1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố lãng mạn trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Vích-to Huy- gô.

68 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu Tố Lãng Mạn Trong Tiểu Thuyết Nhà Thờ Đức Bà Pari Của Vích-To Huy-Gô
Tác giả Nguyễn Thị Nhàn
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 655,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện khi con người cảm thấy cô đơn trước thực tại xã hội, khi họ ý thức được vai trò của mình trước hiện thực vô thường của cuộc sống và đặc biệt họ ý thức được v

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

NGUYỄN THỊ NHÀN

Yếu tố lãng mạn trong tiểu thuyết Nhà thờ

Đức bà Pari của Vích-to Huy- gô

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Khi mà cả xã hội Pháp đang chạy theo những thắng lợi của chủ nghĩa

tư bản thì vẫn có một con người luôn sống trong “sự im lặng” để ươm lên những hạt mầm khát vọng trong tâm hồn nhân loại Con người ấy luôn đấu tranh không biết mệt mỏi cho nền tự do dân chủ của loài người tiến bộ Và con người đó chính là Vích-to Huy-gô- một cây đại thụ văn học thế kỷ XIX của Pháp nói riêng và thế giới nói chung

Trong dòng chảy của nền văn học thế giới, nếu như Bandăc được đánh giá là “một bậc thầy của nghĩa hiện thực”, một nhà “kiến trúc sư” tài ba đã xây dựng nên một công trình thế kỷ “Tấn trò đời” thì Vích-to Huy-gô là “hiện

thân của chủ nghĩa lãng mạn” là “tiếng vọng âm vang của thời đại” Bằng tài

năng và tâm huyết của mình, Vích-to Huy-gô đã mang đến cho đời những tác phẩm có giá trị Sự đắng cay chua chát của hiện thực quyện hòa cùng cái thi

vị ngọt ngào bay bỗng của lãng mạn là cảm giác đã thấm vào trái tim người đọc mỗi khi bước vào thế giới nghệ thuật của ông Và chính cái lãng mạn ấy

đã đưa Vích-to Huy-gô trở thành một nhà văn lãng mạn tiến bộ, ưu tú của nước Pháp Và cũng chính ông là người đã luôn sát cánh bên những con người cùng khổ nhất của xã hội để lên tiếng nói đòi công lý Và sâu xa hơn, ông còn thể hiện được những khát vọng bình dị và những ước muốn sâu xa nhất của con người trong cuộc sống

Tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari là một trong những đỉnh cao của chủ

nghĩa lãng mạn mà tác giả đã xây dựng Dường như, ông đã “thổi tinh anh

Trang 3

cho các ảo ảnh vĩ đại trong tâm linh, trí tuệ ông, biến các biểu hiện tượng trưng khô cứng thành nhân vật và tình tiết sinh động, đem quan điểm hết sức riêng tư và đôi khi rất cần xem xét lại, để nhận định đánh giá và miêu tả các

thực tế lịch sử” [3; 11] Bởi thế, mỗi khi đọc tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari

người đọc như được tắm mình trong lịch sử Pháp thế kỷ XV, được viếng thăm một thành phố cổ nằm giữa lòng thành phố đô hội và được lắng nghe những phong tục văn hóa cổ xưa với hàng loạt những lễ hội đình đám Và đặc biệt, người đọc còn được lắng mình lại trong những “giai điệu” tình yêu bằng một thứ ngôn ngữ uyên bác mang màu sắc huyền thoại tuyệt đẹp

Ở trong tác phẩm còn là sự xuất hiện của những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn cùng những chi tiết không kém phần rùng rợn, sự đan xen của nhiều hình ảnh

hư ảo đã như đưa người đọc trở về với những đêm trường Trung cổ đầy man

rợ Nhưng ở trong đó vẫn hiện lên hình ảnh của những con người cao cả, trong sáng Họ yêu nhau, họ ước ao, họ khát khao về một cuộc sống công bằng, một cuộc sống tự do, một cuộc sống chỉ có tình thương yêu tha thiết Mặc dù, những con người đó phải sống một cuộc sống khổ đau nhưng chính tác giả luôn muốn mang đến cho cuộc đời của họ những gì tươi sáng nhất Đó

có thể là tình yêu, có thể là sự sẻ chia,… để như cứu lấy linh hồn của con người khi tất cả đã bỏ quên họ giữa cõi đời

Nhà thờ Đức bà Pari chính là sản phẩm của trí tưởng tượng, thành quả

của tài năng, kết quả của xã hội được tác giả xây dựng sinh động trong tác phẩm Với mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về giá trị của tác phẩm và tiếng lòng của tác giả, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài “Yếu tố lãng mạn trong tiểu

thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Vích-to Huy- gô”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari (1482) của

Vích-to Huy-gô (Nhị Ca (dịch) năm 2010), Nxb Văn học

- Phạm vi nghiên cứu: Ở đề tài này chúng tôi đi vào tìm hiểu “Yếu tố

lãng mạn trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Vích-to Huy-gô

Trang 4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhà thờ Đức bà Pari- tòa nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca, đã vang lên như

một hồi chuông cảnh tỉnh thấu tận vào những ngõ ngách của lòng người Chính bằng những nét đặc sắc của ngòi bút lãng mạn, Vích-to Huy-gô trong

tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari đã khẳng định những thành công độc đáo của

mình trên con đường sáng tạo nghệ thuật Ngay từ khi ra đời cho đến nay, tiểu

thuyết Nhà thờ Đức bà Pari được đông đảo các nhà nghiên cứu trên thế giới

quan tâm và đánh giá cao

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đón nhận tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà

Pari một cách nồng nhiệt với những trang phê bình đầy ý nghĩa Có thể nói:

“Với Nhà thờ Đức bà Pari (1931), Huygo đã chuyển tấn bi kịch về những con người bị gạt ra ngoài lề xã hội- từng xuất hiện hai năm trước đó ở “Ngày cuối

cùng của một kẻ bị kết án” (1929)- vào khung lịch sử của huyền thoại” [15;

399] Đó là những gì mà Huy-gô muốn gửi gắn đến bạn đọc Với ông, tình yêu thương là sự che chở lớn lao nhất cho những con người dưới tận cùng của

xã hội Đến với những tác phẩm của ông, đặc biệt là tiểu thuyết Nhà thờ Đức

bà Pari người đọc thấy được cuộc sống của những con người nghèo khổ

nhưng hình ảnh của họ luôn mang tầm vóc vĩ đại

Khi nhìn nhận lại những giá trị cao cả của chủ nghĩa lãng mạn được gửi

gắm trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari, Đặng Anh Đào đã từng viết:

“Nhà thờ Đức Bà Pari hướng về đề tài Trung cổ nhưng không phải với những cảnh hoang tàn, những lâu đài phong kiến và tầng lớp kỵ sĩ mà là hướng về nền Trung cổ của nhân dân với mọi sắc thái phong tục, tập quán, tín ngưỡng,

kiến trúc và làm toát lên sức mạnh vô tận của quần chúng” [16; 173] Bởi,

chính tác giả đang ý thức được rằng: mình đang sống trong một khúc gãy của tiến trình nhân loại và khát khao tìm về cái cũ, tìm về với nhân dân như một nguồn nước vô tận vỗ về cho tâm hồn đang cằn khô trước thực tại xã hội

