1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).

61 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Hệ Thống Tranh Ảnh, Phim Tư Liệu Lịch Sử Phục Vụ Giảng Dạy Hai Cuộc Chiến Đấu Bảo Vệ Biên Giới Phía Tây Nam (12/1978) Và Phía Bắc Tổ Quốc (2/1979)
Tác giả Lâm Thị Thanh Trâm
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 3,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để Lịch sử thực sự là môn học yêu thích của học sinh, bên cạnh việc phụ thuộc vào năng lực của người giáo viên thì cần phải thay đổi những phương pháp dạy học và bổ sung nguồn tư liệu ph

Trang 1

Sinh viên thực hiện: Lâm Thị Thanh Trâm

Lớp 13SLS, khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Mạnh Hồng

Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Đà Nẵng,05/2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, cán bộ Thư viện trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, đã tạo mọi điều kiện để em có đủ tài liệu tham khảo thực hiện đề tài Đồng thời em cũng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ động viên từ các bạn sinh viên trong tập thể lớp 13SLS trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến thầy Nguyễn Mạnh Hồng – là người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tận tình cho em trong suốt quá trình làm đề tài

Mặc dù em đã có những cố gắng để hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất nhưng không thể tránh khỏi sự thiếu sót Em hy vọng nhận được nhiều sự góp ý, bổ sung từ các thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn nữa

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Lâm Thị Thanh Trâm

Trang 3

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

TLLS SGK THPT

:Tƣ liệu lịch sử :Sách giáo khoa :Trung học phổ thông

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 7

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của đề tài 8

7 Bố cục đề tài 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG 9

TRANH ẢNH, PHIM TƯ LIỆU TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Quan niệm về tư liệu lịch sử 9

1.1.2 Phân loại tư liệu lịch sử 9

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa 11

1.1.3.1 Về mặt kiến thức 11

1.1.3.2 Về mặt tư tưởng, tình cảm 13

1.1.3.3 Về mặt kĩ năng 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ HỆ THỐNG TRANH ẢNH, PHIM TƯ LIỆU 17

PHỤC VỤ CHO GIẢNG DẠY HAI CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA TÂY NAM (12-1978) VÀ PHÍA BẮC TỔ QUỐC (2-1979) 17

2.1 Nội dung cơ bản của hai cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc 17

2.1.1 Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12-1978) 17

2.1.2 Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (2-1979) 18

2.2 Hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu về hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12-1978) và phía Bắc Tổ quốc (2-1979) 19

2.2.1 Nguồn tư liệu để giảng dạy về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12- 1987) 19

2.2.1.1 Tư liệu tranh ảnh 19

2.2.1.2 Phim tư liệu 29

2.2.2 Nguồn tư liệu để giảng dạy cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ Quốc (2- 1979) 32

2.2.2.1 Tư liệu tranh ảnh 32

2.2.2.2 Phim tư liệu 49

Trang 5

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HỆ THỐNG TRANH ẢNH, PHIM TƯ LIỆU LỊCH SỬ PHỤC VỤ GIẢNG DẠY HAI CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA TÂY NAM

( 12-1978) VÀ PHÍA BẮC TỔ QUỐC (2-1979) 50

3.1 Những nguyên tắc chung đối với việc sử dụng tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy 50

3.1.1 Phải nắm vững yêu cầu chương trình và nội dung môn học 50

3.1.2 Đảm bảo tính Đảng 50

3.1.3 Đảm bảo tính khoa học 51

3.1.4 Phát huy tính tính cực của học sinh trong hoạt động nhận thức lịch sử 51

3.2 Các hình thức và biện pháp sử dụng hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu để giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12-1978) và phía Bắc Tổ quốc (2-1979) 52

3.2.1 Sử dụng tư liệu giảng dạy trong chương trình nội khóa 52

3.2.1.1 Để giới thiệu bài mới gây hứng thú cho học sinh 52

3.2.1.2 Sử dụng tư liệu để học sinh nắm bắt được nội dung bài học 54

3.2.1.3 Đưa vào bài giảng để minh họa sự kiện đang học làm cho nội dung thêm phong phú, sinh động, gây được hứng thú học tập cho học sinh 55

3.2.2 Sử dụng tư liệu giảng dạy trong chương trình ngoại khóa 56

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Lịch sử là một trong những môn học cơ bản, có vai trò, chức năng quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông Lịch sử không chỉ cung cấp cho các em học sinh vốn kiến thức của lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng niềm tin, lòng tự tôn dân tộc, giáo dục truyền thống yêu nước, hình thành nhân cách

và bản lĩnh con người Việt

Để Lịch sử thực sự là môn học yêu thích của học sinh, bên cạnh việc phụ thuộc vào năng lực của người giáo viên thì cần phải thay đổi những phương pháp dạy học và bổ sung nguồn tư liệu phải thật sự phong phú mới gây được sự thu hút và khắc sâu hơn trong tâm trí của các em

Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới giáo dục có nêu rõ: “đa dạng hóa

nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức…” [32]

Một ví dụ điển hình như trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12, nội dung về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam 1978 và biên giới phía Bắc 1979 còn rất sơ lược Nhu cầu của xã hội đòi hỏi được biết những sự thật đã xảy ra một cách đầy đủ Với học sinh, sinh viên từ chỗ không biết sẽ không phân biệt được đúng sai Từ đó các em không chuẩn bị được tinh thần cảnh giác để nhìn nhận đúng nguy cơ và sẵn sàng đứng lên bảo vệ khi đất nước có biến

Là một sinh viên khoa Lịch sử, tương lai là một giáo viên dạy lịch sử, tôi rất mong muốn xây dựng một hệ thống tư liệu lịch sử thật cụ thể và khoa học để sau này làm tốt nhiệm vụ của một người giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Với những lý do trên đây, tôi chọn nghiên cứu đề tài : “Xây dựng hệ thống tranh

ảnh, phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây

Trang 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sưu tầm, xây dựng hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12/1978) và phía Bắc Tổ quốc (2/1979) hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu

Trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12, nội dung về cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam (12/1978) và phía Bắc Tổ quốc (2/1979) còn rất sơ lược Ban đầu các tác giả viết khá dài và chi tiết về chiến tranh biên giới phía Bắc nhưng sau vì khuôn khổ sách giáo khoa quy định, chủ yếu vì lý do "quan hệ tế nhị" với nước bạn nên nội dung này bị sửa đi sửa lại nhiều

Trong giáo trình Lịch sử Việt Nam ở đại học và sách giáo khoa phổ thông hiện nay chưa có tranh ảnh, phim tư liệu phục vụ giảng dạy nội dung này

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tranh ảnh, phim tư liệu lịch sử liên quan đến hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12/1978) và phía Bắc Tổ quốc (2/1979)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu lí luận liên quan đến việc sưu tầm, xây dựng hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu lịch sử, từ đó ứng dụng vào phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12/1978) và phía Bắc Tổ quốc (2/1979)

4 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến mục đích sau:

- Làm sáng tỏ các vấn đề lí luận liên quan đến việc sử dụng hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu trong dạy học lịch sử hiện nay

- Nghiên cứu, sưu tầm và xây dựng hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu để sử dụng trong việc giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12/1978) và phía Bắc Tổ quốc (2/1979)

