Việc KTĐG có hệ thống và xuyên suốt không chỉ giúp cho GV biết được trình độ, mức độ hiểu bài, nắm bắt kiến thức của HS mà còn giúp cho các em nhận thấy trình độ của bản thân,
Trang 1Ở CHƯƠNG HIDROCACBON KHÔNG NO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƯ PHẠM
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017
Trang 2Ở CHƯƠNG HIDROCACBON KHÔNG NO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
KHOA HÓA HỌC
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: LÊ QUANG VŨ
Lớp: 13SHH
1 Tên đề tài: Xây dựng website kiểm tra đánh giá khả năng tiếp thu bài của học sinh trung học phổ thông qua từng tiết học ở chương Hidrocacbon không no
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị: Không
3 Nội dung nghiên cứu:
* Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
* Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng website trong KTĐG môn Hoá ở trường THPT
* Xây dựng website KTĐG khả năng tiếp thu bài của HS THPT qua từng tiết học chương Hidrocacbon không no – lớp 11
* Thực nghiệm sư phạm
4 Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Lan Anh
5 Ngày giao đề tài: 20/5/2016
6 Ngày hoàn thành: 20/4/2017
Chủ nhiệm Khoa Giáo viên hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày……tháng… năm……
Kết quả điểm đánh giá:
Ngày …… tháng …… năm ……
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập và rèn luyện tại Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành đối với:
- Th.S Nguyễn Thị Lan Anh, giảng viên hướng dẫn đề tài đã dành nhiều thời gian đọc bản thảo, nhận xét, đóng góp ý kiến trong suốt quá trình tác giả xây dựng và hoàn thành luận văn
- Các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Hoàng Hoa Thám – TP Đà Nẵng đã nhiệt tình hợp tác, đóng góp ý kiến, hỗ trợ cho chúng tôi trong thời gian thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với ba mẹ, gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua
Lê Quang Vũ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thiết khoa học 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 4
1.2 Các phương pháp KTĐG kết quả học tập 5
1.2.1 Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 5
1.2.2 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá 6
1.2.2.1 Phương pháp vấn đáp 6
1.2.2.2 Phương pháp kiểm tra viết tự luận 6
1.2.2.3 Phương pháp kiểm tra thực hành 7
1.2.2.4 Phương pháp kiểm tra bằng TNKQ 7
1.2.2.5 So sánh phương pháp kiểm tra trắc nghiệm tự luận và TNKQ 8
1.2.3 Các hình thức câu hỏi TNKQ 10
1.2.3.1 Câu hỏi đúng – sai, có – không 10
1.2.3.2 Câu hỏi ghép đôi 10
1.2.3.3 Câu điền khuyết hay có câu trả lời ngắn 10
1.2.3.4 Câu hỏi nhiều lựa chọn 11
1.2.3.5 So sánh các hình thức câu hỏi TNKQ 11
1.3 TNKQ trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 13
1.3.1 Các yêu cầu, nguyên tắc viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 13 1.3.1.1 Yêu cầu viết câu hỏi TNKQ 13
1.3.1.2 Nguyên tắc viết câu hỏi TNKQ 13
1.3.2 Quy trình soạn thảo một bài TNKQ 15
1.3.2.1 Xác định mục tiêu 15
1.3.2.2 Lập bảng trọng số (bảng đặc trưng) 15
1.3.2.3 Thiết kế câu hỏi theo bảng trọng số 16
1.3.3 Phân tích, đánh giá bài kiểm tra TNKQ câu hỏi nhiều lựa chọn 17
1.3.3.1 Phân tích câu hỏi 17
1.3.3.2 Đánh giá một bài TNKQ 20
Trang 61.4 Ứng dụng CNTT vào KTĐG bằng TNKQ 22
1.4.1 Vai trò của CNTT vào dạy học Hóa học 22
1.4.2 Ứng dụng CNTT vào KTĐG TNKQ bằng website 23
1.4.3 Cơ sở lý thuyết của việc thiết kế website 24
1.4.3.1 Sơ lược về World Wide Web 24
1.4.3.2 Ngôn ngữ lập trình web PHP 24
1.4.3.3 Cơ sở dữ liệu MySQL 25
1.4.3.4 Ngôn ngữ truy vấn SQL 26
1.5 Thực trạng sử dụng website vào KTĐG môn Hóa học ở trường THPT 27
1.5.1 Mục đích điều tra 27
1.5.2 Đối tượng điều tra 27
1.5.3 Nội dung điều tra 27
1.5.4 Phương pháp xử lí kết quả 27
1.5.5 Kết quả điều tra 28
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG WEBSITE KTĐG KHẢ NĂNG TIẾP THU BÀI CỦA HS THPT QUA TỪNG TIẾT HỌC Ở CHƯƠNG HIDROCACBON KHÔNG NO 33
2.1 Đặc điểm của website KTĐG 33
2.1.1 Yêu cầu của website đối với việc KTĐG 33
2.1.2 Đối tượng và chức năng chung của website 34
2.1.3 Quy trình thiết kế một website 34
2.1.3.1 Xác định mục tiêu và đối tượng của website 34
2.1.3.2 Xây dựng nội dung 34
2.1.3.3 Thiết kế website 34
2.2 Xây dựng website KTĐG khả năng tiếp thu bài của HS qua từng tiết học 35
2.2.1 Tạo máy chủ cơ sở dữ liệu (web server, PHP, MySQL) bằng công cụ XAMPP 35 2.2.1.1 Cài đặt phần mềm XAMPP 35
2.2.1.1 Tạo cơ sở dữ liệu MySQL (Database) 39
2.2.2 Sử dụng ngôn ngữ lập trình PHP để thiết kế website bằng WordPress 40
2.2.2.1 Ưu và nhược điểm của WordPress 40
2.2.2.2 Cài đặt và tạo website bằng WordPress 41
2.2.3 Thiết lập công cụ hỗ trợ kiểm tra trắc nghiệm khách quan trên WordPress 46
2.2.4 Đưa website lên host online 49
2.2.4.1 Sơ lược về host 49
2.2.4.2 Đưa website lên host online 51
2.3 Giới thiệu về website http://kthh.16mb.com/ 61
2.3.1 Tên gọi và mục đích của website 61
Trang 72.3.2 Sơ đồ cấu trúc website 62
2.3.3 Nội dung của website 62
2.4 Thao tác sử dụng website 64
2.4.1 Đối với giáo viên 64
2.4.2 Đối với học sinh 77
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1 Mục đích thực nghiệm 82
3.2 Đối tượng thực nghiệm 82
3.3 Nội dung thực nghiệm 82
3.4 Tiến hành thực nghiệm 82
3.5 Kết quả thực nghiệm 83
3.5.1 Phân tích định tính dựa trên phiếu điều tra 83
3.5.1.1 Về chất lượng của website 83
3.5.1.2 Về hiệu quả của website 85
3.5.1.3 Một số ý kiến đóng góp của HS 86
3.5.2 Phân tích định lượng dựa trên kết quả kiểm tra của HS 86
3.5.2.1 Kiểm tra chất lượng đầu vào 86
3.5.2.2 Kiểm tra chất lượng sau khi tiến hành thực nghiệm 87
KẾT LUẬN 89
1 Kết luận 89
1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng website KTĐG khả năng tiếp thu bài của HS THPT qua từng tiết học ở chương Hidrocacbon không no 89
1.2 Xây dựng website KTĐG khả năng tiếp thu của HS THPT qua từng tiết học 89
1.3 Kết quả thực nghiệm 90
2 Kiến nghị và đề xuất 90
2.1 Với Bộ Giáo dục và Đào tạo 90
2.2 Với các trường THPT 91
2.3 Với giáo viên các trường THPT 91
3 Hướng phát triển của đề tài 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
Trang 8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
THPT : Trung học phổ thông
ĐHSP : Đại học Sư phạm
CNTT : Công nghệ thông tin
KTĐG : Kiểm tra đánh giá
SQL : Structured Query Language
HTML : HyperText Markup Language
HTTP : HyperText Transfer Protocol
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa phương pháp trắc nghiệm tự luận và khách quan 8
Bảng 1.2: So sánh các hình thức câu hỏi TNKQ 12
Bảng 1.3 Số lượng câu hỏi trắc nghiệm trong 1 tiết học ở các cấp học 15
Bảng 1.4 Ví dụ về bảng trọng số trong kiểm tra, đánh giá 1 tiết ở THPT 16
Bảng 1.5: Số lượng phiếu thăm dò ý kiến HS 27
Bảng 3.1: Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 82
Bảng 3.2 Đánh giá của HS về chất lượng website 83
Bảng 3.3 Đánh giá của HS về hiệu quả của website 85
Bảng 3.4 Bảng điểm kiểm tra chất lượng đầu vào của lớp TN và ĐC 86
Bảng 3.5 Kết quả TN của lớp TN và lớp ĐC 88
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Mức độ yêu thích bộ Hóa học của HS 28
Hình 1.2 Mức độ hoạt động của HS trong giờ học Hóa học 28
Hình 1.3 Ứng xử của GV khi HS có thắc mắc, câu hỏi tốn nhiều thời gian 29
Hình 1.4 Mức độ kiểm tra khả năng tiếp thu của HS sau bài giảng của GV 29
Hình 1.5 Mức độ sử dụng câu hỏi trắc nghiệm vào bài kiểm tra của GV 30
