipit phức tạp: photpholipit
Sáp:
- Este của monoancol phân tử khối lớn với axit béo phân tử khối lớn
- Là chất rắn ở điều kiện thường (sáp ong…)
Trang 38- Este hỗn tạp của glixerol với axit béo có phân tử khối cao và axit photphoric
- Ví dụ: lexithin (trong lòng đỏ trứng gà)…
2.3.2.2 khái niệm: Chất béo là trieste của axit béo có mạch cacbon dài với glixerol
Công thức cấu tạo chung của chất béo:
Các axit béo là các axit monocacboxylic có số chẵn nguyên tử cacbon
( khoảng từ 12C đến 24C) không phân nhánh Các axit béo thường gặp:
+ Axit béo no:
CH3(CH2)14COOH: Axit panmitic
CH3(CH2)16COOH: Axit stearic
+ Axit béo không no có một nối đôi: Axit oleic
2.3.2.4 Tính chất hóa học
*Phản ứng thủy phân trong môi trường axit:
Trang 392.3.2.5 Các chỉ số của chất béo
- Chỉ số axit: là số miligam KOH cần để trung hòa hết axit béo tự do có trong 1
gam chất béo
- Chỉ số este: là số miligam KOH dùng để xà phòng hóa hết lượng triglixerit có
trong 1 gam chất béo
- Chỉ số xà phòng hóa: là số miligam KOH cần để xà phòng hóa triglixerit và trung
hòa axit béo tự do trong 1 gam chât béo (tức là xà phòng hóa hoàn toàn 1 gam chất béo)
- Chỉ số iot: là số gam iot có thể cộng vào liên kết bội trong mạch cacbon của 100
gam chất béo
2.3.3 Khái niệm và phương pháp sản xuất xà phòng
Xà phòng thường dùng là hỗn hợp muối natri hoặc muối kali của axit béo, có thêm một số chất phụ gia Thành phần chủ yếu của xà phòng thường là muối natri của axit panmitic hoặc axit stearic
- Thành phần chính của xà phòng là các muối natri hoặc kali của các axit béo Thường là natri stearat C17H35COONa, natri panmitat C15H31COONa, natri oleat
C17H33COONa,…
- Đặc điểm cấu trúc phân tử: Gồm một đầu ưa nước là nhóm –COONa và một đầu
kị nước, ưa dầu mỡ là nhóm R-(CxHy-, x>14)
- Ưu điểm của xà phòng: Không gây hại cho da, cho môi trường (vì dễ bị phân hủy bởi vi sinh vật có trong thiên nhiên)
- Nhược điểm của xà phòng: Không giặc rửa được trong nước cứng (vì gây ra các kết tủa với canxi và magie có trong nước cứng làm giảm tác dụng giặt rửa và ảnh hưởng đến chất lượng sợi vải)
Muốn sản xuất xà phòng, người ta đun chất béo với dung dịch kiềm trong các thùng kín ở nhiệt độ cao
Trang 40Ngày nay, xà phòng còn được sản xuất theo sơ đồ sau:
2.3.4 Các dạng bài tập trong đề thi tuyển sinh đại học- cao đẳng
2.3.4.1 Các câu hỏi lý thuyết (tính chất vật lý, CTCT, CTPT )
a Các ví dụ minh họa
Thí dụ 1 (mức độ biết): Các mùi trái cây là do sự hiện diện của hỗn hợp phức tạp của
các chất hóa học, trong đó các este đóng vai trò quan trọng Mỗi loại hoa quả đều có một mùi đặc trưng thể hiện lượng este trong đó chiếm ưu thế Este là sản phẩm của phản ứng giữa ancol và axit cacboxylic Este bị thủy phân trong môi trường axit và môi trường kiềm Khẳng định nào sau đây là đúng?
A Phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm gọi là phản ứng este hóa
B Phản ứng thủy phân este trong môi trường axit là phản ứng 1 chiều
C Phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm là phản ứng 1 chiều
D Phản ứng thủy phân este trong môi trường kiềm là phản ứng thuận nghịch
Hướng dẫn giải
C là đáp án đúng
A, B, D sai vì HS nhầm giữa môi trường axit với môi trường kiềm
Thí dụ 2 (mức độ hiểu): Chất nào sau đây khi đun nóng với dung dịch NaOH thu
Phương trình thủy phân của từng chất
A.CH3-COO-CH2-CH=CH2 + NaOH →CH3COONa + CH2=CH-CH2-OH
B CH3–COO–C(CH3)=CH2 + NaOH→CH3COONa + CH3-CO-CH3
C CH2=CH–COO–CH2–CH3 + NaOH →CH2=CH-COONa + CH3CH2OH