Đặng Anh Đào (2003), trong cuốn Victo Huygô cuộc đời và tác phẩm

đã biên soạn những bài phê bình, nghiên cứu có giá trị về tác giả Vích-to

Trang 5

Huy-gô, trong đó có công trình nghiên cứu của Đặng Thị Hạnh với “Bút pháp

miêu tả của Huygô trong Nhà thờ Đức bà Pari đã nói rằng: “Bút pháp miêu tả

trong tiểu thuyết của Huygô đã tách ra khỏi bút pháp miêu tả của hai nhà tiên tri lãng mạn Ruxô và Becnađanh đơ Xanh Pie… Thiên nhiên và cảnh trí trong tiểu thuyết Huygô không còn thuộc về thế giới nội tâm nhỏ bé của một nhân vật và không còn được nhìn bằng đôi mắt lồng qua cảm xúc của nhân vật… bằng từ tượng hình “trí tưởng tượng bằng mắt” vốn được coi là năng khiếu

chủ đạo của Huygô” [7; 155] Đó chính là nét bút diệu kỳ của Huy-gô trong

việc tạo nên những khoảnh khắc thiên nhiên đa chiều thể hiện cho bức tranh muôn màu của cuộc sống

Cũng đánh giá về giá trị của Nhà thờ Đức bà Pari, Đặng Anh Đào trong cuốn Văn học phương Tây đã khẳng định: “Nhà thờ Đức Bà Pari vẫn là

một cuốn truyện được dịch và đọc nhiều trên thế giới với tất cả vẻ ngây thơ,

tươi mát và tình yêu con người tràn ngập trong đó” [6; 497] Bởi, với Huy-gô

tình yêu con người là một mãnh lực giúp ông vượt qua mọi khó khăn gian khổ

và tìm về với những gì xã hội đã đánh mất

Trong Lời giới thiệu về cuốn tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari có rất

nhiều tác giả đã đánh giá rất cao về giá trị của tác phẩm Với Ơgien Xuy, ông cho rằng: “Ngoài chất thơ cùng tất cả sự phong phú của tư tưởng và tính

kịch cuốn truyện của ông còn gì đó làm tôi xúc động” Còn Têôphin Gôchiê

đã đánh về về cuốn tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari: “là một thiên anh hùng

ca Iliat thực sự, ngay từ bây giờ nó đã trở thành một tác phẩm kinh điển” [3; 6] Chính tác phẩm là một kiệt tác của tiểu thuyết lịch sử thời kỳ lãng mạn

chủ nghĩa Với Huy-gô lịch sử là một cuốn sổ tay chân thực về cuộc sống để ông gửi gắm những tình cảm của mình Chính “bằng nhiệt tình nhà thơ, nghiêm túc nhà tri thức, lòng yêu mến nồng nàn mọi của cải vật chất và tinh thần của đất nước, tác giả Nhà thờ Đức bà Paris lần nữa khẳng định tinh thần

dân tộc và dân chủ trong sự nghiệp nghệ thuật của ông” [3; 11] Để từ đó

Huy-gô thể hiện được những khát vọng của mình về một xã hội tốt đẹp hơn

Trang 6

Đó chính là thành quả của sự chân thành và tình thương yêu mà tác giả cuốn tiểu thuyết muốn gửi gắm đến những thế hệ mai sau

Và chính Nhà thờ Đức bà Pari là một sự sáng tạo nghệ thuật diệu kỳ

mà Huy-gô muốn mang đến cho nhân loại Đến với tác phẩm người đọc không những được chứng kiến những cung bậc tình yêu mà còn thể hiện một khát vọng sống trong xã hội đầy tình yêu và hạnh phúc Một xã hội mà “người với người sống để yêu nhau”

Không những đánh giá về giá trị của tác phẩm, các nhà nghiên cứu còn giành cho Vích-to Huy-gô những lời đánh giá chân thành, khẳng định vị thế của ông trên văn đàn thế giới

Lê Huy Bắc đã từng có những nhận xét rất xác đáng về Vích-to Huy-gô

và những vị trí của ông trong giới văn học thế giới: “Thế kỷ XIX ở nước Pháp

và cả thế giới không ai có được vinh dự lớn hơn Huy-gô được coi là “đứa con thiên tài của thời đại” Sinh ra khi “thế kỷ đã lên hai”, bước vào văn đàn năm

17 tuổi và với cuộc đời kéo dài hơn 80 năm đầy những biến cố của nước Pháp, con người ấy thực sự là một huyền thoại lôi cuốn độc giả nhiều thế hệ

trên nhiều mãnh đất khác nhau trong địa hạt văn chương” [2; 109] Công trình

nghiên cứu đã đánh giá rất cao tầm quan trọng của Vích-to Huy-gô đối với nền văn học và những ảnh hưởng của ông đối với những thế hệ tiếp nhận văn học trên thế giới

Còn Đặng Anh Đào nhận xét: “Huygo xuất hiện như một ngôi sao mọc sớm và lặn muộn nhất ở chân trời của thế kỷ Mãnh liệt và cường tráng, thiên tài ấy ngay từ đầu đã tự khẳng định mình như chủ soái của trường phái lãng mạn Cho tới nửa sau của thế kỷ, dù trào lưu lãng mạn đã qua thời vàng son của nó, thì bản thân Huygô vẫn làm mờ nhạt tài năng của nhiều nhà “chủ nghĩa đang nở ra và tàn đi rất mau chóng ở cuối thế kỷ, đến nỗi họ phải than rằng “cây sồi già xanh ngắt cho đến lúc chết” ấy đã làm cớm cả một vùng bao

quanh” [6; 475] Lời nhận xét đã làm nổi bật được vị thế và sức ảnh hưởng

Trang 7

của Huy-gô đối với nền văn học thế giới Qua đó, cho người đọc thấy được chân dung của một thiên tài, của một nhà chủ nghĩa lãng mạn bậc thầy

Trong một bài viết khác, khi đánh giá về vị thế của Vích-to Huy-gô trong dòng chảy của nền văn học, Đặng Anh Đào đã viết: “V Huygo xứng đáng được coi như đứa con thiên tài của thời đại Bước vào văn đàn lúc mới mười bảy tuổi, với cuộc sống kéo dài hơn tám mươi năm đầy ắp những biến

cố sôi động, Victor Huygo đã có mãnh lực thu húp áp đảo độc giả trên nhiều lĩnh vực khác nhau của văn chương nghệ thuật và một cường độ sáng tạo

hiếm hoi trong lịch sử văn học xưa nay” [15; 397]

Nhìn chung, các tác giả đã có cái nhìn khá sâu sắc về Vích-to Huy-gô

và những tư tưởng mà ông gửi gắm trong tác phẩm của mình Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc, cụ thể về yếu tố lãng mạn

trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Vích-to Huy-gô Ở đây, chúng tôi

đi vào tìm hiểu đề tài “Yếu tố lãng mạn trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari

của Vích-to Huy-gô” để thấy được những sáng tạo độc đáo của ông trên con đường khai sáng nghệ thuật tiểu thuyết

4 Phương pháp nghiên cứu

Ở đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống- cấu trúc với các thao tác: so sánh, phân tích, tổng hợp, bình luận, giải thích, chứng minh