- Đưa ra các phương pháp sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu trong dạy học lịch

sử nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn Lịch sử hiện nay

Trang 8

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng: tranh ảnh, phim tư liệu trong sách, báo, tạp chí, sách chuyên khảo và internet

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: nắm vững cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo, coi đó là kim chỉ nam định hướng cho các hoạt động nghiên cứu

Trong khi sưu tầm và xây dựng chúng tôi bám sát nội dung sách giáo khoa, lựa chọn những tranh ảnh, phim tiêu biểu nhất, phù hợp để đưa vào giảng dạy

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài hoàn thành sẽ mang lại những đóng góp sau:

- Xây dựng hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu phục vụ việc giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12/1978) và phía Bắc Tổ quốc (2/1979)

- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, nâng cao chất lượng dạy học

- Đề tài còn góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử hiện nay

Chương 3: Biện pháp sử dụng hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12/1978) và phía Bắc Tổ

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

TRANH ẢNH, PHIM TƯ LIỆU TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan niệm về tư liệu lịch sử

Nghiên cứu lịch sử là hoạt động nhận thức quá khứ từ đơn giản đến phức tạp, tổng hợp từ cái biết đến khám phá cái chưa biết, từ cái chưa hoàn thiện đến cái hoàn thiện hơn nhằm làm cho bức tranh lịch sử được xây dựng lại

Các nguồn sử liệu (hay TLLS) là “những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản

phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng hoá một mặt hoạt động nào đấy của con người”[14]

Một sử liệu khi đã là kết quả hoạt động của mục đích nhất định của con người sẽ cho phép chúng ta có khả năng nghiên cứu nó trên các phương diện: Nguyên nhân nào mà sử liệu xuất hiện? Sử liệu chiếm vị trí như thế nào trong diễn trình lịch sử? trên cơ sở đó, nắm được quy luật ra đời khách quan sử liệu sẽ tạo tạo tiền đề cho việc giải thích nội dung sử liệu

Các nguồn sử liệu ngày càng phong phú cùng với sự phát triển của xã hội và của yêu cầu của sự phát triển khoa học lịch sử Khi nhà nghiên cứu lịch sử chỉ chú ý đến đời sống chính trị thì các tài liệu như văn bản pháp luật, văn kiện ngoại giao chiếm vị trí quan trọng, khi lịch sử là lịch sử của các vương triều và tầng lớp thượng lưu thì tư liệu là những ghi chép, câu chuyện liên quan đến họ, sau đó khi phản ánh đời sống kinh tế, phản ánh cuộc sống của các tầng lớp nhân dân lao động thì các nguồn tư liệu mới được đưa vào nhiều hơn

Như vậy, tư liệu lịch sử là sản phẩm của hoạt động của con người, nó xuất hiện như một hiện tượng xã hội, nhằm phục vụ cho một mục đích, một nhu cầu nào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua

1.1.2 Phân loại tư liệu lịch sử

TLLS có tầm quan trọng đặc biệt với khoa học lịch sử nói chung và đối với các công trình nghiên cứu lịch sử cũng như việc học tập lịch sử nói riêng

Trong một thời gian dài trước đây, một số nhà sử học đã từng cho rằng chỉ có những tài liệu thành văn mới có thể được dùng làm TLLS Đến nay có thể xuất phát từ chỗ, việc tiếp xúc, làm việc với các nguồn sử liệu khác ngoài thành văn dường như là khó

Trang 10

khăn với họ Hoặc như ở nước ta, trong nhiều đề tài nghiên cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại hoặc lịch sử Đảng, các nguồn sử liệu phim ảnh, băng ghi âm, ghi hình hay nhân chứng sống đôi khi lại không được chú ý đúng mức Như vậy là đôi khi, bức tranh lịch sử lại không được tái hiện một cách sống động, đầy đủ bởi vì không phải lúc nào nguồn tài liệu thành văn cũng phản ánh được tất cả Ngày nay, chúng ta thấy rằng một công trình nghiên cứu lịch sử không thể chỉ dựa vào một nguồn sử liệu duy nhất kể cà nguồn sử liệu thành văn Tùy theo nội dung phản ánh và tính chất của sử liệu, người ta thường chia sử liệu thành sáu nhóm: 1 Sử liệu thành văn; 2 Sử liệu vật chất; 3 Sử liệu truyền miệng dân gian ; 4 Sử liệu ngôn ngữ ;5 Sử liệu dân tộc học ; 6 Sử liệu tranh ảnh, phim ảnh, ghi

âm, ghi hình

- Thứ nhất, nguồn sử liệu thành văn (chữ viết): ghi chép các sự kiện bằng chữ viết

qua các kênh thông tin Có thể nói nguồn tư liệu này chiếm khối lượng lớn, rất phong phú

và đặc biệt quan trọng, có lúc nó chiếm địa vị chủ yếu trong các nguồn sử liệu Đó là những TLLS đích thực như các bộ sử biên niên, thông sử, hồi ký, các ghi chép lịch sử, văn bia, gia phả Nhìn chung, ưu điểm nổi bật của nó phản ánh tương đối toàn diện và chi tiết các sự kiện, nhất là về đời sống chính trị, xã hội

- Thứ hai, nguồn sử liệu vật chất: là những di tích vật chất hình thành trong quá

trình hoạt động sống của con người Nguồn sử liệu này hết sức phong phú đa dạng Có thể nói ở đâu có con người sinh sống thì ở đó có dấu tích vật chất để lại Sử liệu vật chất rất quan trọng cho việc nghiên cứu mọi thời kỳ, đặc biệt khi con người chưa có văn tự - thời tiền sử Nguồn sử liệu này không cho chúng ta nhận thức trực tiếp những sự kiện trong quá khứ mà nó là một mảng, một bộ phận của sự kiện Nó có ưu điểm hơn nguồn

sử liệu chữ viết là ở chỗ, nó phản ánh khá trung thực và khách quan một mặt nào đấy của cuộc sống Không phải là khi có tài liệu thành văn mà chúng ta bỏ qua nguồn sử liệu này,

nó có thể bổ sung hoặc kiểm tra các tư liệu thành văn

- Thứ ba, nguồn sử liệu truyền miệng, dân gian: là loại được truyền từ thế hệ này

sang thế hệ khác Nó có thể là những câu chuyện truyền thuyết thần thoại, trường ca nó

có vai trò quan trọng khi nghiên cứu về thời xa xưa hoặc nghiên cứu lịch sử các dân tộc Nguồn sử liệu này thường bị biến dạng qua nhiều thế hệ, thiếu chính xác về không gian, thời gian và những sự kiện được phản ánh trong đó Tuy vậy, từ trong nội dung những câu chuyện này luôn chứa đựng những cốt lõi lịch sử

Trang 11

- Thứ tư, nguồn sử liệu ngôn ngữ: là tài liệu ghi chép, ngôn ngữ của địa phương,

những câu chuyện được truyền miệng Căn cứ vào ngôn ngữ chúng ta có thể tìm hiểu được quá khứ Tìm hiểu ngôn ngữ chuyển biến về mặt từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp chúng

ta sẽ bắt gặp những sự kiện hay quá trình lịch sử được phản ánh trong đó

- Thứ năm, nguồn sử liệu dân tộc học: là đối tượng của dân tộc học, đó là những

vật thật, chữ viết, những câu chuyện truyền miệng thu được qua các cuộc khảo sát dân tộc học Nghiên cứu những tàn dư trong hoạt động để nhận thức được quá khứ Nó có thể cung cấp những đặc điểm sinh hoạt văn hoá của dân tộc, từ đó mà tìm hiểu lịch sử văn hoá, hay cung cấp cho ta mối quan hệ giữa các dân tộc, dựng lại hoạt động văn hoá và sự kiện kinh tế