Hình 1.6 Mức độ sử dụng Internet của HS 30
Hình 1.7 Trình độ sử dụng website của HS THPT 31
Hình 1.8 Mức độ sử dụng website kiểm tra trắc nghiệm ở HS THPT 31
Hình 1.9 Mức độ hiệu quả của các câu hỏi trên các website 31
Hình 1.10 Nhu cầu của HS THPT đối với việc xây dựng website KTĐG từ GV 32
Hình 2.1 Chỉnh sửa Port cho Skype 36
Hình 2.2 Trang tải XAMPP 36
Hình 2.3 Trang hoạt động của XAMPP 37
Hình 2.4 Trang giới thiệu của XAMPP 37
Hình 2.5 Trang quản lý localhost 38
Hình 2.6 Bảng điều khiển XAMPP 38
Hình 2.7 Bảng điều khiển localhost/phpmyadmin 39
Hình 2.8 Tạo cơ sở dữ liệu 40
Hình 2.9 Thư mục WordPress 42
Hình 2.10 Sao chép thư mục, tập tin vào thư mục website 42
Hình 2.11 Cài đặt ngôn ngữ cho WordPress 43
Hình 2.12 Đổi tên tập tin tự động 43
Hình 2.13 Nhập thông tin cho cơ sở dữ liệu 44
Hình 2.14 Bắt đầu cài đặt 44
Hình 2.15 Nhập thông tin tài khoản quản trị 45
Hình 2.16 Cài đặt thành công và đăng nhập tài khoản quản trị 45
Hình 2.17 Trang quản trị WordPress 46
Hình 2.18 Giao diện website ban đầu 46
Hình 2.19 Cài đặt tiện ích (plugins) 47
Hình 2.20 Giao diện tiện ích WordPress cung cấp 48
Hình 2.21 Giao diện tiện ích đã cài đặt cho website 48
Hình 2.22 Đăng ký tài khoản 51
Trang 11Hình 2.23 Kích hoạt tài khoản tại địa chỉ mail 52
Hình 2.24 Giao diện trang http://www.hostinger.vn/order 52
Hình 2.25 Đặc điểm các gói hosting 53
Hình 2.26 Nhập tên website 53
Hình 2.27 Xác nhận đặt hàng website 54
Hình 2.28 Danh sách tài khoản hosting 54
Hình 2.29 Giao diện quản lý hosting 55
Hình 2.30 Tạo cơ sở dữ liệu trên hosting 55
Hình 2.31 Danh sách database MySQL và user hiện hành 55
Hình 2.32 Thẻ SQL trong phpMyAdmin 56
Hình 2.33 Đăng nhập vào CSDL ở localhost 56
Hình 2.34 Giao diện CSDL ở localhost 57
Hình 2.35 Xuất CSDL từ localhost 57
Hình 2.36 Tập tin chemtest.sql 57
Hình 2.37 Sao chép nội dung từ chemtest.sql lên CSDL trên hosting 58
Hình 2.38 Nén thư mục và tập tin trong thư mục “chemtest” 58
Hình 2.39 Trên giao diện quản lý hosting, chọn “Nhập Website” 59
Hình 2.40 Đẩy tập tin vừa nén được lên website 59
Hình 2.41 Thẻ Quản lý File 2 59
Hình 2.42 Quản lý tập tin tại cpanel 59
Hình 2.43 Giao diện mục public_html 60
Hình 2.44 Chỉnh sửa tập tin wp-config 60
Hình 2.45 Giao diện trang http://kthh.16mb.com/ 61
Hình 2.46 Sơ đồ cấu trúc website 62
Hình 2.47 Giao diện cài đặt website 65
Hình 2.48 Cài đặt ngôn ngữ cho website 65
Hình 2.49 Cài đặt giao diện cho website 66
Hình 2.50 Tạo mới chuyên mục (category) 66
Hình 2.51 Khởi tạo trình đơn (menu) 67
Hình 2.52 Thêm thành viên mới 68
Hình 2.53 Tạo bài viết mới 69
Hình 2.54 Tạo bài kiểm tra trắc nghiệm 69
Hình 2.55 Nhập tên bài kiểm tra 70
Trang 12Hình 2.56 Thiết lập bài kiểm tra 70
Hình 2.57 Thiết lập thống kê 70
Hình 2.58 Thiết lập bảng xếp hạng 71
Hình 2.59 Thiết lập mô tả trước khi làm bài 71
Hình 2.60 Thiết lập vùng thông tin 71
Hình 2.61 Thiết lập phần nhận xét 72
Hình 2.62 Thiết lập vùng thông tin 72
Hình 2.63 Thêm câu hỏi vào bài kiểm tra 72
Hình 2.64 Thẻ Title, Points, Category 73
Hình 2.65 Thẻ Question 73
Hình 2.66 Thẻ Answer type 73
Hình 2.67 Thẻ Answers 74
Hình 2.68 Danh sách câu hỏi cho bài kiểm tra 74
Hình 2.69 Shortcode của các bài kiểm tra 75
Hình 2.70 Chèn bài kiểm tra vào bài viết 75
Hình 2.71 Chọn thẻ Statistics 75
Hình 2.72 Danh sách điểm của học sinh 76
Hình 2.73 Bảng điểm cụ thể của học sinh 76
Hình 2.74 Phân tích một số thông tin qua bảng điểm 77
Hình 2.75 Xem lại câu trả lời sai của học sinh 77
Hình 2.76 Mục Kiểm tra trên thanh Menu 78
Hình 2.77 HS điền thông tin cá nhân 78
Hình 2.78 Giao diện bài kiểm tra 79
Hình 2.78 Giao diện sau khi làm xong bài kiểm tra 79
Hình 2.79 Hoàn thành bài kiểm tra 80
Hình 2.80 Kết quả và xếp loại của học sinh 80
Hình 2.81 Câu trả lời đúng 80
Hình 2.82 Câu trả lời sai 81
Hình 2.83 Phần bình luận sau mỗi bài 81
Hình 3.1: Kết quả đầu vào của lớp ĐC và lớp TN 87
Hình 3.2: Kết quả kiểm tra chất lượng của lớp ĐC và lớp TN 88
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong dạy học, KTĐG là giai đoạn cuối cùng và không thể thiếu Việc KTĐG có hệ thống và xuyên suốt không chỉ giúp cho GV biết được trình độ, mức độ hiểu bài, nắm bắt kiến thức của HS mà còn giúp cho các em nhận thấy trình độ của bản thân, phát hiện những sai lệch trong kiến thức và bổ sung kịp thời Trong KTĐG, TNKQ là hình thức được ứng dụng rộng rãi nhất, nó bao quát được kiến thức của bài và rèn luyện được kĩ năng tư duy, nhanh nhẹn cho HS Đặc biệt, hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo đang áp dụng hình thức thi trắc nghiệm cho kì thi THPT quốc gia cho môn Hóa học nên việc sử dụng TNKQ vào kiểm tra, đánh giá được coi là tối ưu nhất Bên cạnh đó CNTT ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn, mang đến sự tiện ích trong công việc, trong cuộc sống hằng ngày của mỗi con người Đối với HS, nó giúp các em có thêm nguồn tư liệu, tài liệu phong phú, đa dạng trong học tập, đáp ứng tốt nhu cầu tự học của HS Bên cạnh đó, Hóa học là ngành khoa học thực nghiệm nên việc được xem các thí nghiệm trực quan sẽ giúp các em hiểu bài hơn và tăng sự hứng thú với bộ môn Hóa hơn Tuy nhiên, CNTT cũng có mặt trái của nó Với lượng kiến thức khổng lồ, tràn lan trên mạng, các em dễ dàng gặp phải các website chứa nội dung khó hiểu, lan man thậm chí là sai lệch khiến các em gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức
Ngoài ra, thời gian lên lớp của GV là 45 phút/1 tiết, kiến thức không được truyền tải một cách chi tiết, cặn kẽ, đầy đủ GV không thể biết chắc chắn HS trong lớp mình có hiểu bài hay không, hiểu được bao nhiêu, còn phần nào chưa nắm bắt được Với các lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Xây dựng website kiểm tra đánh giá khả năng tiếp thu bài của HS THPT qua từng tiết học ở chương Hidrocacbon không no” nhằm giúp cho GV nắm được mức độ tiếp thu kiến thức của HS với lượng kiến thức mà GV truyền tải Qua đó GV có thể chỉnh sửa, thay đổi nội dung và phương pháp dạy phù hợp hơn nhằm giúp HS học tốt hơn
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của website là giúp GV kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu bài của
HS với bài giảng của GV trên lớp, từ đó GV có thể điều chỉnh hướng dạy phù hợp, cách ra đề kiểm tra đối với từng lớp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Ngoài ra, website được xây dựng bao gồm cả nội dung kiến thức mà GV truyền đạt trên lớp, giúp HS có thể kiểm tra lại kiến thức đã tiếp thu nếu thấy thắc mắc, nhầm lẫn Bên cạnh đó, website cung cấp thêm những kiến thức và tài liệu tham khảo để giúp HS tự học, tự rèn luyện kĩ năng của bản thân và làm tăng hứng thú học tập bộ môn Hóa học nói riêng và các môn khoa học nói chung
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
* Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài:
- Các phương pháp KTĐG trong học tập
- TNKQ trong KTĐG kết quả học tập
- Ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học
- Cơ sở lý thuyết của việc thiết kế website
* Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng website trong KTĐG môn Hoá ở trường THPT
* Xây dựng website KTĐG khả năng tiếp thu bài của HS THPT qua từng tiết học chương “Hidrocacbon không no” – Hóa học 11
* Thực nghiệm sư phạm, xử lí số liệu theo thống kê toán học để:
- Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của website đã thiết kế trong việc hỗ trợ quá trình dạy và học môn hoá ở trường THPT