Trang 8

NỘI DUNG

Chương Một: Chủ nghĩa lãng mạn và tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari

của Vích-to Huy-gô 1.1 Chủ nghĩa lãng mạn dưới góc nhìn văn học

Tìm hiểu về thuật ngữ chủ nghĩa lãng mạn chúng ta thấy rằng: Chủ

nghĩa lạng mạn là một thuật ngữ dùng để chỉ về đời sống tâm hồn của con người Nó như một sự lý giải chủ quan về các hiện tượng xẩy ra trong cuộc sống Đó chính là tiếng nói của thời đại, là khát vọng của con người, là ước

mơ trong cuộc sống Sự xuất hiện của chủ nghĩa lãng mạn sẽ làm cho tình người thêm thắt chặt, cuộc sống thêm ấm êm hơn Nó không những làm cho con người cảm thấy thỏa mãn tâm hồn mà nó còn bồi đắp thêm những tình cảm tốt đẹp trong tâm hồn họ

Ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa lãng mạn đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của văn học thế giới Nó chính là “một trào lưu văn hóa lớn nhất ở Âu-Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX… từ lãng mạn vốn được dùng để chỉ tất cả những cái gì hoang đường, kì lạ, khác thường chỉ

thấy có ở trong sách chứ không có trong hiện thực” [8; 86] Cho đến thế kỷ

XIX ở Pháp, chủ nghĩa lãng mạn phát triển thành một trào lưu có hệ thống luận điểm, có phương pháp sáng tác và đặc biệt nó phổ biến trên mọi lĩnh vực thơ, kịch, tiểu thuyết, Và những năm sau đó, thuật ngữ này được dùng để chỉ một “khuynh hướng văn học mới đối lập với chủ nghĩa cổ điển”

Chủ nghĩa lãng mạn bắt nguồn từ sự thất vọng đối với cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 và đối với nền văn minh tư sản “Sự bất bình với lối sống tư

Trang 9

sản, sự chống lại cái dung tục, tầm thường, không tình nghĩa và thói ích kỷ của những quan hệ tư sản đã sớm được thể hiện trong chủ nghĩa tình cảm và

tiền lãng mạn càng trở nên đặc biệt gay gắt” [8; 86] Xét về truyền thống văn

học, chủ nghĩa lãng mạn kế thừa chủ nghĩa tình cảm Sự ra đời của nó như muốn cân bằng lại những tình cảm mà con người đang có trong xã hội cũ Nhìn về phương diện triết học, chủ nghĩa lãng mạn mang tính duy tâm chủ quan Nó như là một sự đấu tranh của tâm hồn với thực tại xã hội

Đến với chủ nghĩa lãng mạn, họ bác bỏ hết lối sống tầm thường của chủ nghĩa tư bản “các nhà chủ nghĩa lãng mạn hướng về một thế giới khác thường mà họ tìm thấy trong các truyền thuyết và sáng tác dân gian, trong các thời đại lịch sử đã qua, trong những bức tranh kỳ diệu của thiên nhiên, trong đời sống, sinh hoạt, tập quán của các dân tộc và đất nước xa xôi Họ đem những ước vọng cao cả và những biểu hiện cao nhất của đời sống tinh thần

như nghệ thuật, tôn giáo, triết học, đối lập với thực tiễn vật chất tầm thường”

[8; 86]

Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện khi con người cảm thấy cô đơn trước thực tại xã hội, khi họ ý thức được vai trò của mình trước hiện thực vô thường của cuộc sống và đặc biệt họ ý thức được vai trò của sáng tạo nghệ thuật Bởi chủ nghĩa lãng mạn luôn tái hiện lại màu sắc của lịch sử, thời đại, quê hương Trong đó, người ta chia chủ nghĩa lãng mạn thành hai loại: chủ nghĩa lãng mạn tích cực và chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực Chủ nghĩa lãng mạn tích cực thể hiện lòng nhiệt thành, khát vọng chân lý và niềm tin hướng đến tương lai tươi sáng, làm “thức tỉnh lòng bất phục tùng đối với thực tại” (Gorki) Nó hướng con người đến những tình cảm tốt đẹp, những phẩm chất cao quý Còn chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực là sự bi quan chán nản trước thực tại cuộc sống Dường như, con người luôn muốn trốn chạy thực tại để chui vào ốc đảo cô đơn rồi quay về quá khứ Và có khi nó còn là tiếng kêu thất vọng, chán chường của tầng lớp phong kiến quý tộc suy tàn về một thời đại vàng son đã qua

Trang 10

Chính chủ nghĩa lãng mạn đã tạo nên một làn sóng về sự xuất hiện cho các thể loại mới như: tiểu thuyết lịch sử, kịch lịch sử, truyện viễn tưởng, trường ca trữ tình- sử thi, đặc biệt tạo nên sự phát triển rực rỡ cho thơ ca trữ tình

Như vây, chủ nghĩa lãng mạn là một khía cạnh của đời sống tâm hồn con người Nó như mục đích cứu cánh cho tâm hồn con người trước thực tại

xã hội Và cũng chính là nơi ngự trị của tình cảm, của ước mơ, của khát vọng

về cuộc sống tốt đẹp trong thế giới này

Chủ nghĩa lãng mạn chính là một phương pháp sáng tác, là “những nguyên tắc tư tưởng- nghệ thuật chi phối toàn bộ quá trình hoạt động sáng tạo

để xây dựng nên tác phẩm nghệ thuật” [8; 264] Khi sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật các tác giả muốn biến nội dung cuộc sống thành nội dung nghệ thuật Trong nội dung nghệ thuật đó, các nhà lãng mạn khi sáng tạo tác phẩm không chấp nhận thực tại khách quan mà luôn muốn vượt ra tất cả để đào xới

một mãnh đất mới bên trong tâm hồn con người

Khi sáng tác theo chủ nghĩa lãng mạn các nhà sáng tạo nghệ thuật luôn chú ý đến ba nguyên tắc: Thứ nhất, chối từ thực tại để quay về quá khứ và tự cho mình vai trò cải biến xã hội để rồi đẩy lùi tất cả những gì là thực tiễn sinh động để xây dựng nên những hiện thực cho riêng mình và nhân vật của riêng mình, thể hiện cho tư tưởng của mình Họ chối bỏ hết những yêu cầu cơ bản của cuộc sống để hướng đến những gì đang mong muốn Thứ hai, tự do bay lượn trong nghệ thuật: tự cho mình quyền được sáng tạo, được thoát ly để tìm cái mới, cái cao cả Đi theo tiếng gọi của con tim, để tạo nên những đứa con tinh thần mang âm vang của chính những thao thức của người sáng tạo Thứ

ba, điển hình hóa tâm trạng: không chú ý đến những tính cách của nhân vật

mà chỉ chú ý đến nội tâm, đến những thao thức bên trong của tâm trạng con người để thể hiện thực tại cuộc sống Và tất cả những điều đó đã làm cơ sở cho những sáng tác của nghệ sĩ

Trang 11

Về đặc điểm thi pháp, chủ nghĩa lãng mạn trong văn học luôn đề cao cái “tôi” chủ quan Và khi nhìn hiện thực suộc sống, các nhà lãng mạn luôn lấn át cái khách quan để đề cao mộng tưởng, trung thành với cái ngẫu nhiên trong cuộc sống Khi viết, chủ nghĩa lãng mạn luôn được thể hiện một cách cụ thể, chi tiết Khi xuất hiện trong những thể loại khác nhau, chủ nghĩa lãng mạn mang những nét khác biệt để thể hiện đặc trưng cho từng kiểu loại Tìm hiểu nó trên thể loại tiểu thuyết, chúng ta thấy: chủ nghĩa lãng mạn không sử dụng yếu tố truyện như trung tâm của tác phẩm mà thay vào đó là sử dụng yếu tố xây dựng nội tâm nhân vật Trong những hoàn cảnh khác nhau, nhân vật hiện lên là những con người siêu phàm, trác tuyệt, khác thường Ở đó, thế giới nội tâm được xây dựng một cách chân thực và sinh động Đặc biệt, các nhà lãng mạn sử dụng ngòi bút tương phản kết hợp với cường điệu và phóng đại để tạo nên hình tượng nhân vật Đó chính là nghệ thuật đặc trưng mang khuynh hướng lãng mạn Thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện ở các phương diện như: đề tài, nhân vật, thể loại, ngôn ngữ