- Thứ sáu, nguồn sử liệu tranh ảnh, phim ảnh, ghi âm, ghi hình: là loại quan trọng,

cho ta nhận thức trực tiếp về quá khứ thông qua việc nghiên cứu hình ảnh được ghi lại trên sử liệu Tranh ảnh là một trong số những tư liệu quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giảng dạy lịch sử, nó cũng được xem là một kênh thông tin và cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, bám sát với thực tế Phim tư liệu có thể nhấn mạnh ý nghĩa

xã hội của hiện tượng và sự kiện thông qua việc sử dụng các chi tiết điển hình, kết hợp với âm nhạc, tiếng động, lời bình, các thủ pháp dựng phim…, tác động mạnh mẽ tới người xem, lan rộng trong xã hội Trong thời đại hiện nay, nguồn sử liệu này càng được

sử dụng nhiều trong nghiên cứu, đặc biệt là nó giúp ích rất nhiều trong việc nghiên cứu lịch sử hiện đại

Sáu nguồn sử liệu trên là tất cả những tư liệu giúp chúng ta có thể khai thác được những thông tin về các sự kiện lịch sử Qua việc nghiên cứu toàn diện các nguồn sử liệu, chúng ta có thể tìm được những thông tin lịch sử tương đối chính xác và chân thực phục

vụ cho việc nghiên cứu một giai đoạn, một sự kiện lịch sử hay một danh nhân nào đó

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa

Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức mà

nó còn có ưu điểm trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, phát triển toàn diện cho học sinh

1.1.3.1 Về mặt kiến thức

Dạy học Lịch sử cũng như dạy bất cứ môn học nào trong nhà trường đều nhằm cung cấp kiến thức, hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, định hướng nghề nghiệp, phát triển học sinh nắm được những quy luật tự

Trang 12

nhiên, xã hội, con người vận dụng một cách sáng tạo những hiểu biết đó vào cuộc sống Tuy nhiên, so với môn học khác, môn Lịch sử có đặc điểm là tri thức lịch sử mang tính quá khứ; lịch sử là những gì đã xảy ra từ khi con người xuất hiện cho đến nay Chính vì thế, để tái tạo hình ảnh, những kiến thức lịch sử một cách chính xác, lôgic thì giáo viên cần trang bị cho các em kiến thức mang tính khoa học, cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nước, trang bị cho các em tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm giúp học sinh biết lựa chọn những sự kiện lịch sử cơ bản để ghi nhớ trong cái mênh mông rộng lớn của không gian và thời gian

Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, nội dung về hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc Tổ quốc không được trực tiếp đưa vào giảng dạy trong những năm gần đây

Thứ trưởng Bộ GD & ĐT Nguyễn Vinh Hiển vừa cho biết Bộ sẽ xem xét đưa các

sự kiện như hải chiến Hoàng Sa (năm 1974), cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (1978) và biên giới phía Bắc (1979), trận chiến trên đảo Gạc Ma, Trường Sa (năm 1988) vào sách giáo khoa (SGK) lịch sử mới

Như vậy, việc sưu tầm và xây dựng hệ thống tư liệu để phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12 – 1978) và phía Bắc Tổ quốc (2 – 1979) là rất cần thiết, các biến cố lịch sử rất lớn, trong dòng chảy lịch sử như vậy không thể bị đứt quãng được, đó là truyền thống chống giặc ngoại xâm Đặc biệt là tình hình Biển Đông hiện nay, Trung Quốc đang có những hoạt động trên Biển Đông, chúng ta không thể không đưa phần này vào trong chương trình giảng dạy Không chỉ để cho thế hệ mai sau hiểu về lịch sử mà còn nói rõ với thế giời rằng chúng ta không quên lịch sử

Trong quá trình giảng dạy về hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12 – 1978) và phía Bắc Tổ quốc (2 – 1979) nếu sử dụng một cách đầy đủ và đa dạng các nguồn tư liệu sẽ mang lại làn gió mới, một làn gió tích cực trong học tập và giảng dạy lịch sử

Sau khi học xong bài học các em học sinh sẽ nắm bắt được: Nguyên nhân bùng

nổ, diễn biến và kết quả, ý nghĩa cả hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12 – 1978) và phía Bắc Tổ quốc (2 – 1979) Từ đó các em được trang bị cho mình những kiến thức đầy đủ và chính xác về lịch sử dân tộc

Trang 13

1.1.3.2 Về mặt tư tưởng, tình cảm

Việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh qua bộ môn lịch sử bao giờ cũng được chú trọng, càng được nhấn mạnh hơn trong tình hình hiện nay khi đất nước có nhiều biến động chính trị sâu sắc Lịch sử quá khứ làm cơ sở vững chắc cho việc hiểu sâu sắc hiện tại, chuẩn đoán quy luật phát triển của tương lai

Việc sưu tầm và xây dựng hệ thống tư liệu phục vụ trong dạy học lịch sử góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giáo dục tư tưởng, tình cảm yêu, ghét đối với một nhân vật, một sự kiện lịch sử,… niềm tự hào về dân tộc cho học sinh

Vì sao chúng ta cần những sự thật lịch sử? vì sao cần phải đưa vào sách giáo khoa

để giảng dạy cho thế hệ học sinh sau này? Chính bởi vì lịch sử làm nên nhân cách và đặc thù dân tộc của mỗi quốc gia Lịch sử tạo nên những con người có ý thức rằng dân tộc mình đã tồn tại với những thất bại và vinh quang như thế nào Lịch sử dặn dò rằng con người nhỏ nhoi nhất có thể trở nên vĩ đại nhất Tựa vào lịch sử đầy đủ và chân thực, các

em học sinh có thể tìm thấy cho mình cái nhìn sâu sắc, nhận ra giá trị và biết ơn thế hệ cha ông đi trước

Đối với hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12 – 1978) và phía Bắc Tổ quốc (2 – 1979), hiện tại chúng ta mới xác định sẽ đưa vào chương trình giảng dạy Tuy nhiên, đưa như thế nào, giảng dạy thế nào sẽ còn tùy thuộc vào việc thiết kế chương trình Lịch sử phổ thông và những đề xuất có lợi cho người học

Người giáo viên cần hiểu rõ việc đưa vào giảng dạy sự kiện chiến tranh biên giới không phải là để gây kích động, thù hận với Trung Quốc Chúng ta, có thể gác lại đau thương, bỏ qua quá khứ, tha thứ cho những sai lầm, nhưng không thể lãng quên lịch sử Chúng ta dạy thế hệ trẻ biết những bài học đau xót nhưng là để hướng tới tương lai, hướng tới hòa bình

Bên cạnh đó, giáo dục cho học sinh lòng biết ơn, ghi nhớ công trạng của những vị anh hùng, những người đã ngã xuống vì sự bình yên của quê hương đất nước