- Tìm ra ưu – nhược điểm để cải tiến website phù hợp hơn với yêu cầu dạy học
và trình độ nhận thức của HS, từ đó nâng cao hiệu quả của việc sử dụng website
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Phục vụ cho nhu cầu dạy và học bộ môn Hóa học lớp 11 ở trường
THPT
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: nghiên cứu chương “Hidrocacbon không no” trong chương trình Hóa học 11 THPT
Trang 15+ Phạm vi: trường THPT Hoàng Hoa Thám – Thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
+ Phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Trò chuyện, phỏng vấn
+ Điều tra bằng phiếu khảo sát
+ Hỏi chuyên gia, giảng viên, GV THPT
+ Thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp nghiên cứu toán học: phân tích, tổng hợp số liệu và xử lí kết quả thu được theo phương pháp thống kê
6 Giả thiết khoa học
Nếu thiết kế được website tốt về hình thức và nội dung sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Hoá học ở trường THPT Khi học tập với sự hỗ trợ của website, HS có thể tự củng cố kiến thức được học, từ đó nắm vững, tự tin với kiến thức của bản thân, làm tăng niềm đam mê với môn Hóa học hơn Bên cạnh đó, việc kiểm tra đánh giá sau mỗi tiết học sẽ giúp GV biết được HS còn chưa nắm vững kiến thức nào, từ đó có thể điều chỉnh phương pháp dạy hay có kế hoạch xây dựng nội dung cần thiết cho các tiết ôn tập
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Ngày nay, CNTT là một trong các ngành phát triển nhanh chóng và có tác động mạnh mẽ lên mọi lĩnh vực của đời sống, trở thành một phần không thể thiếu với cuộc sống của người dân Các hệ thống website ngày càng phát triển đa dạng hơn, chất lượng hơn để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng Các website về Hóa học trên mạng không hề ít, tuy nhiên chủ yếu là những website cung cấp kiến thức và đa số là bằng tiếng anh, những trang web giúp HS tự kiểm tra, đánh giá bản thân rất ít nên gây khó khăn cho các em trong việc tìm tòi và kiểm tra kiến thức
Với bối cảnh đó, một số khóa luận và luận văn tốt nghiệp đã nghiên cứu xây dựng website hỗ trợ quá trình dạy và học Hóa học Tuy nhiên, cũng chỉ dừng ở mức
độ cung cấp lí thuyết, còn việc kiểm tra, đánh giá rất ít, các sản phẩm như website tự học, sách điện tử (ebook), thư viện điện tử cho HS… chỉ dừng lại ở mức là công cụ
hỗ trợ cho việc tự học, tự ôn tập, củng cố kiến thức của HS mà không có “tín hiệu phản hồi” lại cho GV, không giúp GV đánh giá, nắm bắt được năng lực của HS mình Tóm lại, việc ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá đã và đang thu hút được
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Thế nhưng, tính tới nay, các sản phẩm vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa đầy đủ, hoàn chỉnh, vẫn chưa có một website hay hệ thống nào vừa hỗ trợ GV, vừa giúp HS tìm kiếm kiến thức, tự kiểm tra, đánh giá năng lực của bản thân
Sau đây là một số khóa luận và luận văn có liên quan đến đề tài chúng tôi nghiên cứu:
1 Đoàn Thị Thu Huyền, Xây dựng website trực tuyến nhằm kiểm tra, đánh giá HS môn Tin học 10 trường THPT, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP Hà Nội
2 Nguyễn Thị Liễu, Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần hóa hữu cơ lớp
11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM, 2008
3 Lê Thị Xuân Hương, Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương Halogen lớp 10 THPT, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM, 2007
Trang 174 Nguyễn Trần Đông Quỳ, Website giáo dục môi trường qua chương trình hóa học lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM, 2007
5 Ngô Thị Phương Bích, Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương nhóm oxi lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM, 2008
6 Hỉ A Mổi, Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chương trình phân ban thí điểm, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM, 2005
7 Thái Hoài Minh, Thiết kế website hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá môn hóa học lớp
10 THPT (chương trình nâng cao), Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM, 2008
8 Nguyễn Thị Ngọc Xuân, Thiết kế website về phương pháp giải nhanh các bài tập trắc nghiệm khách quan hóa học vô cơ ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM, 2008
9 Lê Thị Thu Hà, Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học môn Hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM, 2009
10 Đặng Thị Oanh, Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi Hóa học lớp 11 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM, 2010
11 Phan Đăng Khoa, Thiết kế website hỗ trợ học sinh tự học phần hóa hữu cơ lớp 11
cơ bản, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM, 2012
12 Hà Đặng Thúy Phương, Xây dựng website KTĐG khả năng tiếp thu bài của HS THPT qua từng tiết học chương Oxi – Lưu huỳnh, Luận văn tốt nghiệp, ĐHSP-ĐHĐN, 2016
1.2 Các phương pháp KTĐG kết quả học tập
1.2.1 Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập [1], [13]
KTĐG là giai đoạn kết thúc của một quá trình dạy học, đảm nhận một chức năng lí luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu của quá trình này
Kiểm tra có 3 chức năng: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh Ba chức năng này luôn liên kết, thống nhất với nhau, thâm nhập và bổ sung cho nhau
Mục đích của đánh giá là xác định xem khi kết thúc một giai đoạn trọn vẹn của dạy học, kết quả học tập của HS đạt đến mức độ nào so với mục tiêu mong muốn (mục đích lí luận dạy học đã hoàn thành đến mức độ nào)
Trang 18Thông qua đánh giá sẽ phát hiện ra cả những mặt tốt lẫn mặt chưa tốt trong trình độ đạt tới của HS, thậm chí cả những mặt thất bại nữa
Phát hiện ra lệch lạc, tìm ra nguyên nhân của lệch lạc là điều quan trọng hơn
so với việc liệt kê thành tích Từ đó biết sửa chữa lệch lạc, loại trừ lệch lạc
1.2.2 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá [1], [2], [8], [23]
Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập hiện nay rất nhiều, mỗi phương pháp đều có giá trị trong việc thu nhận kết quả của HS Tuy nhiên, dựa vào mục đích đánh giá mà lựa chọn các phương pháp phù hợp
1.2.2.1 Phương pháp vấn đáp
Phương pháp vấn đáp (kiểm tra nói) là phương pháp trong đó GV tổ chức hỏi và đáp giữa GV và HS, qua đó thu được thông tin về kết quả học tập của HS Phương pháp này có thể tiến hành cho từng cá nhân hoặc nhiều HS cùng lúc
* Ưu điểm: giúp cho GV thu được tín hiệu ngược nhanh chóng, kịp thời với nhiều đối tượng HS khác nhau để điều chỉnh công việc truyền thụ kiến thức tiếp theo, thúc đẩy HS học tập thường xuyên, hệ thống và phát khiển khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói
* Nhược điểm: số lượng HS được kiểm tra ít, tốn nhiều thời gian Hiệu quả phương pháp phụ thuộc vào câu hỏi, phong thái của GV nên để đạt hiệu quả tốt cần phải chuẩn bị kĩ càng và khéo léo
1.2.2.2 Phương pháp kiểm tra viết tự luận
Phương pháp kiểm tra viết (trắc nghiệm tự luận) là phương pháp dùng bài kiểm tra dạng tự luận để đo lường mức độ mà cá nhân đạt được ở một lĩnh vực, một môn học cụ thể
* Ưu điểm: trong cùng một thời gian nhất định có thể kiểm tra được nhiều HS
với cùng một mức độ, từ đó dễ dàng đánh giá, đối chiếu, so sánh trình độ của các HS với nhau HS rèn luyện được cách trình bày vấn đề, cách suy nghĩ, cách diễn đạt ngôn ngữ viết của chính mình