Về đề tài: được sử dụng rất phong phú và đa dạng Những người sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn đã đi sâu khai thác nhiều đề tài trong cuộc sống xã hội cũng như nội tâm con người Đề tài mà chủ nghĩa lãng mạn sử dụng được bắt nguồn từ cảm thức về thời đại, về lịch sử, về thân phận con người Họ đề cao tính trữ tình, coi trọng thiên nhiên và tôn trọng văn học dân gian Nhưng cái cốt lõi của nó vẫn luôn hướng về cuộc sống, về con người Những đề tài đó không những thể hiện khát vọng trong cuộc đời mà còn làm sống dậy những quá khứ anh hùng, những sự kiện anh dũng của nhân dân Những chủ đề chính là: tình yêu, nỗi buồn, sự cô đơn và cả sự thất vọng,… tất

cả đều thể hiện những ước mơ vươn tới một cuộc sống lý tưởng Bởi, ở đó con người luôn cảm thấy thất vọng, bàng hoàng trước những cơn lốc lịch sử

và sự trôi chảy của dòng đời

Về nhân vật: hệ thống nhân vật trong khuynh hướng sáng tác lãng mạn

là những con người lý tưởng Những nhân vật đó không hòa nhập với cuộc

Trang 12

sống thực tại tư sản tầm thường mà luôn sống cô đơn, lạc lõng, bơ vơ giữa cuộc đời, họ thường có những kết thúc mang tính bi kịch

Về thể loại: chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện nhiều nhất trong thơ trữ tình và tiểu thuyết

Về ngôn ngữ: được sử dụng rất phong phú và đa dạng, câu văn uyển chuyển, nhiều nhạc điệu Nghệ thuật được sử dụng nhiều và linh hoạt hơn Bởi, chủ nghĩa lãng mạn là một nghệ thuật không chấp nhận thực tại khách quan mặc dù thực tiễn cuộc sống có sinh động như thế nào đi nữa Các nhà sáng tạo nghệ thuật chỉ muốn đi sâu vào thế giới nội cảm của con người để nói lên những ước mong nhức nhối trong cuộc sống Và đó chính là nơi để tác giả giải bày tâm sự, thể hiện tư tưởng và khát vọng của mình về một thời đại

đã qua, về những ký ức đã qua nay chỉ còn “vang bóng”

Như vậy, chủ nghĩa lãng mạn như một con đường để đến với đích của sáng tạo nghệ thuật Nó được xem là nguyên tắc trong sáng tạo nghệ thuật, là quy luật để tạo nên những thi phẩm mang hơi thở của quá khứ

1.2 Vích-to Huy-gô: Thiên tài lãng mạn của Pháp thế kỷ XIX

Vích-to Huy-gô- con người có một cuộc đời thăng trầm Sinh ra khi thế

kỷ đã lên hai, Vích-to Huy-gô xứng đáng được coi là đứa con thiên tài của thời đại Ngày 26 tháng 12 năm 1802 tại thành phố Bzanson là một cột mốc

đánh dấu cho sự xuất hiện của một thiên tài Cha của Huy-gô là một sĩ quan cao cấp dưới thời Napoleon Mẹ là một người phụ nữ mang dòng máu xứ

Vandet, xuất thân từ tầng lớp bình dân

Lúc lên năm tuổi, Huy-gô sung sướng khi được sang Ý, đắm mình trong ánh sáng lung linh của phố xá, của trời xanh và chiêm ngưỡng những nghệ thuật kiến trúc điêu luyện Cậu bé cảm thấy “kiêu hãnh” và “hạnh phúc” khi được sống trong một lâu đài bằng đá cẩm thạch Hạnh phúc gia đình chưa được bao lâu thì bố và mẹ của Huy-gô đã quyết định ly thân Ông theo mẹ về sống ở Pari- một nơi được coi là “rạng đông của cuộc đời” thiên tài Năm lên bảy tuổi, Huy-gô cảm thấy hạnh phúc với tuổi thơ của mình nhưng rồi cậu bé

Trang 13

cũng ý thức được rằng: xã hội này rồi cũng nhuốm máu và cuộc đời mình rồi cũng đau thương Những năm sau đó, Huy-gô được đến nhiều nước như Ý, Tây Ban Nha, sang đảo Coocxơ,… Và khi bước qua những xứ sở ấy, Vích-to Huy-gô đã kịp lưu lại trong nhật ký cuộc đời mình những kỷ niệm đáng nhớ Thời gian cũng trôi nhanh, hạnh phúc với gia đình ông quá mong manh, sự đổ

vỡ trong hạnh phúc của bố mẹ năm 1818 đã làm cho Huy-gô phải đứng trong

sự lựa chọn cuộc sống cho mình Từ đó, Huy-gô chăm chỉ học hành và nuôi giấc mộng văn chương

Năm ông 17 tuổi, ông đã tham gia cuộc thi thơ với đề tài “hạnh phúc do học tập mang lại” và đã gây được sự chú ý của Viện hàn lâm Cả đất nước biết đến tên ông với danh hiệu là “thần đồng” Rồi từ đó, vị “thần đồng” đã không ngừng sáng tác và cống hiến cho nghệ thuật

Năm 1814, Vích-to Huy-gô học tại trường tư thục ở đường Saint Marguerite Năm 1816, ông theo học trường Trung học Louis Le Grand cùng với anh trai của mình Đến hai mươi tuổi, Huy-gô đã cùng anh trai quyết định

không đi học trường Luật mà lập một tờ báo “Người bảo tồn văn học”

Năm 1821, mẹ của Huy-gô qua đời Cuộc sống của gia đình càng gặp nhiều khó khăn Tình yêu của Huy-gô và Ađelơ đã bị bố của Ađelơ ngăn cản

vì sợ nghề văn của Huy-gô không đảm bảo cho cuộc sống của con gái mình Nhưng chính đam mê và tình yêu đã cho ông sức mạnh nghệ thuật, Huy-gô xuất hiện trong những phòng khách danh tiếng của danh nhân nghệ sĩ Đến năm 21 tuổi, ông đã kết hôn với Ađelơ và họ có với nhau bốn người con

Năm 1841, ông được bầu vào viện Hàn lâm Pháp Năm 1845, ông trở thành nguyên lão của nước Pháp và bắt đầu cuộc sống lưu đày Trong thời gian này nhiều sáng tác nghệ thuật có giá trị đã ra đời và cũng là giai đoạn ông đạt đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác

Năm 1859, Napoleon đệ tam đã ra lệnh ân xá cho Huy-gô nhưng ông

đã khước từ và vẫn chịu sống cuộc sống lưu đày Bởi, Huy-gô không chấp nhận sự tự do cho riêng mình mà ông muốn cả nước Pháp cũng được hưởng