1.1.3.3 Về mặt kĩ năng

Việc sử dụng tranh ảnh và phim tư liệu để phục vụ trong dạy học lịch sử góp phần giúp các em hiểu được bản chất của các sự kiện lịch sử, hình thành cho các em lòng yêu nước, biết ơn những thế hệ cha ông đi trước…đồng thời việc giảng dạy sử dụng đa dạng

và phong phú các nguồn tư liệu tăng cường cho học sinh tính tích cực lao động và học

Trang 14

tập, tránh hiện tượng thu động trong học tập, đồng thời tăng tính năng động và sáng tạo cho các em

Trong quá trình học tập, học sinh được cung cấp nguồn kiến thức đầy đủ và đa dạng về nguồn tư liệu, học sinh có cơ hội phát triển tư duy, khả năng quan sát, đánh giá các nhân vật, sự kiện lịch sử, từ đó rút ra được nhận xét, tổng hợp hay phân tích từng vấn

đề, hành động, bản chất lịch sử Chẳng hạn như, cho học sinh xem bộ phim tư liệu về cuộc chiến Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988, qua đó các em sẽ thấy được rõ ý đồ bành trướng của Trung Quốc trong việc xây dựng các đảo đá ở Trường Sa, từng bước quân sự hóa khu vực này, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, gây tình hình không ổn định ở Biển Đông và khu vực Như vậy, thông qua đó, học sinh phát triển được năng lực tập hợp, đánh giá vấn đề khi được tiếp thu những nguồn kiến thức mới, giúp các em suy nghĩ được nguyên nhân vì sao lại như vậy, phát triển tư duy học sinh tìm ra vấn đề ý nghĩa, bản chất sự kiện đó

Với tất cả các ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển năng lực, việc sưu tầm và xây dựng hệ thống tư liệu để phục vụ trong dạy học lịch sử góp phần nâng cao chất lượng

và hiệu quả giảng dạy, học tập lịch sử ở trường THPT Tuy nhiên, người giáo viên phải biết kết hợp phương pháp, phương tiện dạy học khác nhau và lựa chọn hình thức giảng dạy, bố trí thời gian như thế nào cho hợp lý với từng bài học cụ thể để đem lại hiệu quả cao Không nên vận dụng các hình thức một cách máy móc, rập khuôn, gây sự nhàm chán cho người học Phải phát huy được ưu điểm của các nguồn TLLS nhằm đảm bảo tốt mục tiêu giáo dục theo hướng phát triển học sinh một cách tích cực, năng động, sáng tạo toàn diện cả về tri thức, phẩm chất, đạo đức cũng như năng lực tư duy

1.2 Cơ sở thực tiễn

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (2-1979) từng là nỗi đau của dân tộc vì hàng ngàn chiến sĩ, người dân đã bỏ mạng khi Trung Quốc xua quân tiến đánh nước ta vào năm 1979 Có điều kể từ sau Hội nghị Thành Đô đến nay báo chí không được phép nhắc tới, sách giáo khoa cũng không dạy cho học sinh dù chỉ là một cách sơ sài Từ nhiều năm trước dư luận đã bức xúc và yêu cầu đổi chương trình lịch sử trong sách giáo khoa, cho tới thời gian gần đây thì việc này mới được Bộ Giáo dục cho phép trong chương trình cải cách sách giáo khoa

Nhiều nhà khoa học và nhà giáo cho rằng không thể lùi thời hạn đưa chủ quyền biển, đảo và chiến tranh biên giới vào sách giáo khoa lịch sử

Trang 15

Hiện tại chưa thể nói được là sẽ đưa vào những nội dung gì và đưa mức độ nào vì còn vẫn đang trong quá trình xây dựng Trong lúc chưa có bộ SGK mới, Bộ khuyến khích các trường học, tổ bộ môn sử đưa nội dung trên vào bài giảng hoặc có thể là hoạt động ngoại khóa, chuyên đề, như nhiều trường đã làm

GS Vũ Dương Ninh cho rằng SGK lịch sử nên có một chương riêng lấy tên là

“Cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới đất liền và hải đảo” hoặc “Cuộc đấu tranh bảo vệ biên cương Tổ quốc”, trong đó nêu ba cuộc đấu tranh chính: Đấu tranh biên giới Tây Nam,

đấu tranh biên giới phía Bắc và đấu tranh bảo vệ biển, đảo Cần làm cho học sinh hiểu được những sự việc đã diễn ra, tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, qua đó phát huy tinh thần yêu nước, nâng cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu bành trướng, xâm phạm lãnh thổ đất nước ta

Về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, cần làm rõ quân Khmer đỏ tấn công xâm lược các tỉnh biên giới, Việt Nam phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam Về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, cần nêu bật sự kiện 60 vạn quân Trung Quốc xâm lược các tỉnh biên giới nước ta Cần làm rõ sự thật khách quan và phân tích rõ tính chất của cuộc chiến là Việt Nam đấu tranh chống quân xâm lược, bảo vệ chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ Đồng thời nêu lên những tấm gương hy sinh của bộ đội và nhân dân trong cuộc đấu tranh quyết liệt này

Về biển, đảo cần làm rõ âm mưu và hoạt động của phía Trung Quốc tìm cách xâm chiếm Biển Đông từ cuộc chiến Hoàng Sa năm 1974 đến cuộc chiến Gạc Ma ở Trường

Sa năm 1988, làm rõ ý đồ bành trướng của Trung Quốc trong việc xây dựng các đảo đá ở Trường Sa, từng bước quân sự hóa khu vực này, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, gây tình hình không ổn định ở Biển Đông và khu vực

Theo GS Vũ Dương Ninh, những nội dung trên sẽ đưa vào theo cấu trúc của chương trình SGK Ở THCS chủ yếu nêu các sự kiện chính thông qua các câu chuyện lịch sử Ở cấp THPT, cần phân tích sâu hơn về tính chất chính nghĩa và nêu bật tinh thần đấu tranh anh dũng của quân dân ta

GS Vũ Dương Ninh cho rằng bên cạnh SGK là tài liệu chính cần có những tài liệu tham khảo, phim ảnh, hoạt động ngoại khóa như tham quan bảo tàng, di tích lịch sử… Trong việc giáo dục, cần có sự phối hợp giữa các giáo viên lịch sử, văn học, địa lý, công dân giáo dục… để học sinh hiểu biết về những vấn đề của đất nước, có thái độ cảnh giác

Trang 16

cao và tinh thần sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ công dân trong công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Trang 17

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ HỆ THỐNG TRANH ẢNH, PHIM TƯ LIỆU PHỤC VỤ CHO GIẢNG DẠY HAI CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI

PHÍA TÂY NAM (12-1978) VÀ PHÍA BẮC TỔ QUỐC (2-1979)

2.1 Nội dung cơ bản của hai cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

2.1.1 Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12-1978)

Sau 30 năm đấu tranh liên miên, khi đất nước đã độc lập, tự do, nhân dân ta không mong muốn gì hơn là được sống yên ổn, đem tài năng và sức lực xây dựng đất nước phồn vinh, cuộc sống văn minh, hạnh phúc; được chung sống hòa bình, hữu nghị với các nước, các quốc gia trên thế giới Nhưng thực hiện mong muốn đó đâu có dễ dàng

Do có âm mưu từ trước, tập đoàn Pôn Pốt – Iêng Xari – Khiêu Xămphon, đại diện cho phái “ Khơme đỏ” ở Campuchia, lên nắm quyền sau thắng lợi trong đấu tranh chống