* Nhược điểm: Số lượng câu hỏi ít, không phủ kín được toàn bộ nội dung, dễ
gây hiện tượng học tủ, học lệch ở HS Bên cạnh đó, phương pháp trên khó đảm bảo
Trang 19tính chính xác nếu không được tổ chức nghiêm túc, tốn thời gian chấm, việc chấm lại phụ thuộc vào tính chủ quan, trình độ của người chấm nên không thể bắt thông tin ngược chính xác, kịp thời, không rèn luyện được ngôn ngữ nói và không phản ánh được khả năng thực hành của HS
1.2.2.3 Phương pháp kiểm tra thực hành
Phương pháp kiểm tra thực hành là phương pháp GV tổ chức cho HS tiến hành các hoạt động thực tiễn, qua đó thu được các thông tin về kĩ năng thực hành của HS
* Ưu điểm: giúp HS nắm vững kiến thức, kích thích khả năng sáng tạo, tư duy
và hứng thú hơn trong việc học tập bộ môn Hóa học, giúp hình thành và hoàn thiện kĩ năng thực hành cho HS
* Nhược điểm: Không kiểm tra được hết HS, tốn nhiều thời gian và chi phí
cao
1.2.2.4 Phương pháp kiểm tra bằng TNKQ
Phương pháp kiểm tra bằng TNKQ là phương pháp dùng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, mỗi câu hỏi thường được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản, một từ hay một cụm từ và cách cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm
Các câu hỏi trong bài kiểm tra TNKQ có thể thuộc một trong các loại: câu hỏi nhiều lựa chọn, câu đúng – sai, câu điền vào chỗ trống (điền khuyết) hay câu ghép đôi
* Ưu điểm:
- Có thể đo lường đa dạng và khách quan với nhiều mức độ nhận thức
- Kiểm tra được nhiều nội dung trong thời gian tương đối ngắn
- Buộc HS phải tự giác, chủ động, tích cực học tập, tránh được tình trạng học
tủ, học lệch trong HS
- Thời gian làm bài từ 1-3 phút một câu hỏi, hạn chế được tình trạng quay cóp
Trang 20- Điểm của bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan hầu như thật sự là điểm do
- Việc biên soạn câu hỏi hoàn hảo thực sự khó, tốn kém công sức và HS cũng mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
1.2.2.5 So sánh phương pháp kiểm tra trắc nghiệm tự luận và TNKQ
Cả hai phương pháp đều thuộc phương pháp viết
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa phương pháp trắc nghiệm tự luận và khách quan
Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan
Mỗi câu hỏi HS tự vận động để trả lời,
vận dụng khả năng ngôn ngữ, kiến thức
của mình
Mỗi câu hỏi HS phải chọn ra một đáp án đúng từ một số gợi ý có sẵn hoặc chưa có sẵn
Mất nhiều thời gian để tiến hành kiểm
tra trên diện rộng
Có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên diện rộng trong một khoảng thời gian ngắn
Mỗi đề bài gồm một vài câu hỏi, HS phải
trả lời bằng cách trình bày theo tư duy
ngôn ngữ của mình
Mỗi đề bài là một hệ thống gồm nhiều câu hỏi, có tính riêng biệt, HS phải trả lời bằng một đáp án ngắn
Góp phần rèn luyện cho HS khả năng
trình bày, diễn đạt ý kiến của mình
Không góp phần rèn luyện cho HS khả năng trình bày, diễn đạt ý kiến của mình
Trang 21HS khi làm bài chỉ có thể chọn câu trả lời đúng có sẵn
Khi làm bài HS phải dành nhiều thời
gian để suy nghĩ và viết
Khi làm bài HS phải dành nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ
Chất lượng bài kiểm tra phụ thuộc nhiều
vào cá nhân, người biên soạn đề, người
chấm bài
Chất lượng của bài kiểm tra phụ thuộc vào kĩ năng soạn thảo câu trắc nghiệm của người soạn đề
Một bài tự luận dễ soạn, nhưng khó
chấm và điểm số có độ chính xác không
cao
Một bài trắc nghiệm thường khó soạn, đòi hỏi công phu nhưng việc chấm điểm và cho điểm nhanh và chính xác
Dùng để đo quá trình tư duy của HS Dùng để đo tốc độ tư duy của HS
HS có cơ hội thể hiện quan điểm, tư duy
của mình trên bài làm theo hướng riêng,
người chấm bài có quan điểm chấm
riêng
Người soạn câu trắc nghiệm có cơ hội thể hiện quan điểm của mình HS chỉ có
cơ hội thể hiện mức độ kiến thức
Mức độ thẩm định hoàn thành nhiệm vụ
học tập thường không rõ ràng
Mức độ thẩm định hoàn thành nhiệm vụ học tập rõ ràng
Có thể có một sự đánh lừa trong câu hỏi
hoặc bằng một từ hay một hình thức khó
xác định do người soạn đề chủ ý
Bắt buộc phải chấp hành sự phỏng đoán dựa trên kinh nghiệm của người làm bài
Điểm số trong mỗi câu hỏi có sự phân bố
không đều Điểm số phụ thuộc vào
người chấm
Điểm số thường được chia đều ở mỗi câu hỏi, không phụ thuộc vào yếu tố nào, ngay cả người ra đề
Không thể sử dụng các phương tiện hiện
đại trong chấm bài và phân tích kết quả
kiểm tra Cách chấm bài duy nhất là GV
phải đọc bài làm của HS
Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra
Từ bảng so sánh có thể thấy rằng cả hai phương pháp, trắc nghiệm và tự luận, đều là những phương pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập, nhưng từng phương
Trang 22pháp có các ưu điểm và nhược điểm nhất định Cần nắm vững bản chất từng phương pháp và công nghệ triển khai cụ thể để có thể sử dụng mỗi phương pháp đúng lúc, đúng chỗ
Tuy nhiên, phương pháp TNKQ có thể cho phép ta sử dụng các phương tiện hiện đại trong biên soạn, chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra, điều này giúp người
GV nhanh chóng nhận được tín hiệu ngược, qua đó kịp thời đổi mới chỉnh sửa, thay đổi nội dung và phương pháp dạy phù hợp hơn nhằm giúp HS học tốt hơn
1.2.3 Các hình thức câu hỏi TNKQ [2], [5]
1.2.3.1 Câu hỏi đúng – sai, có – không
Loại câu hỏi này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và HS phải trả lời bằng cách lựa chọn một trong hai phương án để khẳng định câu phát biểu đó là đúng hay sai hoặc có hay không
Loại câu này rất thích hợp với các loại kiến thức sự kiện trong một thời gian ngắn, dễ dàng và nhanh chóng biên soạn hơn Tuy nhiên, ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng xác suất đoán mò là 50% nên có độ tin cậy thấp
1.2.3.2 Câu hỏi ghép đôi
Loại câu hỏi có hai dãy thông tin, một bên là câu hỏi (bên trái) và bên kia là câu trả lời (bên phải) HS phải ghép một dòng ở dãy bên trái với một dòng ở dãy bên phải sao cho phù hợp với yêu cầu Mỗi một câu hỏi ghép đôi gồm có ba phần: Phần nêu yêu cầu, phần câu hỏi và phần câu trả lời
Số câu hỏi ghép đôi càng nhiều thì xác suất may rủi càng thấp, do đó nên để hai phần ghép đôi không bằng nhau để tránh HS suy luận may rủi
Loại câu này thích hợp với việc nhận biết kiến thức hay các mối tương quan, liên hệ với nhau Tuy nhiên, nó không thích hợp cho việc áp dụng các kiến thức mang tính nguyên lí, quy luật
1.2.3.3 Câu điền khuyết hay có câu trả lời ngắn
- Câu điền khuyết: Loại câu nêu một mệnh đề với một bộ phận được để khuyết,
HS phải nghĩ ra nội dung thích hợp để điền vào chỗ trống
Trang 23- Câu trả lời ngắn: Loại câu đòi hỏi trả lời chỉ bằng một từ hoặc cụm từ rất ngắn Loại câu này giúp hạn chế sự đoán mò, may rủi của HS, GV dễ soạn câu hỏi hơn Ngoài ra, HS còn có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thích hợp, có thể khác với đáp án của GV, vì vậy có thể phát triển tư duy, sáng tạo của HS Tuy nhiên, loại câu này tốn nhiều thời gian chấm bài và GV thường không đánh giá cao các câu trả lời sáng tạo khác đáp án của GV soạn ra
1.2.3.4 Câu hỏi nhiều lựa chọn
Loại câu này có ưu điểm nhiều hơn các loại câu hỏi TNKQ khác và được dùng phổ biến nhất Câu hỏi nhiều lựa chọn đưa ra một câu hỏi và một số phương án trả lời (thường là 4), HS phải trả lời câu hỏi và chọn vào phương án đúng hoặc đúng nhất