Trang 14

tự do như ông Năm 1870, đế chế II sụp đổ, ông quyết định về nước và được

sự đón tiếp nồng nhiệt của quần chúng nhân dân Năm 1871, ông được bầu làm dân biểu, rồi thượng nghị sĩ năm 1876 Từ đó, Huy-gô không ngừng tham gia hoạt động chính trị, đấu tranh cho cuộc sống công bằng, tự do của nhân dân Pháp

Nhưng, những “tang tóc và oan nghiệt dường như vẫn không ngừng chồng chất lên gia đình của Huy-gô”, những người thân của ông cứ lần lượt ra đi: đứa con gái mới bốn tuổi đã sớm lìa xa cuộc đời, Huy-gô thấy đau đớn và

ôm chặt những đứa con còn lại Sự ra đi của con gái đã làm biến đổi Huy-gô Năm 1871, con trai chết và đứa con gái bị điên dại phải sống trong nhà thương điên suốt đời Đứa con trai cuối cùng bị ho lao và chết Huy-gô tìm quên đi thực tại bằng những sáng tác nghệ thuật

Cuối cuộc đời, Huy-gô hạnh phúc cùng các cháu chứng kiến những đoàn người đến chúc mừng sinh nhật mình trên Đại lộ mang tên Victor Huygo Ông mất ngày 25 tháng 5 năm 1885, “quốc tang được tiến hành tới tận đêm khuya, trong sự tiễn đưa của hai triệu người, trong tiếng đọc thơ thay vì cầu nguyện” [15; 404] Thi hài của ông được đưa vào điện Patheon- nơi dành cho các đế vương và tướng lĩnh

Tám mươi ba năm sống trên cuộc đời, Vích-to Huy-gô đã trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm Cuộc đời ông là những tháng ngày chứng kiến nhiều khổ đau nhưng không vì thế mà tài năng của ông bị giảm sút Ngược lại, ông xứng đáng là nhà văn nhân đạo sáng ngời, là tấm gương đấu tranh không biết mệt mỏi cho tự do, dân chủ của loài người tiến bộ

Vích-to Huy-go- được coi là “ngọn hải đăng ở đại dương văn học” Ông

là một con người suốt đời cống hiến vì nghệ thuật Ông đến với nghệ thuật từ rất sớm và cũng là người từ bỏ văn chương nghệ thuật khi trút hơi thở cuối cùng Trong suốt cuộc đời cầm bút, ông đã cống hiến hết mình cho nền nghệ thuật Pháp và nhân loại Ở đó, Huy-gô đã gửi gắm những tình cảm thiết tha nhất đối với nhân dân và nhân loại Sự nghiệp sáng tác của ông trải dài trên

Trang 15

nhiều thể loại văn học và văn hóa, chính vì vậy người ta thường gọi ông là

“con người đại dương” Và cũng chính ông là người “đã khuấy bão tố từ đáy

lọ mực” tạo nên một thế kỷ văn học mang tên “thế kỷ của Huygo”

Sự nghiệp sáng tác của Huy-gô được đánh dấu trước hết ở những sáng tác thơ Đó là những sáng tác từ tuổi niên thiếu của ông Năm 1817, Huy-gô

đã tạo được sự bất ngờ cho Viện Hàn lâm Pháp bởi những sáng tác thơ độc đáo của mình Năm 1819, ông đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ phú toàn quốc

Năm 1821, những sáng tác của ông bắt đầu được xuất bản Thơ ông trải dài

trong suốt cuộc đời với tập thơ như: “Đoản thi và ca khúc”(1826), “Những khúc ca Phương Đông” (1829), “Lá thu” (1831), “Tiếng hát buổi hoàng hôn” (1835), “Tiếng nói nội tâm” (1837), “Tia sáng và bóng tối” (1840), “Trừng phạt” (1853), “Mặc tưởng” (1856), “Truyền kì các thế kỉ” (1859-1877), “Năm khủng khiếp” (1872), “Nghệ thuật làm ông” (1877), “Bốn cơn gió của tinh thần” (1881) Đề tài thơ rất phong phú và đa dạng với những rung cảm hồn nhiên của một con tim yêu và khát khao tự do cuộc sống Ngôn ngữ thơ là sự kết hợp giữa những âm điệu trữ tình, trào phúng với anh hùng ca Những vần thơ lãng mạn thể hiện được tài năng bậc thầy của Huy-gô trong việc nhìn cuộc sống và phản ánh vào trong thơ mình như một nhà “họa sĩ” tài ba

Và chính Huy-gô cũng đã làm chấn động kịch trường với những tác phẩm có sức vang Những tác phẩm của ông thường được gọi là những vở

kịch Đram như: “Crômoen” (1827), “Hernami” (1830), “Mariông Đơlomơ” (1831), “Nhà vua vui chơi” (1832), “Mari Tuydo” (1833), “Ruy Blax”

(1838) Tất cả những vở kịch đó đều thể hiện cho sự đấu tranh không biết mệt mỏi của ông cho chủ nghĩa lãng mạn Đặc biệt là sự xuất hiện của vở

“Crômoen” đã chứng minh cho sự toàn thắng của chủ nghĩa lãng mạn,

Huy-gô đã phá vỡ quy tắc tam duy nhất và thể hiện trong kịch của mình tất cả những cung bậc tình cảm, tính chất trong cuộc sống Đồng thời còn có sự kết hợp giữa tính chất trữ tình và tính chất sử thi làm cho những sáng tác có ý nghĩa lớn lao

Trang 16

Đồng thời, Huy-gô còn là một nhà tiểu thuyết thiên tài với những tác phẩm như: “Nhà thờ Đức bà Pari” (1831), “Những người khốn khổ” (1862),

“Những người lao động trên biển” (1866), “Thằng cười” (1869), “Chín mươi ba” (1874) Ở mỗi tác phẩm, Huy-gô đều đi sâu vào mọi ngõ ngách của đời sống con người để gửi gắm những cung bậc tình cảm của mình đối với sự tiến

bộ xã hội Nếu như Nhà thờ Đức bà Pari thức tỉnh nhân dân thì Những người

khốn khổ là sự đấu tranh đề giành lấy cái chủ quan

Với những cống hiến ấy, Huy-gô luôn là một nhà nghệ thuật chiếm vị trí cao trong lòng độc giả Ông chính là “tiếng vọng âm vang của thời đại” là một ngôi sao sáng trong lòng nhân loại

Sự vĩ đại của Huy-gô thể hiện ở những quan niệm của ông đối với sáng tạo nghệ thuật Ông luôn muốn những sáng tác của mình phải vượt lên tất cả, phải nói được cái thiêng liêng, rực rỡ nhưng cũng muôn hình đó là Con Người Huy-gô còn thể hiện sự vĩ đại của mình qua cảm quan nghệ thuật đó chính là sự gắn bó những sáng tạo nghệ thuật với sự tiến bộ và nhân dân

Ông đã để lại một di sản đồ sộ, được xem như một bản anh hùng ca Ôđixê “kỳ lạ, khác thường, mời gọi thám hiểm một thế giới kỳ vĩ, thực, mộng, linh giác thấu trị, tiên tri hòa lẫn vào nhau”

Trong lĩnh vực sáng tác thơ ca, Huy-gô đã sử dụng trí tưởng tượng và liên tưởng kỳ lạ để tạo nên sự độc đáo Huy-gô như một nhà kỹ thuật ngôn từ

đã tạo nên một thế giới thơ du dương và sống động cùng với tính chất trữ tình bay bỗng và một liên tưởng sâu xa