Mỹ, đã quay ngay súng bắn vào nhân dân ta, những người bạn chiến đấu thân thiết , thủy chung, vừa góp phần xương máu làm nên chiến thắng ngày 17–4–1975 của nhân dân Campuchia Sau đó, chúng mở những cuộc hành quân khiêu khích, lấn chiếm lãnh thổ nước ta

Ngày 3–5–1975, tập đoàn Pôn Pốt cho quân đổ bộ đánh chiếm đảo Phú Quốc Đến ngày 10–5–1975, chúng đánh chiếm đảo Thổ Chu, rồi trong những ngày tiếp theo, chúng xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta dọc biên giới, từ Hà Tiên đến Tây Ninh

Tháng 4–1977, tập đoàn Pôn Pốt tăng cường những cuộc hành quân lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam và từ những cuộc xung đột vũ trang lẻ tẻ, chúng mở rộng dần thành cuộc chiến tranh lớn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta

Ý đồ của chúng là tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài, xâm chiếm từng bộ phận kết hợp với gây bạo loạn trong nội địa, tiến tới xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Tiến công xâm lược Việt Nam, chúng còn nhằm tạo cớ để thanh trừ nội bộ Đàn áp những cuộc nổi dậy ở trong nước, thực hiện chế độ chính trị tàn bạo ở Campuchia

Giữa năm 1977, tập đoàn Pôn Pốt huy động lực lượng cỡ sư đoàn bất ngờ tiến công vào 13 xã (trong sô 15 xã biên giới) thuộc tỉnh An Giang, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Quân và dân ta, trực tiếp là quân dân các tỉnh biên giới Tây Nam, đã đánh trả quyết liệt

Trong các tháng 9, 10, 11 năm 1977, chúng huy động lực lượng ngày càng lớn (từ

3 đến 5 sư đoàn) , tiến công dọc biên giới nước ta từ nhiều hướng Phối hợp với Pôn Pốt, một bọn phản động tay sai của lực lượng phản động quốc tế, đã hoạt động mạnh tại thành

Trang 18

phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Nam Bộ, chuẩn bị tiến tới cuộc bạo loạn…nhưng tất cả

âm mưu và hành động đó của chúng đều bị quân dân ta ngăn chặn và làm thất bại

Năm 1978, với thiện chí hòa bình, mong muốn sớm chấm dứt xung đột bằng thương lượng, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ động đưa ra đề nghị 3 điểm:

Thứ nhất, chấm dứt ngay các hoạt động quân sự tại biên giới, lực lượng vũ trang

mỗi bên đóng sâu trong lãnh thổ của mình, cách đường biên 5km

Thứ hai, hai bên gặp nhau để bàn bạc và ký một hiệp ước hữu nghị không xâm

lược nhau và một hiệp ước về biên giới giữa hai nước

Thứ ba, hai bên thỏa thuận một hình thức thích hợp về thể thức nhằm bảo đảm và

giám sát quốc tế vùng biên giới giữa hai nước

Để tỏ thiện chí, đêm 5–11–1978, Việt Nam đơn phương thu quân về cách biên giới

5 km Đáp lại thiện chí đó tập đoàn Pôn Pốt lại tăng cường hơn nữa lực lượng quân chủ lực ở dọc biên giới, chuẩn bị tiến tới cuộc tiến công lớn

Ngày 22–12–1978, tập đoàn Pôn Pốt huy động 19 sư đoàn (trong tổng số 23 sư đoàn bộ binh), cùng nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng…đến biên giới phía đông, tiến vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh, bắt đầu cuộc tiến công quy mô lớn với ý đồ đánh chiếm thị xã Tây Ninh, mở đường tiến sâu vào lãnh thổ nước ta

Thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, quân dân ta với lực lượng lớn đã tổ chức cuộc phản công và tiến công mạnh, tiêu diệt toàn bộ cánh quân xâm lược vừa tiến công vào đất ta Tiếp đó, quân ta thừa thắng phát triển cuộc tiến công tiêu diệt và làm tan

rã đại bộ phận quân chủ lực của địch tại nơi xuất phát

Cuộc tiến công quy mô lớn của tập đoàn Pôn Pốt hoàn toàn bị đập tan Toàn bộ quân xâm lược bị quét khỏi bờ cõi nước ta, hòa bình lập lại trên biên giới Tây Nam Tổ quốc Đây là cuộc chiến tranh tự vệ, góp phần bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, giang sơn gấm vóc của ông cha Góp phần bảo vệ thành quả cách mạng…

Theo yêu cầu của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, quân đội Việt Nam cùng với lực lượng cách mạng Campuchia tiến công, xóa bỏ chế độ diệt chủng Pôn Pốt Ngày 7–1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng

2.1.2 Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (2-1979)

Hành động chống Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt – Iêng Xari – Khiêu Xămphon được Mỹ và một số nước khác đồng tình Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng, nhân dân hai nước đã từng gắn bó mật thiết, đoàn

Trang 19

kết giúp đỡ lẫn nhau Sau khi Việt Nam thống nhất, Trung Quốc không muốn có một Việt Nam thống nhất vì điều đó làm ảnh hướng đến âm mưu tham vọng bành trướng của

họ trong khu vực, do đó họ tìm cách làm cho Việt Nam suy yếu bằng các cuộc chiến tranh Trong việc tập đoàn Pôn Pốt có hành động thù địch chống Việt Nam, Trung quốc

đã có những hành động làm tổn hại đến tình cảm của nhân dân hai nước như cho quân khiêu khích quân sự dọc biên giới phía Bắc nước ta, cắt viện trợ, rút chuyện gia, kêu gọi Liên Hợp Quốc và các nước trên thế giới cũng làm như vậy, nhằm gây khó khăn cho Việt Nam Nghiêm trọng hơn, từ sáng ngày 17–2–1979, Trung Quốc đã cho đội quân với lực lượng 32 sư đoàn (tương đương 60 vạn, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1260 súng cối… mở cuộc tiến công nước ta dọc theo biên giới phía Bắc, từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu), dài hơn nghìn cây số

Để bảo toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, quân dân ta, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía Bắc, đã đứng lên chiến đấu Trước cuộc chiến đấu ngoan cường vì “độc lập, tự

do của dân tộc” của quân dân ta và sự phản đối mạnh mẽ của dư luận trong nước và trên thế giới, Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân khỏi nước ta, bắt đầu từ 5–3–1979 và đến 18–3–1979 thì rút hết

Cuộc xung đột biên giới phía Bắc và phía Tây Nam nước ta đã chấm dứt, đưa lại hòa bình, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Trên cơ sở đó và với sự cố gắng giữa các bên, tình cảm láng giềng thân thiết, tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác vốn có từ lâu giữa Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Campuchia dần dần được khôi phục

2.2 Hệ thống tranh ảnh, phim tư liệu về hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12-1978) và phía Bắc Tổ quốc (2-1979)

2.2.1 Nguồn tư liệu để giảng dạy về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (12-1987)

2.2.1.1 Tư liệu tranh ảnh

Tranh ảnh là một trong số những tư liệu quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giảng dạy lịch sử, nó cũng được xem là một kênh thông tin và cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, bám sát với thực tế Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên cần giành nhiều thời gian để sưu tầm thêm nguồn tư liệu này và lồng ghép vào trong bài giảng, điều này góp phần tăng hứng thú học tập cho học sinh cũng như giúp các em