Câu hỏi nhiều lựa chọn gồm có hai phần: Phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu lên vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi, phần sau là phương án chọn, thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D, … hoặc các chữ số 1, 2, 3,
4, … và chỉ có một phương án chính xác, các phương án còn lại gọi là phương án nhiễu được đưa vào để gây nhiễu đối với các HS không nắm chắc vấn đề
Loại câu này cho phép đánh giá một phạm vi rộng các mục tiêu học tập so với các loại khác Không đòi hỏi HS phải trau chuốt câu trả lời, tránh việc gây nhầm lẫn
từ ngữ khi đánh giá mà chỉ tập trung vào khả năng đọc và suy nghĩ của HS So với phương pháp đúng sai, câu hỏi nhiều lựa chọn có nhiều phương án chọn hơn nên giảm bớt được khả năng đoán mò của HS
Tuy nhiên, câu hỏi này cũng có nhiều hạn chế: HS phải trả lời theo một khung định sẵn, không thể tự diễn đạt ý tưởng của mình nên không thể đánh giá khả năng diễn đạt của HS Trong câu chỉ có một phương án đúng nên khi gặp những câu có phương án đúng nhưng chưa thỏa mãn thì HS giỏi có thể nhận ra và không chọn, trong khi các HS khác lại không nhận ra và làm đúng, chính vì vậy, việc biên soạn câu hỏi nhiều lựa chọn rất khó khăn và tốn nhiều công sức của GV hơn các loại câu khác
1.2.3.5 So sánh các hình thức câu hỏi TNKQ
Trang 24Bảng 1.2: So sánh các hình thức câu hỏi TNKQ
Loại câu hỏi Cách dùng Ưu điểm Nhược điểm
Đúng/Sai Cần đánh giá một
mảng kiến thức rộng, đòi hỏi sử dụng nhiều câu hỏi
- Có thể nêu nhiều câu hỏi trong một thời gian ngắn
- Dễ chấm điểm
- Có thể trở thành câu hỏi không hay nếu không biên soạn tốt
- Xác suất đoán mò lớn (50%)
Ghép đôi Có nhiều ý hoặc
sự việc liên quan, muốn đo lường các mối quan hệ
giữa các thông tin
- Có thể bao phủ nhiều nội dung
- Dễ chấm điểm
- Có thể xem là nhiều câu hỏi nhiều lựa chọn
- Quá trình loại trừ có thể làm lệch kết quả nếu không biên soạn cẩn thận
- Dễ biên soạn
- Giảm sự đoán mò
- Khó chấm điểm
Câu hỏi nhiều
lựa chọn
- Chỉ có một đáp
án đúng
- Có một số phương án chọn hợp lí ứng với phương án đúng
- Có thể đánh giá được nhiều mục tiêu, bao phủ nhiều nội dung
- Dễ chấm điểm
- Các phương án nhiễu tốt cung cấp thông tin để biết HS sai lệch kiến thức như thế nào
- Đoán mò có thể làm lệch việc đánh giá
- Khó biên soạn do phải tạo các phương án nhiễu hợp lí
Trang 251.3 TNKQ trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
1.3.1 Các yêu cầu, nguyên tắc viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn [2], [5], [13]
1.3.1.1 Yêu cầu viết câu hỏi TNKQ
- Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình
- Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra, đề thi về mặt trình bày
và số điểm tương ứng
- Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể
- Không nên trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa
- Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi người học
- Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những người học không nắm vững kiến thức
- Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của người học
- Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác trong bài kiểm tra
- Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn
- Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất
1.3.1.2 Nguyên tắc viết câu hỏi TNKQ
* Nguyên tắc viết câu dẫn
Khi chế tác câu hỏi trắc nghiệm cần tuân theo các nguyên tắc sau:
- Nên viết câu hỏi trực tiếp
- Đưa “ý chính” của câu hỏi vào câu dẫn, không nên đưa vào các phương án lựa chọn
- Sắp xếp câu dẫn hợp lý, cấu trúc và ngữ pháp đơn giản để tránh các ngôn ngữ/cách diễn đạt mới lạ, không hợp lý nhưng cũng cố gắng để đưa được nhiều hơn
ý của chủ đề vào câu dẫn và đưa ra những phương án lựa chọn ngắn gọn hơn
- Tránh các từ ngữ mang tính chất phủ định như “ngoại trừ”, “không” Nếu sử dụng những từ ngữ này, bạn phải làm nổi bật chúng bằng cách in nghiêng, in đậm
Trang 26hoặc gạch chân Đánh dấu các từ ngữ quan trọng như “không”, “chỉ có”, “ngoại trừ” nếu sử dụng chúng trong câu hỏi
- Tránh viết các loại câu hỏi buộc HS thể hiện ý kiến riêng của bản thân, các câu từ rập khuôn trong SGK Tránh việc đưa các câu hỏi có sự gợi ý, dẫn dắt đưa tới đáp án
* Nguyên tắc viết phương án lựa chọn
- Câu hỏi khách quan đa lựa chọn có từ 3-5 phương án, thông thường nên có bốn phương án lựa chọn trong đó có một phương án đúng nhất Các phương án sai/ nhiễu là một phương án gần đúng và những lỗi thường gặp ở HS
- Các phương án lựa chọn phải phù hợp với câu dẫn về mặt ngữ pháp Sử dụng các dấu chấm câu đúng và phù hợp với câu dẫn
- Các phương án lựa chọn nên có độ dài tương xứng Một phương án dài hơn hoặc ngắn hơn một cách thái quá có thể thu hút sự chú ý của HS vì chúng nổi bật và
có thể dễ dàng nhận thấy
- Phân bố các phương án chọn theo một trình tự có ý nghĩa, logic
- Tránh đưa ra các phương án lựa chọn chồng chéo, có sự trùng lặp, nối tiếp với nhau
- Tránh sử dụng cụm từ “Không có phương án nào đúng” hoặc “ Tất cả đều đúng” làm một phương án chọn của loại câu trả lời chọn đáp án tốt nhất
- Phương án nhiễu được đưa ra nhằm “thu hút” những HS không hoàn toàn nắm vững nội dung/kiến thức Đây không phải là “thủ đoạn” hay “đánh lừa” hoặc
“không công bằng” Nó xuất phát từ “tiền đề’ rằng mục tiêu của kiểm tra đánh giá là tìm ra những HS đã hiểu bài và những HS không hiểu bài HS đã học và nắm vững kiến thức sẽ chọn được đáp án đúng và ngược lại những HS không học, không hiểu bài sẽ không chọn được đáp án đúng
- Tất cả các phương án nhiễu phải có tính hợp lý Đó thường là những hiểu lầm, những sai sót HS thường mắc phải Sử dụng kiến thức, hiểu biết của GV về các lỗi thông thường mà HS hay mắc phải để viết phương án nhiễu là cách làm khôn ngoan nhất Thông thường, trong quá trình giảng dạy, GV có thể nhận biết được HS
Trang 27thường bỏ qua một bước hoặc nhầm lẫn giữa một số kiến thức nhất định Bạn có thể đưa những nhận thức sai này vào các phương án nhiễu
1.3.2 Quy trình soạn thảo một bài TNKQ [2], [13]
1.3.2.1 Xác định mục tiêu
Trước khi soạn bài trắc nghiệm để kiểm tra, đánh giá, cần xác định mục tiêu kiểm tra cho phù hợp Chia nội dung của chương trình thành các nội dung cụ thể, sau đó xác định tầm quan trọng của từng nội dung đó, từ đó thiết kế với số lượng câu hỏi, phạm vi kiểm tra phù hợp
Bảng 1.3 Số lượng câu hỏi trắc nghiệm trong 1 tiết học ở các cấp học
Các cấp học Số lượng câu hỏi trắc nghiệm trong 1 tiết học
1.3.2.2 Lập bảng trọng số (bảng đặc trưng)
Tùy theo nội dung, mục tiêu dạy học đã được xác định, GV tiến hành lập bảng đặc trưng với các mức độ câu hỏi: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng bậc thấp, vận dụng bậc cao
- Nhận biết: Là cấp độ thấp nhất trong KTĐG học tập Bao gồm các định nghĩa, khái niệm, định luật, nguyên tắc các thông tin có trong SGK, HS chỉ cần ghi nhớ kiến thức trong tài liệu đã học
- Thông hiểu: Là khả năng nắm bắt nội dung và ý nghĩa của kiến thức Bao gồm giải thích, diễn giải tài liệu, dựa vào kiến thức nhận biết để dự đoán các kiến thức mới KTĐG ở mức độ này là một bước tiến cao hơn so với ghi nhớ tài liệu một cách đơn giản Tuy nhiên, đây cũng là mức độ thấp nhất trong quá trình hiểu
- Vận dụng bậc thấp: Là khả năng phân tích, ứng dụng các kiến thức, tài liệu vào tình huống cụ thể đơn giản Bao gồm việc phân tích, mổ xẻ tài liệu, các vấn đề kiến thức nhỏ, sau đó ứng dụng các quy định, phương pháp, khái niệm, nguyên tắc để giải quyết tình huống Mức độ này đòi hỏi HS phải có sự hiểu biết về kiến thức, nội dung và khả năng ứng dụng, phân tích