Đồng thời, Huy-gô còn có những cuốn tiểu thuyết thể hiện “một huyền thoại siêu hình và đạo đức, tính chất của một niềm tin… Tiểu thuyết của ông

mở ra một cuộc du hành vào cái vô tận với kích thước khổng lồ của kính viễn vọng” Đặc biệt ông sử dụng bút pháp tương phản và phương thức anh hùng

ca để xây dựng nhân vật

Và cũng chính Huy-gô là một con người luôn lao động miệt mài để cống hiến tài năng của mình cho nghệ thuật Với một nghị lực phi thường và

Trang 17

một tấm lòng luôn hướng về những con người lao khổ, Huy-gô đã chìm sâu trong những sáng tác với một tốc độ làm việc “siêu nhiên”

Huy-gô được coi là “nhà tiên tri của hòa bình thế giới” bởi những sáng tác độc đáo của mình Ông còn có vai trò là một người “dẫn đường cho nhân loại từ cõi tối tăm đến ngày mai sáng lạn” Chính ông là người luôn chú trọng đến những vấn đề của thời đại mình và hướng đến tương lai Lev Tolstoi nhận xét: “Huygo là một nhà tiểu thuyết đứng trên thế kỷ của mình như mẫu mực của ý thức nghệ thuật và ý thức đạo đức hết sức cao cả”

Vích-to Huy-gô còn nổi tiếng với hàng trăm bức họa cùng với một năng lượng sáng tạo dồi dào Ông mãi xứng đáng là con người kỳ vĩ, là

“Ngọn hải đăng” trong dòng sông văn học Pháp và thế giới

Chính bằng những sáng tạo độc đáo của mình Vích-to Huy-gô đã trở thành “hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn” Ông chính là ngôi sao sáng của chân trời thế kỷ “mãnh liệt và cường tráng, thiên tài ấy ngay từ đầu đã khẳng định mình như chủ soái của trường phái lãng mạn” [6; 475] Trong suốt cuộc đời sáng tác không biết mệt mỏi của mình, Huy-gô luôn trung thành với tư tưởng lãng mạn tích cực, đề ra được nhiệm vụ của nghệ thuật là phải phục vụ nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm của mọi sáng tác Chủ nghĩa lãng mạn của Huy-go thấm nhuần trong đó chủ nghĩa nhân đạo, nó như là một tiếng

“vọng âm vang của thời đại”, của cõi lòng đang khổ đau trước cảnh sống mỏi mòn của nhân dân

Những tác phẩm của Vích-to Huy-gô mang tính chân thực rõ nét Ai đó

đã từng nói rằng: “tác phẩm của ông ra đời trên đống gạch đổ nát của ngục Baxti và chấm dứt khi những nghiệp đoàn thợ thuyền sắp sửa tuyên bố rằng mùa xuân sẽ thuộc về họ ngày 1 tháng 5 tại Chicago Victor Huygo là tấm gương phản chiếu cách mạng Pháp” Đó chính là việc, ông ca ngợi sức mạnh đấu tranh của nhân dân, là sự phê phán chế độ sa hoàng Và chính những tác phẩm của ông tiêu biểu cho cuộc đấu tranh không ngừng của nhân dân để đòi lại tự do dân chủ

Trang 18

Là người sống trong một thế kỷ đầy những bão táp và biến động của lịch sử nước Pháp, Huy-gô đã chứng kiến nhiều cảnh sống khổ đau của những kiếp người bé nhỏ trong xã hội Chính vì vây, ông đã dùng ngòi bút của mình

để thể hiện khát vọng và tình yêu thương đối với con người Đến với những sáng tác của Vích-to Huy-gô người đọc nhận thấy được lịch sử của đất nước Pháp thế kỷ XIX Ở đó, tác giả thể hiện ý chí tự do, lòng yêu hòa bình và sự tôn kính đối với nhân dân

Trong những sáng tác của mình, Huy-gô đã phá vỡ quy tắc tam duy nhất của chủ nghĩa cổ điển và phản ánh trong tác phẩm của mình những vấn

đề trong cuộc sống một cách chân thực Bởi theo ông “cái bình thường là cái chết của nghệ thuật” Chính vì vậy, ông thường tạo nên những sự việc mang tính chất phi thường, những khoảnh khắc đáng nhớ nhờ kỹ thuật sử dụng ngôn từ của mình Nhân vật trong sáng tác của Huy-gô thường mang tính xuất chúng nhờ ngòi bút lý tưởng hóa như: Napôlêông, Giave, Cadimôđô,…Ông thường hòa trộn giữa cái bi với cái hài, cái cao quý đẹp đẽ với cái tầm thường thô kệch Ông khắc họa cái xấu đến mức kệch cỡm của hình dáng bên ngoài nhưng tô đậm vẻ đẹp bên trong tâm hồn của nhân vật như: Cadimôđô trong

Nhà thờ Đức bà Pari

Vích-to Huy-gô đến với chủ nghĩa lãng mạn ở tất cả các thể loại: thơ, kịch, tiểu thuyết Và chính những sáng tác của mình, ông đã trở thành

Satôbriăng của thời đại Với những sáng tác thơ: Huy-gô đã thể hiện một trí

tưởng tượng phong phú với những đề tài và ngôn ngữ thể hiện tình yêu thương con người và thiên nhiên tha thiết Những sáng tác kịch thể hiện được

sự chiến thắng của Huy-gô trong việc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cổ điển Ông đã gây được tiếng vang lớn trên kịch trường Pháp và thế giới Tiểu thuyết cũng là một thể loại thể hiện thành công của Vích-to Huy-gô, chính ông là người đã thấy được sức mạnh của quần chúng nhân dân và đi sâu vào trong nội tâm của con người để thấy được những ước muốn đang lớn dần lên trong họ

Trang 19

Về mặt nội dung, những tác phẩm của Huy-gô thể hiện những khát vọng của con người về một xã hội đầy tình yêu thương Huy-gô vượt lên tất

cả để thể hiện ước mơ và hoài vọng của mình về một cuộc sống tốt đẹp Ông vượt qua thế kỷ cổ điển chào đón thế kỷ lãng mạn bằng chính những rung động của tâm hồn mình Chính vì thế, mỗi khi đọc tác phẩm của ông người đọc như thấy được muôn màu cuộc sống nhưng hơn hết nó chính là những khát vọng, những ước mơ về một xã hội hoàng kim đã qua

Với những sáng tạo độc đáo của mình, Huy-gô đã vượt ra khỏi quy tắc của chủ nghĩa cổ điển, hùng dũng sáng tác như một vị tướng lĩnh của chủ nghĩa lãng mạn Chính bằng những sự đổi mới và sáng tạo độc đáo của mình, Vích-to Huy-gô xứng đáng là “ngôi sao sáng của chân trời thế kỷ”, là “hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn”

1.3 Nhà thờ Đức bà Pari- cuốn tiểu thuyết đậm màu sắc lãng mạn

Nhà thờ Đức bà Pari- “tòa nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca” là một kiệt tác

độc đáo của văn hào Huy-gô Chính bằng tài năng bậc thầy của mình, Huy-gô

đã làm sống dậy bức tranh cuộc sống thời Trung cổ một cách chân thực, rõ nét như những gì nó vốn có Chính Vích-to Huy-gô đã vượt qua giới hạn của thời gian và không gian để làm cho tác phẩm của mình có sức vang lớn, thấu tận vào lương tri của nhân loại