Trang 20

Chiến tranh biên giới Tây Nam là một cuộc chiến tranh vệ quốc mà cũng là một hành động nghĩa hiệp của nhân dân và quân đội Việt Nam giúp đỡ nước láng giềng Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Mặc dù vậy, cuộc chiến này còn nhiều góc khuất chưa có nhiều người biết

Việt Nam từng bị lên án oan là xâm lược Campuchia, nhưng sự thực cuộc chiến đó

là người Việt bị ép phải tiến hành để tự vệ trước hành động xâm lấn lãnh thổ và tàn sát người Việt ở biên giới Tây Nam của Pol Pot

Về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, giáo viên có thể sử dụng những hình ảnh sau để đưa vào giảng dạy:

Nguyên nh ân d ẫ n đ ế n chiế n tranh:

Hình 1: Tội ác diệt chủng của Pol Pot

Nguồn: http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chien-truong-k-hoang-tuong-cua-pol-pot-

2193916/

Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã lùi xa nhưng chắc chắn nhiều người vẫn sẽ phải lạnh sống lưng khi đọc lại những toan tính thâm độc và rất phiêu lưu của tập đoàn Pol Pot năm nào

Trong cuốn hồi ký của mình, cựu hoàng Sihanouk viết về điều đó: “Cả hai chế độ

của Lon Nol và của Pol Pot đều là kẻ thù của chúng tôi, cả hai đều phạm một sai lầm tai hại đối với bọn chúng, đồng thời cũng mang lại tai hoạ cho Campuchia Đó là, khiêu khích liên tục nước Việt Nam láng giềng của chúng tôi và dại dột tiến công những người

Trang 21

Hình 2: Tấm bia ghi tội ác bọn Pol Pot thảm sát nhân dân Việt Nam ở Ba Chúc

(huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) tháng 4-1978

Nguồn: http://baodatviet.vn/quoc-phong/chien-truong-k-cuoc-chien-bat-buoc-2241903/

Giáo viên sử dụng hình này để minh chứng cho học sinh thấy được tội ác của quân Khmer đỏ Quân đội Khmer đỏ đi đến đâu là đốt phá làng mạc và tàn sát người Việt vì

lệnh từ trung ương Khmer đỏ đã ghi rõ: “Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt

vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm Thực hiện 1 diệt

30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam”.

Trang 22

Hình 4: Lính Khmer đỏ bị thương trong các cuộc giao tranh ở biên giới

Nguồn: http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chien-truong-k-hoang-tuong-cua-pol-pot-

2193916/

Trang 23

Hình 5: Bộ đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh ngày 7-1-1979

Nguồn: http://baodatviet.vn/quoc-phong/chien-truong-k-cuoc-chien-bat-buoc-2241903/ Chỉ hai tuần sau khi chiến dịch phản công bắt đầu, ngày 7-1-1979, quân đội Việt Nam đã vào được Phnom Penh, tập đoàn Khmer đỏ bỏ chạy khỏi thủ đô lên vùng rừng núi tây bắc giáp với Thái Lan Cho đến tháng 4-1979 khi quân đội Việt Nam tỏa ra khắp lãnh thổ Campuchia thì người dân nước này chính thức thoát khỏi chế độ Khmer đỏ

Hình 6: Bản đồ các mũi tiến công của QĐND Việt Nam tiêu diệt tập đoàn Pol Pot

Trang 24

Hình 7: Bộ đội Việt Nam đang chăm sóc cho các trẻ em Campuchia trên vùng họ

đi qua

Nguồn: http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chien-truong-k-mien-ky-uc-khong-the-lang-

quen-2193910/

Đến giai đoạn đóng quân để ổn định tình hình, bộ đội Việt Nam lại tích cực giúp

đỡ người dân về mọi mặt Nhiều khi các chiến sĩ nhường khẩu phần của mình để cứu đói cho dân chúng Campuchia

Trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh bắt buộc”, đại tá Nguyễn Văn Hồng viết: “Tôi

nhớ, sau cuộc tổng tiến công, sư đoàn bộ binh 309 chúng tôi cơ động đến đóng quân và hoạt động trên địa bàn tỉnh Battambang Trong những ngày ấy, địch lùa dân chạy theo chúng vào rừng, nhiều người đã lả đi vì đói, vì khát, vì ốm đau, bệnh tật Bộ đội ta vừa truy kích địch vừa khiêng cáng những người dân kiệt sức trở về phía sau, bón cháo cho từng người, tổ chức khám bệnh, cho thuốc, nhường cơm, sẻ áo cho họ trong lúc khó khăn

Có nhiều người dân cảm động quá, nói không nên lời: “Bộ đội Việt Nam tốt quá,

đã cứu nhân dân chúng tôi lần thứ 3 Chúng tôi nhớ ơn bộ đội Việt Nam suốt đời”, đó là câu nói thường gặp ở nhân dân Campuchia

Tính chung trong hai năm 1979-1980, sư đoàn bộ binh 309 đã giúp nhân dân Bát Tam Băng 43 tấn lúa giống, 16.702 tấn gạo cứu đói, giúp nhân dân sản xuất 68.574 ha lúa, tặng 6.232 bộ quần áo, xây dựng và sửa chữa 62 trường học với 638 lớp, 6.070 trẻ

em được đến trường Cán bộ chiến sĩ của sư đoàn bộ binh 309 còn vận động, quyên góp

Trang 25

được một số tiền đủ để mua sách vở cho các em đến trường, xây dựng được 32 trạm xá phum với 420 giường bệnh; đã khám và phát thuốc và điều trị cho 2.117 người”

Hình 8: Bộ đội Việt Nam trên đất nước Chùa Tháp

Nguồn: http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chien-truong-k-mien-ky-uc-khong-the-lang-

quen-2193910/

Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam năm 1977 – 1979 rồi thêm 10 năm sau

đó bộ đội tình nguyện Việt Nam đồn trú ở đất Campuchia để truy quét tàn quân Pol Pot bảo vệ chính quyền non trẻ của nước bạn

Với ưu thế hỏa lực hơn hẳn quân đội Khmer đỏ nhưng bộ đội Việt Nam không lạm dụng hỏa lực để giành chiến thắng Các anh đã cố gắng để hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất cho nhân dân Campuchia vì một suy nghĩ rất đơn giản: phá sập một công trình chỉ cần vài quả đạn pháo nhưng sau này nhân dân Campuchia sẽ phải vất vả xây dựng lại

Tướng Bùi Cát Vũ kể trong ký sự “Đường vào Phnom Penh”: “Anh em ta chỉ

dùng súng bộ binh bắn, chứ không dùng pháo sợ cháy thành phố Đại đội 5, Đại đội 21 cũng vậy, nên ta mới bị thiệt hại như thế Hồi trưa này tôi nghe đồng chí trợ lý tác chiến

về báo cáo lại một trường hợp tương tự như thế của một đại đội thuộc Trung đoàn 12, vây bắt địch mà không dùng B40, ĐKZ bắn vào Đài Độc Lập Chiến sĩ ta đã không tiếc máu mình để bảo vệ những công trình lao động nghệ thuật, những phố phường trống

Trang 26

Kế t quả :