Trang 28- Vận dụng bậc cao: Tương tự như vận dụng bậc thấp, tuy nhiên, mức độ này
sử dụng cho những tình huống tổng hợp, phức tạp hơn, đòi hỏi HS phải có khả năng phân tích, tư duy cao hơn
Bảng trọng số cần có sự thống nhất về yêu cầu đối với HS của các GV trong
bộ môn nên cần được đưa ra thảo luận kĩ lưỡng
Bảng 1.4 Ví dụ về bảng trọng số trong kiểm tra, đánh giá 1 tiết ở THPT
Nội dung
môn học Trọng số
Yêu cầu Nhận biết Thông hiểu Vận dụng bậc thấp Vận dụng bậc cao
1.3.2.3 Thiết kế câu hỏi theo bảng trọng số
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học và bảng trọng số, GV đưa ra các câu hỏi phù hợp Muốn có bài kiểm tra TNKQ hay, nên thực hiện theo các quy tắc sau:
- Nên soạn trước bài kiểm tra sơ khảo trước một thời gian với số lượng câu hỏi nhiều hơn số lượng cần kiểm tra, có thể sưu tầm hoặc tự soạn các câu hỏi tự luận và trắc nghiệm
- Mỗi một câu hỏi trong bài kiểm tra phải liên quan đến một mục tiêu nhất định
- Câu hỏi phải rõ ràng, không được mơ hồ, lan man, phải đầy đủ ý nghĩa, không dựa vào phần trả lời để hoàn thiện ý nghĩa
- Các câu hỏi nên có độ khó vừa phải sao cho tầm 45% – 65% HS trả lời được
- Nên sắp xếp các câu hỏi theo mức độ khó tăng dần Các câu hỏi cùng loại nên sắp vào cùng một chỗ
- Phải chuẩn bị, kiểm tra kĩ đáp án trả lời và các thông tin có liên quan trước khi cho HS làm bài kiểm tra
Trang 29- Nên tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, chuyên gia Kinh nghiệm cho thấy việc trao đổi này rất quan trọng, giúp tác giả phát hiện và sửa chữa được nhiều sai sót mà bản thân không nhận thấy vì những suy nghĩ của mỗi người là khác nhau
- Tổ chức đọc duyệt, biên tập và đưa các câu hỏi trắc nghiệm lưu vào các kho dữ liệu trong máy tính
1.3.3 Phân tích, đánh giá bài kiểm tra TNKQ câu hỏi nhiều lựa chọn [2], [18]
1.3.3.1 Phân tích câu hỏi
* Mục đích phân tích: Xem xét mức độ hiệu quả của bài kiểm tra TNKQ, từ
đó đánh giá mức độ thành công của PPDH đang sử dụng, kịp thời điều chỉnh, thay đổi phương pháp cho phù hợp
* Phương pháp phân tích:
Việc phân tích từng câu hỏi TNKQ và toàn bộ bài TNKQ phụ thuộc vào mục đích trắc nghiệm, do đó các đặc trưng thống kê phải phản ánh được mục đích này Trong phần này, chúng tôi chủ yếu trình bày cách phân tích câu hỏi TNKQ đơn giản nhất Theo cách này, một GV đứng lớp có thể tiến hành xây dựng bài TNKQ nhằm đánh giá kết quả học tập theo mục đích đặt ra
Trong phân tích câu hỏi kiểm tra TNKQ, thường so sánh câu trả lời của HS ở mỗi câu hỏi với điểm số chung của toàn bài kiểm tra Để phân tích một câu hỏi, người
ta tiến hành thống kế 2 loại chỉ số: Độ khó và độ phân biệt của một câu hỏi, bằng cách như sau:
- Chia HS tham gia KTĐG thành 3 nhóm sau:
+ Nhóm điểm cao: chiếm 27% tổng số HS đạt điểm cao nhất
+ Nhóm điểm thấp: chiếm 27% tổng số HS đạt điểm thấp nhất
+ Nhóm điểm trung bình: Số HS còn lại
- Sau đó gọi:
+ Tổng số HS tham gia KTĐG là N
+ Tổng số HS nhóm điểm cao trả lời đúng câu hỏi là Nc
+ Tổng số HS nhóm điểm thấp trả lời đúng câu hỏi là Nt
+ Tổng số HS nhóm điểm trung bình trả lời đúng câu hỏi là Ntb
Trang 30* Độ khó của câu hỏi trắc nghiệm khách quan
a Khái niệm độ khó
Độ khó của câu hỏi TNKQ căn cứ vào số người trả lời đúng câu hỏi Nếu hầu như tất cả mọi người đều trả lời đúng thì câu hỏi ấy được xem là câu dễ Nếu có rất ít người trả lời đúng thì câu hỏi ấy được coi là câu khó Khi nói đến độ khó, GV cũng cần thiết phải xem câu hỏi TNKQ đó là khó đối với đối tượng HS nào Do đó, việc thử nghiệm trên đối tượng HS phù hợp giúp cho việc tính được độ khó của câu hỏi TNKQ
b Cách tính độ khó
Cách tính độ khó thông dụng nhất của câu hỏi TNKQ là tính tỷ lệ phần trăm
số người trả lời đúng của câu trắc nghiệm
Độ khó của câu hỏi được tính theo công thức sau:
K = Nc+ Nt+ Ntb
NGiá trị chỉ số độ khó thay đổi từ 0 đến 1, các câu trắc nghiệm trong bài trắc nghiệm thường có các độ khó khác nhau, giá trị độ khó càng nhỏ thì câu trắc nghiệm càng khó và ngược lại Thông thường:
K < 0,1 (rất khó) hay K > 0,9 (rất dễ): không nên dùng
n (n là số lựa chọn của mỗi câu, T được tính ra tỷ lệ phần trăm (%))
Độ khó trung bình của câu trắc nghiệm có n phương án lựa chọn về mặt lý thuyết = 100%+T
2
Đối với 1 câu hỏi TNKQ:
K > độ khó trung bình: câu hỏi TNKQ là dễ so với trình độ HS
Trang 31K < độ khó trung bình: câu hỏi TNKQ là khó so với trình độ HS
K ≈ độ khó trung bình: câu hỏi TNKQ là vừa sức với trình độ HS
Khi lựa chọn các câu hỏi TNKQ theo độ khó, thường phải loại các câu hỏi quá khó (không có ai làm đúng) hoặc quá dễ (tất cả đều đúng) Một câu hỏi TNKQ tốt khi những câu có độ khó trung bình
* Độ phân biệt của câu hỏi trắc nghiệm khách quan
a Khái niệm độ phân biệt
Trong một nhóm HS làm bài TNKQ, GV luôn muốn phân biệt trong nhóm đó những HS có trình độ khác nhau trong môn học đó Khả năng mà câu hỏi TNKQ thể hiện được sự phân biệt đó được gọi là độ phân biệt Nói cách khác, độ phân biệt giúp phân biệt được các trình độ giỏi, khá, trung bình, kém của HS Như vậy, một câu hỏi TNKQ có độ phân biệt tức là có khả năng phân biệt được HS giỏi và HS kém theo mục đích đặt ra cho bài TNKQ
b Cách tính độ phân biệt
Chỉ số độ phân biệt P được tính theo công thức:
P = Nc− Nt(Nc− Nt)𝑚𝑎𝑥Trong đó: (Nc – Nt)max là hiệu số Nc – Nt của câu hỏi được tất cả các HS trong nhóm điểm cao trả lời đúng và không có HS nào trong nhóm điểm thấp trả lời đúng
Khi xét về yêu cầu chỉ số độ phân biệt, chúng ta cần căn cứ vào mục đích trắc nghiệm Nếu bài TNKQ theo chuẩn (nhằm mục đích phân biệt và lựa chọn HS) thì cần những câu hỏi TNKQ có chỉ số về độ phân biệt cao, còn bài TNKQ theo tiêu chí (xác định mức độ đạt được mục tiêu môn học) thì chỉ số này không quan trọng
Độ phân biệt của một câu hỏi TNKQ hay một bài TNKQ có liên quan đến độ khó Nếu một bài TNKQ dễ đến mức mọi HS đều làm tốt thì độ phân biệt của nó rất kém Nếu một bài TNKQ khó đến mức mọi HS đều không làm được thì độ phân biệt của nó cũng rất kém Như vậy, muốn có độ phân biệt tốt thì bài TNKQ cần phải có
độ khó ở mức trung bình, khi đó điểm số thu được sẽ được trải rộng Thông thường:
- P ≥ 0,4: độ phân biệt rất tốt
Trang 32- 0,3 ≤ P ≤ 0,39: độ phân biệt khá tốt nhưng có thể làm cho tốt hơn
- 0,2 ≤ P ≤ 0,29: độ phân biệt tạm được, cần phải điều chỉnh
- P ≤ 0,19: độ phân biệt kém, cần được loại bỏ hay phải được sửa chữa nhiều
Lưu ý: Độ phân biệt cũng cho biết hiệu quả của các phương án nhiễu trong câu hỏi
Độ phân biệt càng âm thì phương án nhiễu đó càng hay vì gây nhiễu cho nhiều HS chọn phải
* Một số tiêu chuẩn để chọn câu hỏi trắc nghiệm khách quan tốt
- Những câu hỏi TNKQ có độ khó quá thấp hay quá cao, đồng thời có độ phân biệt âm hoặc quá thấp là những câu hỏi có chất lượng kém, cần phải loại đi hay sửa chữa cho tốt hơn
- Với đáp án trong câu hỏi TNKQ, số người nhóm cao chọn phải nhiều hơn số người nhóm thấp
- Với các phương án nhiễu, số người trong nhóm cao chọn phải ít hơn số người trong nhóm thấp
1.3.3.2 Đánh giá một bài TNKQ
Khi xây dựng câu hỏi, bài toán TNKQ nhiều lựa chọn phải đảm bảo các tiêu chuẩn của nó thì mới đảm bảo độ giá trị và độ tin cậy khi sử dụng Câu TNKQ nhiều lựa chọn có các tiêu chuẩn định tính và định lượng
* Tiêu chuẩn định tính:
- Câu dẫn: Phải bao hàm tất cả những thông tin cần thiết về vấn đề được trình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và hoàn chỉnh