Nhà thờ Đức bà Pari là một cuốn tiểu thuyết đậm màu sắc lãng mạn đã

chứng minh cho ngòi bút sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Vích-to Huy-gô Tác phẩm thể hiện được sự thức tỉnh quần chúng nhân dân để họ đấu tranh đòi lại quyền sống cho mình

Trong tiểu thuyết, Vích-to Huy-gô thành công ở mọi phương diện nghệ thuật Chính bằng tài năng thiên bẩm của mình, ông đã tạo nên một thế giới cuộc sống của những con người đầy những bon chen và đau khổ Nghệ thuật miêu tả được sử dụng trong tác phẩm như một nét vẽ khắc sâu hình tượng nhân vật và thiên nhiên Cùng với sự nhạy cảm của tâm hồn nhà thơ, thế giới cuộc sống Pari được hiện lên qua nhiều góc cạnh khác nhau: có khi là một

Trang 20

khung cảnh Pari uy nghi, có khi là những đấu tranh giằng co để giành giật cuộc sống, có khi lại phản chiếu hình ảnh của những điệp khúc tình yêu

Huy-gô còn làm sống dậy cả đêm trường Trung cổ với những nét vẽ tài

ba Đô thành Pari hiện lên như một cung điện thần kỳ, cùng những đêm hội rước Giáo hoàng, những cuồng đãng mê tín, những tên thầy tu phá giới, những kẻ trộm cướp bất lương “những hành khất què cụt, lở loét, vang động những tiếng gào thét, rền rĩ, những tiếng gầm gừ với những cảnh nhà mốc meo, với triều đình kỳ quái của vương quốc tiếng lóng” Đó là tất cả những cảnh sống tối tăm, mù mịt, hoang tàn mà con người phải chịu đựng Nhưng cũng có khi, cảnh sống Pari hiện lên là khung cảnh huyền ảo lung linh với một dàn nhạc ngân vang của tiếng chuông chào đón ngày lễ lớn

Cùng với nó là nghệ thuật xây dựng cốt truyện đặc sắc Tác giả đã sử dụng kết cấu truyện khung, những cốt truyện đan lồng vào nhau tạo nên nét đặc sắc cho tác phẩm Thủ pháp tương phản cũng là một nét đắc sắc trong nghệ thuật để Vích-to Huy-gô xây dựng nên những tình huống và làm nỗi rõ tính cách nhân vật

Mỗi nhân vật trong tác phẩm hiện lên là sự đại diện cho một tư tưởng nào đó của tác giả Nếu như Cadimôđô xấu xí, què cụt, dị hình nhưng có tâm hồn cao thượng, Exmêranđa trong trắng ngây thơ thì phó giáo chủ lại là một con người bỉ ổi và thấp hèn khoác trong mình cái đẹp đẽ, phong độ, uyên thâm của trí thức Ngòi bút lãng mạn của Vích-to Huy-gô đã tạo cho nhân vật những khoảng trống để họ nói về chính mình, về cuộc sống mà họ mà đang phải hứng chịu Và nhiều khi, sự kết thúc cuộc đời của họ là những bi kịch, những khổ đau

Trong tác phẩm, Huy-gô còn xây dựng nên một đề tài tình yêu, đó là những bản nhạc tình trầm buồn trong một xã hội đầy rẫy những bất công Cũng có khi, chính tình yêu đã cho con người vượt qua mọi sự khó khăn trong cuộc sống, giúp họ vững bước trong đường đời Nhưng cũng có khi chính tình yêu đã lấy đi của con người tất cả, kể cả vật chất và danh vọng

Trang 21

Cùng với những nét nghệ thuật trên là việc xây dựng những môtip, Huy-gô đặc biệt thành công ở môtip đám đông Chính ông đã tạo được sức mạnh của quần chúng và của nhân dân trong cuộc đấu tranh giành lấy cuộc sống tốt đẹp Cùng với nó là việc sử dụng bút pháp tạo hình và giọng văn tuyệt đẹp “theo phong cách gotich trong kiến trúc, đã uy nghiêm còn thanh thoát, vừa trần tục lại thơ mộng Hình ảnh không dừng lại ở mức thể hiện đơn thuần vật thể mà luôn đẩy tới ý nghĩa tượng trưng” [3; 12]

Như vây, tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari là một thành công độc đáo

của Vích-to Huy-gô trong việc sử dụng nghệ thuật Tác giả đã thay thế những trật tự của chủ nghĩa cổ điển bằng sự phóng túng, vô trật tự để tạo nên một thế giới nghệ thuật đặc sắc Chính bằng những nét vẽ điêu luyện, những sự kết hợp tài tình, ông đã làm sống dậy thời kỳ Trung cổ đã qua Để lại trong lòng người những giai điệu ngân vang, những tiếng lòng sâu thẳm

Đến với tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari người đọc như bị quyến rũ

bởi một tình yêu thương con người tha thiết Và cũng chính tác phẩm đã mở

ra trong cõi lòng con người những tình cảm mới mang chiều sâu nhân bản Vích-to Huy-gô đã gửi gắm vào trong tác phẩm của mình những tư tưởng có giá trị nhân văn sâu sắc Và ở tận sâu bên trong nó, người đọc lắng nghe được tiếng kêu tha thiết về thân phận con người, về những nỗi khổ đau của con người trước số phận và cả những sự đấu tranh không biết mệt mỏi cho hạnh phúc và tự do

Khi mà xã hội đã mất đi những giá trị cao đẹp, và chính những con người trong xã hội phải hứng chịu hậu quả của nó thì Huy-gô đã ca lên khúc

ca của lòng người để cứu vớt lấy những linh hồn đau khổ

Trước hết là một tiếng nói phê phán xã hội bất công, giáo điều, mê tín

đã đẩy con người đến chỗ u mê Xã hội đó đã không cho con người phát triển được tài năng của mình và luôn gò bó trong một khuôn khổ chật hẹp Chính vì vậy mà nhà thơ “Gringoa” luôn sống trong những ảo tưởng, những mộng mơ

Và cũng chính vì thế mà vị giáo chủ đa tài, uyên thâm lại rơi vào bi kịch,

Trang 22

đánh đổ tất cả chỉ vì dục vọng của bản thân Và cũng có thể vì xã hội đó mà con người quên đi phần “Người” có trong “Cadimôđô”- một con người dị dạng, què cụt, xấu xí như những nét vẽ thô kệch của tạo hóa Một xã hội có những cách giết người man rợ với những giá treo cổ vô hình đã cướp đi mạng sống của không biết bao nhiêu con người vô tội Một xã hội đã dẫm đạp lên hạnh phúc cá nhân của con người Chính vì xã hội đó đã vùi dập tình yêu giữa Cadimôđô và Exmêranđa, đã chôn vùi tình yêu của họ trong khung cảnh bi thương Một xã hội mê tín với nhiều những lễ hội cuồng tín đã kéo con người vào những vòng xoáy trớ trêu Cùng với nó là những luật lệ man rợ, tàn khốc