Hình 9: Quân đội Việt Nam rút về nước năm 1989

Nguồn: http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chien-truong-k-mien-ky-uc-khong-the-lang-

quen-2193910/

Năm 1989 quân đội Việt Nam rút về nước Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam

đã diễn ra như vậy Đó là một cuộc chiến không thể tránh khỏi, để giúp nhân dân Campuchia thoát thảm họa diệt chủng và cũng là tự giúp mình

Hình 10: Thủ lĩnh Khmer đỏ Pol Pot, kẻ giết người hàng loạt (ảnh chụp năm 1998, trước khi Pol Pot chết vì bệnh)

Nguồn: http://infonet.vn/con-gai-cua-pol-pot-chay-tron-di-vang-post9708.info

Pol Pot - kẻ coi cái chết của gần 2 triệu người dân Campuchia vô tội là “một sự hy sinh cần thiết” và tìm cách hủy diệt tận gốc văn hóa truyền thống xứ Chùa Tháp - dùng

Trang 27

tên nàng công chúa Sitha nổi tiếng để đặt cho con gái của mình Tháng 4/1998, ở tuổi 72,

y chết trong rừng sâu nơi y đang lẩn trốn, nghe nói là do bệnh tim Trước đó vài tháng, y giao vợ là Meas, khi ấy 36 tuổi và cô con gái 12 tuổi Sitha cho viên thư ký riêng Tep Khunnal, nhờ anh ta chăm sóc họ khi y qua đời

Hình 11: Một trong những núi xương của tổng cộng gần 2 triệu người bị sát hại

Trang 28

Tep Khunnal - viên thư ký của Pol Pot, Tep Khunnal từng du học ở Pháp và từng giữ cương vị phó đại điện Khmer đỏ tại Liên Hợp Quốc, đã thực hiện hoàn hảo lời hứa với Pol Pot: Ông ta không chỉ đưa hai mẹ con Meas trốn sang Thái Lan, mà sau đó kết hôn luôn với người vợ của Pol Pot và nuôi dạy Sitha trưởng thành như con gái ruột của mình

Sitha học tại Pannisastra (PUC) ở Phnom Penh, một lò đào tạo cán bộ lãnh đạo Campuchia và được chính phủ Mỹ tài trợ Cô học Khoa Anh văn và Quản trị Kinh doanh

- một sự kết hợp đáng kinh ngạc mà có thể khiến người ta bị khép vào tội chết dưới thời Pol Pot, kẻ đã ra lệnh xóa sổ các ngân hàng, trường học và bãi bỏ thói quen sử dụng tiền

tệ ở Campuchia

Cho đến nay Sitha mới có một lần duy nhất trả lời phỏng vấn báo chí, đó là hồi năm 2004, với tờ Cambodia Daily Dạo ấy 18 tuổi, trong bộ đồng phục nữ sinh, cô còn là một cô gái rụt rè ở huyện Malai Cô kể cô vẫn thường cầu nguyện cho Pol Pot, cha cô, và

thường xuyên mang những đồ khất thực cho các nhà sư ở chùa Cô nói: “Tôi mong kiếp

sau được gặp ông ấy ở thế giới bên kia và được sống lâu hơn với ông ấy”

Giờ đây, Sitha là một cô gái tân thời xinh đẹp ở Phnom Penh và hoàn toàn không còn muốn nói gì tới quá khứ

Hình 13: Bà Men Sam On xúc động cám ơn ông Vũ Oanh, cựu chuyên gia Việt

Nam giúp cách mạng Campuchia

Nguồn: http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/nu-dai-tuong-campuchia-mai-ghi-nho-su-

giup-do-cua-viet-nam-2193912/

Trang 29

Nhân kỷ niệm ngày chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot, Phó thủ tướng thường trực Chính phủ Campuchia, nữ đại tướng Men Sam On bày tỏ lòng biết ơn của nhân dân Campuchia với Việt Nam

Dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Hoàng gia Campuchia sang dự Lễ mít tinh kỷ niệm 33 năm ngày chiến thắng chế độ diệt chủng ở Campuchia được tổ chức tại Hà Nội ngày 7/1/2012, Phó thủ tướng thường trực Men Sam On đã có bài diễn văn quan trọng

Bà Men Sam An, 58 tuổi, nữ Phó thủ tướng đầu tiên, vừa được Quốc vương Norodom Sihamoni sắc phong hàm đại tướng (4 sao) theo đề nghị của Thủ tướng Hun Sen Trong những năm 1970, bà Men Sam An từng cầm súng chiến đấu chống Khmer Đỏ

và trở thành một đảng viên quan trọng của đảng Nhân dân Campuchia (CPP) cầm quyền Sau đó, bà trở thành một nhà báo, viết cho các ấn phẩm của CPP Bà Men Sam An là đại diện của tỉnh Svay Rieng (Tây Nam Campuchia)

Nhắc lại sự tàn bạo của chế độ diệt chủng Pol Pot, bà Men Sam On một lần nữa khẳng định ý nghĩa lịch sử to lớn, vĩ đại của chiến thắng ngày 7/1/1979 đối với nhân dân Campuchia “Nhân dân Campuchia mãi mãi ghi nhớ rằng: Ngày 7 tháng giêng là ngày sinh thứ hai của mình Nếu không có chiến thắng ngày 7 tháng giêng cũng không thể có những gì như ngày nay”, bà Men Sam On xúc động

về quá khứ Bên cạnh đó là những bộ phim chính luận với mục đích thông tin tuyên truyền phục vụ những sự kiện chính trị nổi bật , các ngày lễ lớn, nhân dịp kỉ niệm… Ngoài ra còn có thể kể đến những bộ phim được coi như một thứ vũ khí lợi hại chống lại những quan điểm, hành vi sai trái về chính trị, tư tưởng…

Trang 30

Thứ hai: Chức năng giáo dục và nhận thức Thông qua những hình ảnh chân thực

về con người, sự việc, sự kiện, vấn đề… với tất cả sự phong phú và đa dạng của nó, phim

tư liệu giúp nâng cao nhận thức và tư duy của người xem, thậm chí là góp phần định hướng tư tưởng và thay đổi hành vi của họ Hơn thế nữa, phim tư liệu còn có thể giúp người xem phát hiện bản chất có ý nghĩa triết học của hiện tượng và sự kiện, nâng sự kiện lên tầm khái quát hóa bằng hình tượng tiêu biểu, nhờ việc sử dụng một cách có hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật (điều mà các thể loại báo chí truyền hình khác khó thực hiện được do đặc điểm thể loại, thời lượng và mục đích thông tin) Và cuối cùng, phim tư liệu

có thể nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của hiện tượng và sự kiện thông qua việc sử dụng các chi tiết điển hình, kết hợp với âm nhạc, tiếng động, lời bình, các thủ pháp dựng phim…tác động mạnh mẽ tới người xem, tạo nên một thứ “hiệu ứng dây chuyền”, lan rộng trong xã hội

Thứ ba: Chức năng thẩm mĩ và giá trị tư liệu lịch sử Không dừng lại ở việc miêu

tả hiện thực một cách khách quan, trung thực, phim tư liệu (nhất là phim tư liệu nghệ thuật) còn chú trọng khai thác chất thơ với những ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ… nhằm tác động tới cảm xúc thẩm mĩ của khán giả, khiến họ cùng vui, buồn, hờn, giận… với những hình ảnh trong phim Mặt khác, chúng ta cũng không thể quên được rằng, mỗi bộ phim tư liệu, tự nó đã chứa đựng những giá trị tư liệu nhất định về lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Điều này đặc biệt quan trọng đối với tất cả những gì đã thuộc về quá khứ, những sự việc, sự kiện đã trở thành lịch sử Chẳng hạn như hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập; những người lính phất cao cờ đỏ sao vàng trên nóc hầm