- Các phương án chọn: Phương án chọn phải bảo đảm là chính xác hoặc chính xác nhất Câu nhiễu phải có tính hấp dẫn và có vẻ hợp lý đối với người chưa nắm vững vấn đề Các phương án chọn phải tương tự hoặc đồng nhất về mặt ngữ pháp
* Tiêu chuẩn định lượng
Theo nhiều tác giả, các câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dùng để đánh giá thành quả học tập thường có độ khó trong khoảng 20 → 80%, tốt nhất nằm trong khoảng
40 → 60%, độ phân biệt từ 0,2 trở lên, …
Trang 33Một bài TNKQ tin cậy để sử dụng kiểm tra – đánh giá phải bao gồm những câu hỏi tương đối đạt tiêu chuẩn dựa vào các đặc điểm sau:
- Độ giá trị
Yêu cầu quan trọng nhất của bài trắc nghiệm với tư cách là một phép đo lường trong giáo dục là phép đo ấy đo được cái cần đo Nói cách khác phép đo ấy cần phải đạt được mục tiêu đề ra cho nó Phép đo bởi bài trắc nghiệm đạt được mục tiêu đó là phép đo giá trị Như vậy, độ giá trị của bài trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm
- Độ tin cậy
Trắc nghiệm là một phép đo: dùng thước đo là bài trắc nghiệm để đo lường một năng lực nào đó của thí sinh (không nhất thiết chúng ta có chủ tâm đo năng lực đó hay không, chỉ cần đo đúng là được) Độ tin cậy của bài trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm Khoa học thống
kê cho nhiều phương pháp để tính độ tin cậy của một bài trắc nghiệm, có thể tìm các phương pháp này trong các sách chuyên khảo
Qua định nghĩa về độ tin cậy và độ giá trị chúng ta có thể thấy rõ mối tương quan giữa chúng Khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy, tức là phép đo nhờ bài trắc nghiệm rất kém chính xác, thì chúng ta không thể nói đến độ giá trị của nó Nói cách khác, khi bài trắc nghiệm không có độ tin cậy thì nó cũng không có độ giá trị
Như vậy, một bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao thì có nhất thiết là có độ giá trị cao hay không? Câu trả lời là: không nhất thiết Thật vậy, đôi khi phép đo nhờ bài trắc nghiệm có thể đo chính xác, nhưng nó đo một cái gì khác chứ không phải cái cần
đo, trong trường hợp đó thì bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao nhưng độ giá trị thấp
Ví dụ một khẩu súng chuẩn xác được nhắm bắn nhằm vào mục tiêu là tấm bia ngắm, các viên đạn bay ra đều trúng chụm lân cận tâm điểm của bia ngắm Khẩu súng như vậy là có độ tin cậy cao, và người bắn nhắm đúng mục tiêu nên kết quả bắn cũng đạt độ giá trị cao Tuy nhiên cũng khẩu súng đó nếu rơi vào một người ngắm nhầm mục tiêu đặt ra, trong trường hợp này việc bắn có độ tin cậy vẫn cao nhưng độ giá trị thấp
Trang 34Có thể lấy thí dụ về kỳ thi tuyển sinh đại học Mục tiêu của chúng ta là dùng việc đo năng lực của HS thu nhận được qua quá trình học chương trình trung học phổ thông để lựa chọn những HS vào học tốt chương trình đại học Tuy nhiên, cách thức thi, đặc biệt cách ra đề thi không thích hợp sẽ không đảm bảo cho kỳ thi đạt được mục tiêu đó Chẳng hạn, nếu trong đề thi có những bài tập rất khó, nhiều mẹo mà một
HS THPT dù nắm vững kiến thức cũng không thể làm kịp trong một thời gian ngắn,
mà chỉ những thí sinh đã qua nhiều lớp luyện thi được huấn luyện để có kỹ năng thành thạo làm các dạng bài tập đó mới làm kịp, thì chỉ loại thí sinh vừa nêu có khả năng đạt điểm cao và được tuyển chọn Rút cuộc, chúng ta sẽ chọn được những anh thợ làm bài tập giỏi chứ không phải những HS có năng lực nắm vững chương trình phổ thông trung học, đặc biệt là những HS ở nông thôn không có điều kiện luyện thi Phần lớn những HS này bị loại bỏ Và kỹ năng làm bài tập của những anh “thợ làm bài tập” chưa chắc đã cần cho quá trình học đại học Như vậy, có thể kỳ thi của chúng ta đo chính xác, nhưng đo một kỹ năng khác chứ không phải năng lực mà chúng ta cần đo Trong trường hợp này kỳ thi có thể có độ tin cậy cao nhưng có độ giá trị rất thấp Để đánh giá khách quan độ tin cậy của kỳ thi tuyển sinh đại học, chúng ta có thể khảo sát xem kết quả học đại học của sinh viên có tương ứng với kết quả tuyển sinh hay không
1.4 Ứng dụng CNTT vào KTĐG bằng TNKQ
1.4.1 Vai trò của CNTT vào dạy học Hóa học [15]
Hiện nay, với sự phát triển của CNTT, việc sử dụng internet ngày càng thuận tiện và phổ biến, các website có khả năng tương tác cao là công cụ tuyệt vời để hỗ trợ cho quá trình dạy và học Thông qua website, hệ thống kiến thức hoá học được truyền tải một cách nhanh chóng với những hình ảnh minh họa sống động GV có thể thu được tín hiệu ngược dễ dàng trên website, xoá bỏ mọi trở ngại của không gian và thời gian Các tiện ích của website giúp cho việc học tập trở nên hào hứng hơn bao giờ hết, HS có thể tiếp cận với những nội dung bổ ích, đa dạng, được trình bày một cách trực quan và gần gũi Bên cạnh đó, ứng dụng trong CNTT giúp HS chủ động hơn trong học tập, góp phần thay đổi vai trò của GV trong việc truyền thụ kiến thức Từ
Trang 35người quyết định kiểu dạy học tập trung vào người dạy, nay đã chuyển sang vai trò nhà trợ giúp theo kiểu tập trung vào HS, lấy người học làm trung tâm
Đối với bộ môn Hoá học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới PPDH Cụ thể là :
- CNTT là công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới Nhờ các ứng dụng CNTT, việc giảng dạy hóa học có thể khắc phục được những khó khăn trong việc minh họa các khái niệm trừu tượng trong Hóa học
- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức, hỗ trợ quá trình học tập thông qua hình ảnh, video trực quan, bồi dưỡng kĩ năng thực hành thí nghiệm hóa học
- Giúp GV tổ chức, điều khiển được hoạt động nhận thức của HS; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được thuận lợi và có hiệu quả cao hơn
1.4.2 Ứng dụng CNTT vào KTĐG TNKQ bằng website [3], [6], [8]
CNTT ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong công tác giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT vào dạy học khá khó khăn, nó đòi hỏi GV và HS phải có trình độ tin học nhất định Ngoài ra, việc sử dụng máy tính sẽ giảm độ chân thực, cảm giác khi truyền thụ kiến thức Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT cần phải tinh tế hơn, thay vì với việc chỉ chăm chăm tạo ra những bài giảng, đưa kiến thức lên mạng, ta có thể sử dụng nó vào mục đích kiểm tra, đánh giá trình độ của HS qua từng bài giảng trên lớp thông qua hình thức TNKQ – hình thức kiểm tra, đánh giá tối ưu nhất Từ đó đánh giá được khả năng, mức độ hiểu bài của HS mỗi lớp đối với bài giảng, lượng kiến thức truyền thụ của GV để có cách chỉnh sửa, thay đổi nội dung và phương pháp dạy phù hợp hơn nhằm giúp HS học tốt hơn
Hiện nay, có rất nhiều phần mềm, website sử dụng web server để kiểm tra, đánh giá HS Tuy nhiên, do chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất lớn và cần trình độ tin học cao nên GV khó có thể ứng dụng Khóa luận này sẽ mang tới cho GV một cách tạo trang web đơn giản, dễ sử dụng nhưng vẫn đáp ứng tốt nhu cầu kiểm tra, đánh giá HS cho người GV
Trang 361.4.3 Cơ sở lý thuyết của việc thiết kế website [7], [9], [12]
1.4.3.1 Sơ lược về World Wide Web
WWW (World Wide Web) là mạng trao đổi thông tin toàn cầu xây dựng trên nền internet, trong đó các máy chủ (Server) cung cấp thông tin cho máy khách (Client)
sử dụng thông tin
Trên các máy chủ cần chạy các chương trình phần mềm làm nhiệm vụ đón nhận thông tin và gửi trả thông tin gọi là Web Server Trên các máy khách cần chạy chương trình phần mềm có khả năng giao tiếp với Web Server để gửi yêu cầu và nhận thông tin gọi là Web Browser (trình duyệt Web) Web Server và Web Browser trao đổi với nhau những thông tin theo định dạng HTML, giao thức HTTP (HyperText Transfer Protocol – giao thức truyền tải qua các siêu văn bản)
Một số Web Server thông dụng hiện nay là IIS (Internet Information Services), Apache, Server2Go… Một số Web Browser thông dụng hiện nay là Mozilla Firefox, Google Chrome, Opera, Cờ Rôm +, Các chương trình phần mềm chạy trên máy chủ cung cấp dịch vụ WWW gọi là chương trình ứng dụng web
1.4.3.2 Ngôn ngữ lập trình web PHP
* Giới thiệu về PHP
PHP (Hypertext Preprocessor) là một ngôn ngữ lập trình kịch bản hay một loại
mã lệnh chủ yếu được dùng để phát triển các ứng dụng viết cho máy chủ (server script) PHP là một phần mềm mã nguồn mở, được chạy trên nền PHP Engine cùng với ứng dụng Web server để quản lí chúng
Hiện nay, PHP là một ngôn ngữ lập trình web phổ biến trên thế giới với các
ưu điểm sau:
- PHP được tối ưu hóa cho các ứng dụng web, tốc độ nhanh, nhỏ gọn
- Có thể chạy trên nhiều hệ điều hành như Windows, Unix,…
- Cú pháp giống C và Java, dễ học và thời gian xây dựng sản phẩm tương đối ngắn hơn so với các ngôn ngữ khác
- PHP cho phép xây dựng ứng dụng web trên mạng internet hay intranet, tương tác với mọi CSDL như mySQL, PostgreSQL, Oracle, SQL server và Access
Trang 37- Luôn được cải tiến và cập nhật bởi hàng ngàn chuyên gia lập trình trên thế giới (làm việc phi lợi nhuận)
- Có thể được sử dụng hoàn toàn miễn phí
* Hoạt động của trang PHP
Sau khi các file php được thực thi xong, kết quả sẽ được trả lại cho Web Server ở dạng HTML, tiếp theo Browser sẽ nhận được nội dung cần trình bày từ Web Server thông qua giao thức HTTP Một trang PHP cũng sẽ được Browser tham khảo tới bình thường như một trang HTML của web
* Một vài đặc điểm của PHP
- Các đoạn mã thực thi PHP luôn luôn được đặt trong thẻ <?php ?> Chương trình xử lý phía máy chủ sẽ chỉ thực thi các đoạn mã nằm trong thẻ này Tất cả các đoạn mã khác nằm ngoài thẻ trên đều không được xử lý trực tiếp trên server mà được đưa về trình duyệt
- Chương trình phải được đặt trong các file *.php thì mới hoạt động được, vì nguyên tắc của chương trình Web server là chỉ triệu gọi các chương trình xử lý tương ứng với các file có đuôi xác định trước
- Trong file *.php, ngoài các đoạn script PHP có thể đặt thêm khuôn dạng HTML, kể cả các đoạn JavaScript chạy trên máy khách
- Có thể đặt nhiều đoạn mã xử lý PHP khác nhau trong cùng một file PHP Các đoạn mã PHP này sẽ được thực thi lần lượt từ trên xuống dưới
- Kết thúc mỗi câu lệnh của PHP đều là một dấu chấm phẩy (";"), ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt
1.4.3.3 Cơ sở dữ liệu MySQL
MySQL là hệ quản trị CSDL có mã nguồn mở, được sử dụng cho các ứng dụng web có qui mô vừa và nhỏ MySQL cũng có trình giao diện trên Windows hay Linux, cho phép người dùng có thể thao tác và quản lí CSDL
Khi làm việc với MySQL, ta có thể đăng kí kết nối, tạo CSDL, quản lí người dùng, phân quyền sử dụng, thiết kế đối tượng Table và xử lý dữ liệu
Trang 381.4.3.4 Ngôn ngữ truy vấn SQL
* Giới thiệu về SQL
SQL (Structure Query Language – ngôn ngữ truy vấn cấu trúc) là một chuẩn ngôn ngữ của ANSI (American National Standards Institude – Viện tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ) để truy cập CSDL, chỉ làm việc với những dữ liệu có cấu trúc dạng bảng như Foxpro, DBase, Access,
Đối tượng của SQL là các bảng dữ liệu và các bảng này bao gồm nhiều cột và hàng Cột được gọi là trường và hàng là bản ghi của bảng Khi bảng được tổ chức có hệ thống cho một mục đích, công việc nào đó ta có một CSDL
SQL dùng để phân tích, tổng hợp số liệu từ các bảng đã có sẵn, tạo nên dạng bảng mới, sửa đổi cấu trúc, dữ liệu của các bảng đã có Vì mục tiêu của các chương trình quản lý CSDL là quản lý dữ liệu được lưu trữ trong các bảng nên SQL được dùng rất thường xuyên trong mọi công việc
* Các ưu điểm của SQL
Một trong những lý do khiến SQL ngày càng phổ biến hơn là SQL rất dễ sử dụng Trong các ngôn ngữ như Visual Foxpro hay Access còn cung cấp các công cụ trực quan giúp tạo ra các câu lệnh SQL một cách dễ dàng, hiệu quả Đó là các Query (câu hỏi truy vấn) trong các phần mềm có sử dụng SQL
Mỗi Query là một câu lệnh SQL được xây dựng hoàn chỉnh và ghi lại để có thể mang ra sử dụng bất cứ lúc nào Sử dụng Query rất dễ dàng và ít có khả năng mắc lỗi
- Tất cả các chức năng của SQL đều có thể được thực hiện bằng các công cụ khác của các phần mềm có sử dụng SQL Tuy nhiên dùng SQL có nhiều ưu điểm lớn
so với các cách khác như:
+ Câu lệnh đơn giản, dễ nhớ, dễ sử dụng và rất ngắn gọn
+ Tốc độ rất cao do được tối ưu hóa với những công nghệ mới
+ Khả năng thực hiện những yêu cầu phức tạp của công việc
Trang 39- Khả năng của SQL là rất lớn nên nó có phạm vi ứng dụng rộng trong việc quản lý CSDL bằng máy tính Trong một số trường hợp cụ thể nó có thể kết hợp với những công cụ lập trình khác để có được hiệu quả tối đa
1.5 Thực trạng sử dụng website vào KTĐG môn Hóa học ở trường THPT
1.5.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu sở thích và nhu cầu của HS trong quá trình học tập bộ môn Hóa
- Tìm hiểu mức độ sử dụng internet của HS
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong KTĐG
- Tìm hiểu chất lượng của các website KTĐG môn Hóa học hiện nay
- Tìm hiểu thực tiễn việc giảng dạy bộ môn Hóa học
1.5.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra với 81 học sinh trường THPT Hoàng Hoa Thám
- thành phố Đà Nẵng
Bảng 1.5: Số lượng phiếu thăm dò ý kiến HS
STT Lớp Số phiếu khảo sát
1.5.3 Nội dung điều tra
Trong phiếu điều tra HS (phụ lục 1), chúng chúng tôi đưa ra 10 câu hỏi, tập trung vào các nội dung:
a) Mức độ yêu thích của HS đối với bộ môn Hóa học
b) Ý thức học tập của HS trong giờ học
c) Các hoạt động của GV trong bài giảng và trong KTĐG
d) Mức độ và trình độ sử dụng Internet của HS THPT
e) Nhu cầu của HS đối với các website kiểm tra trực tuyến môn Hóa học
1.5.4 Phương pháp xử lí kết quả
Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra khảo sát trực tuyến của Google Biểu mẫu nên khâu xử lí số liệu là tự động Google Biểu mẫu xử lí kết quả theo phương pháp tính
% các câu trả lời và biểu thị nó ở biểu đồ hình tròn
Trang 401.5.5 Kết quả điều tra
Qua thăm dò ý kiến, chúng tôi nhận thấy HS đã thể hiện được ý thức xây dựng, trả lời nghiêm túc và thẳng thắn đối với những vấn đề được đặt ra Dựa vào phiếu ý kiến, xử lí số liệu từ Google Biểu mẫu, từ đó chúng tôi phân tích, đưa ra kết luận về nội dung điều tra Kết quả cụ thể của từng nội dung cần tìm hiểu:
Câu 1: Mức độ yêu thích bộ môn Hóa học của em?
Hình 1.1 Mức độ yêu thích bộ Hóa học của HS
Dựa vào hình 1.1, ta thấy môn Hóa học là một môn được HS yêu thích khá nhiều, chiếm gần 65% số HS khảo sát Tuy nhiên vẫn còn 31,3% HS cảm thấy bình thường và 5% không thích Chính vì vậy, người GV cần phải nỗ lực hơn trong việc tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập
Câu 2: Trong tiết học, em có thường đặt câu hỏi, nêu ý kiến của mình về các vấn đề
hóa học mình chưa hiểu trong bài giảng của thầy/cô?
Hình 1.2 Mức độ hoạt động của HS trong giờ học Hóa học
Dựa vào hình 1.2, có thể thấy hơn nửa số HS vẫn còn thụ động trong giờ học Hóa, độ thường xuyên và rất thường xuyên chỉ chiếm khoảng 46%, nhằm vào các