Đờ Cátxtri; B52 Mỹ cháy trên bầu trời Hà Nội… Đó là những hình ảnh mà không ai và chẳng bao giờ có thể bịa ra hay làm lại được

Khi giảng dạy về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (12-1978), có thể sử dụng các nguồn phim tư liệu sau:

Bộ phim tài liệu “Biên giới Tây Nam - Cuộc chiến tranh bắt buộc” của đạo diễn

Lê Phong Lan, do Đài truyền hình TP.HCM và Hãng phim truyền hình Bản Sắc Việt hợp tác sản xuất Phim được ra mắt vào hôm 31.12.2013 tại TP.HCM

Bộ phim gồm 10 tập, mỗi tập 30 phút nói về giai đoạn lịch sử 1975 - 1989 của dân tộc Việt Nam, một giai đoạn vốn được xem là "nhạy cảm", gắn liền với cuộc chiến tranh

vệ quốc hướng biên giới Tây Nam và nhiệm vụ quốc tế cao cả của quân tình nguyện Việt

Ngày đăng: 09/05/2022, 01:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2006
2. Nguyên Thị Côi (chủ biên) (2011), Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử
Tác giả: Nguyên Thị Côi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
3. Hồ Ngọc Đại, Tâm lí học dạy học, NXB giáo dục, H, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học dạy học
Nhà XB: NXB giáo dục
4. Đặng Văn Hồ (2007), “một số vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam 1858 – 1918 ở trường THPT (Ban nâng cao)”, Tạp chí giáo dục, Đại học sƣ phạm Huế, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “một số vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam 1858 – 1918 ở trường THPT (Ban nâng cao)”
Tác giả: Đặng Văn Hồ
Năm: 2007
5. Đặng Thành Hƣng (2002), Dạy học hiện đại – lí luận, biện pháp, kĩ thuật, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – lí luận, biện pháp, kĩ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2002
6. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2007
8. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Nguyễn Cao Vỹ, Nguyễn Tiến Cường (1996), Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông cấp III, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông cấp III
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Nguyễn Cao Vỹ, Nguyễn Tiến Cường
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1996
9. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1997), Phương pháp học tập và nghiên cứu lịch sử, NXB Đại học sƣ phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp học tập và nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm Huế
Năm: 1997
10. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (1999), Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1999
11. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2000), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
12. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), Phương pháp dạy học lịch sử. Tập II, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2002
13. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (đồng chủ biên) (2002), Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2002
14. Phan Ngọc Liên (2003), Phương pháp luận sử học, NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận sử học
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2003
15. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2009), Phương pháp dạy học lịch sử, Tập I, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử, Tập I
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2009
16. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2009), Phương pháp dạy học lịch sử, Tập II, in lần thứ ba, NXB Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử, Tập II
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2009
17. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2010), Lịch sử lớp 11 (cơ bản), NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lớp 11
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
18. Trịnh Đình Tùng (2005), Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở
Tác giả: Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2005
19. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2008
7. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1992), Phương pháp dạy học lịch sử, NXB giáo dục Khác
20. Phan Ngọc Liên (1998), Phương pháp dạy học lịch sử, NXB Đại học Quốc gia. II. Tài liệu website Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Tấm bia ghi tội ác bọn Pol Pot thảm sát nhân dân Việt Na mở Ba Chúc (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) tháng 4-1978 - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 2 Tấm bia ghi tội ác bọn Pol Pot thảm sát nhân dân Việt Na mở Ba Chúc (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) tháng 4-1978 (Trang 21)
Hình 3: Biên đội trực thăng UH-1A của QĐND Việt Nam chi viện chiến trƣờng Campuchia - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 3 Biên đội trực thăng UH-1A của QĐND Việt Nam chi viện chiến trƣờng Campuchia (Trang 22)
Hình 4: Lính Khmer đỏ bị thƣơng trong các cuộc giao tran hở biên giới - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 4 Lính Khmer đỏ bị thƣơng trong các cuộc giao tran hở biên giới (Trang 22)
Hình 6: Bản đồ các mũi tiến công của QĐND Việt Nam tiêu diệt tập đoàn Pol Pot - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 6 Bản đồ các mũi tiến công của QĐND Việt Nam tiêu diệt tập đoàn Pol Pot (Trang 23)
Hình 5: Bộ đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh ngày 7-1-1979 - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 5 Bộ đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh ngày 7-1-1979 (Trang 23)
Hình 7: Bộ đội Việt Nam đang chăm sóc cho các trẻ em Campuchia trên vùng họ đi qua - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 7 Bộ đội Việt Nam đang chăm sóc cho các trẻ em Campuchia trên vùng họ đi qua (Trang 24)
Hình 8: Bộ đội Việt Nam trên đất nƣớc Chùa Tháp - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 8 Bộ đội Việt Nam trên đất nƣớc Chùa Tháp (Trang 25)
Hình 10: Thủ lĩnh Khmer đỏ Pol Pot, kẻ giết ngƣời hàng loạt (ảnh chụp năm 1998, trƣớc khi Pol Pot chết vì bệnh) - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 10 Thủ lĩnh Khmer đỏ Pol Pot, kẻ giết ngƣời hàng loạt (ảnh chụp năm 1998, trƣớc khi Pol Pot chết vì bệnh) (Trang 26)
Hình 12: Một bức ảnh hiếm hoi chụp vợ con của Pol Pot - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 12 Một bức ảnh hiếm hoi chụp vợ con của Pol Pot (Trang 27)
Hình 11: Một trong những núi xƣơng của tổng cộng gầ n2 triệu ngƣời bị sát hại dƣới chế độ Khmer đỏ - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 11 Một trong những núi xƣơng của tổng cộng gầ n2 triệu ngƣời bị sát hại dƣới chế độ Khmer đỏ (Trang 27)
Hình 13: Bà Men Sam On xúc động cám ơn ông Vũ Oanh, cựu chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 13 Bà Men Sam On xúc động cám ơn ông Vũ Oanh, cựu chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia (Trang 28)
Hình 15: Chiến sĩ Lê Đình Chinh - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 15 Chiến sĩ Lê Đình Chinh (Trang 33)
Hình 16: Lính Trung Quốc cùng sự yểm trợ của xe tăng tấn công vào lãnh thổ Việt Nam - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 16 Lính Trung Quốc cùng sự yểm trợ của xe tăng tấn công vào lãnh thổ Việt Nam (Trang 34)
Hình 18: Đây là hình ảnh bộ đội ta đang hƣớng dẫn dân quân, du kích dùng các loại súng - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 18 Đây là hình ảnh bộ đội ta đang hƣớng dẫn dân quân, du kích dùng các loại súng (Trang 35)
Hình 17: Các hƣớng tiến công của Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới - Xây dựng hệ thống tranh ảnh phim tư liệu lịch sử phục vụ giảng dạy hai cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam (121978) và phía Bắc Tổ Quốc (21979).
Hình 17 Các hƣớng tiến công của Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w