đã làm cho con người luôn cảm thấy sợ hãi Xã hội ấy đã cướp mất ở con người tình yêu thương và sự sẻ chia Cái đẹp, cái ngây thơ trong sáng của Exmêranđa đã bị cả xã hội ghen ghét và cũng chỉ vì cô là cô gái Bôhêmiêng nên cô đã không được đón nhận như những con người khác mà trái lại người

ta luôn tìm cách hãm hại cô

Trong tác phẩm còn là lời phê phán bản chất của con người Dường như sống trong xã hội đó, bản chất bên trong của con người đã bị hoen ố Trước hết là sự thờ ơ của tất cả những con người và tiếp đến là sự thờ ơ của chính những con người đáng ra phải mẫu mực nhất Người đọc bắt gặp Phêbuýt một con người bất nhân, nhẫn tâm, ghen tuông, độc ác Nhưng cũng cảm thấy tiếc thương cho Gringoa một con người trí thức nhưng không có hoài bão, cũng bị chôn vùi trong những ảo mộng hảo huyền Dẫu biết rằng cũng có lúc chàng ý thức được cầm phải sống đúng bản chất của mình nhưng cũng đã quá muộn Dường như, Gringoa đã bước qua cuộc đời của mình nhưng khi nhìn lại đã thấy mình vừa bỏ qua những điều hằng tìm kiếm Đó còn là sự độc ác, tàn bạo của một vị phó giáo chủ Thông minh- quyền uy nhưng vì những dục vọng thấp hèn Phrôlô đã đánh mất tất cả kể cả danh dự của mình Dường như, sống trong xã hội đó tất cả những con người đều có trái tim khô cằn và phó mặc cho số phận, không biết vươn lên trong cuộc sống

Trang 23

Nhà thờ Đức bà Pari còn đề cao hình hảnh những con người nhỏ bé

nhưng có tâm hồn vĩ đại Bằng trí tưởng tượng phong phú và quan niệm về cái tầm thường của phương pháp sáng tác lãng mạn, Huy-gô đã sáng tạo nên một nhân vật lĩnh hết mọi tật nguyền của xã hội nhưng lại có một tâm hồn cao đẹp Đó chính là Cadimôđô- một con người xấu xí, một gã kéo chuông nhà thờ mà có lúc người ta quên mất sự tồn tại của chàng Chàng biết trả ơn cho người cưu mang mình mặc dù đã có lúc chính Phrôlô đã làm cho Cadimôđô tổn thương Và đặc biệt, Cadimôđô có một tình yêu chân thành đối với Exmêranđa, chàng đã giúp Exmêranđa vượt qua những cuộc rượt đuổi của bọn người xấu, đã biết ở bên cạnh cô khi cô cảm thấy cô đơn nhất, biết cảm thông cho cô khi cô cảm thấy mình có lỗi Có thể nói, Cadimôđô chính là một hình mẫu tâm hồn mà con người cần phải học tập Thế nhưng kết thúc cuộc đời chàng lại là những khổ đau, tang thương, đó phải chăng là cái kết đầy bi kịch Xây dựng hình tượng nhân vật Cadimôđô, Huy-gô muốn gửi gắm một thông điệp nhân đạo đến loài người: hãy biết yêu thương những cảnh đời đau khổ trong xã hội bởi họ đang cần sự sẻ chia

Viết nên Nhà thờ Đức bà Pari Vích-to Huy-gô như muốn quên đi xã

hội bất công và muốn xây dựng nên một xã hội đầy tình yêu thương Chính vì vậy đọc tác phẩm của ông người đọc cảm nhận được tinh thần nhân đạo thấm sâu trong từng câu chữ Nó mãi là khúc ca của loài người, của khát vọng, của ước mơ về một xã hội công bằng, đầy sự sẻ chia

Bằng tài năng sáng tác bậc thầy của mình, Vích-to Huy-gô đã tạo nên một bức tranh cuộc sống Pari chân thực, rõ nét qua ngòi bút miêu tả độc đáo

và ngôn ngữ điêu luyện của chủ nghĩa lãng mạn Cùng với nó là những nét vẽ

về những cảnh sinh hoạt, những cảnh đời nghèo khổ trong xã hội Đến với

Nhà thờ Đức bà Pari người đọc như được sống cùng những trang lịch sử

Pháp, được tắm mình trong lễ hội truyền thống xứ phồn hoa và lắng nghe những tiếng nhạc lòng sâu thẳm

Trang 24

Chính tác phẩm đã dựng lại hình ảnh về đô thành Pari, về lịch sử Pháp thế kỷ XV với những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, luật pháp, nghệ thuật

Đó chính là một “tòa nhà thờ lớn đứng sừng sững giữa tác phẩm như một người khổng lồ bằng đá, hòa trộn linh hồn ít nhiều huyền bí với linh hồn các nhân vật khác”[3; 6]

Xuyên suốt tác phẩm, người đọc nhận ra được bức tranh cuộc sống sinh hoạt của nhân dân Pari Đó là việc tham gia những ngày hội, ngày lễ, trong những trò mê tín cuồng đãng Cũng chính vì bị ảnh hưởng của môtip đám đông, Vích-to Huy-gô đã tạo nên những khung cảnh sinh hoạt sôi động Đó là những cảnh tham gia ngày hội chiến thắng với những tiếng chuông ngân vang được hiện lên từ đầu tác phẩm Đó là cảnh những ngày hội hóa trang hay những cảnh trộm cắp của những kẻ ăn mày xấu số Và trên quảng trường Pari, tác giả còn làm nổi bật cảnh sinh hoạt ngày hội Carnaval Cho người đọc thấy được hàng loạt những bức tranh cuộc sống của nhân dân Pari Tất cả được hiện lên nhờ sự sáng tạo độc đáo, sự không chấp nhận cái tầm thường, giản đơn đã mang lại kết quả cho những sáng tác của Vích-to Huy-gô

Trong tác phẩm, Vích-to Huy-gô còn hướng ngòi bút của mình vào việc miêu tả cuộc sống của Cadimôđô Ngay từ khi mới sinh ra cho đến ngay thời điểm bấy giờ, anh chàng đó vẫn là một gã kéo chuông nhà thờ không hơn không kém Công việc của chàng chỉ có thế thôi, nhưng chính bằng tình yêu thương con người tha thiết, Vích-to Huy-gô như muốn đề cao sự xuất hiện và giá trị của Cadimôđô trong xã hội Anh chính là một biểu tượng tinh thần mà con người phải hướng đến

Và ở trong tác phẩm còn là những nét vẽ về cuộc đời, về cảnh sống của

cô gái Bôhêmiêng Sự xuất hiện của cô đã làm cho cả đô thành Pari căm ghét Qua đó, chúng ta cũng thấy được rằng: mặc dù con người sống trong những ngày lễ hội, những sự kiện lớn nhưng tâm hồn của họ lại cằn khô và tàn nhẫn

Bằng chính tài nằng của ngòi bút lãng mạn, Vích-to Huy-gô đã sáng tạo nên những bức tranh cuộc sống chân thực Sự đan lồng giữa những khung

Trang 25

cảnh sinh hoạt tạo nên những nét vẽ hết sức chân thực cho tác phẩm Giữa một phố xá phồn hoa, đô hội cô gái Bôhêmiêng xuất hiện với những điệu múa hoang dã trên đường phố đã làm cho mọi người phải đàm tiếu Rồi cả những

lễ hội của người điên, những buổi công diễn của Gringoa và cuộc sống của những người ăn mày với hàng loạt những luật lệ man rợ,… đã làm cho bức tranh cuộc sống thêm phần sinh động hơn

Trong tác phẩm có khi Huy-gô cũng tạo nên những nét vẽ chân thực khi miêu tả tình yêu giữa Exmeranđa với Phêbúyt, Phrôlô, Cadimôđô Những mối tình đó hiện lên với những tình tiết khác nhau Nhưng cũng chính những mối tình đó đã làm cho khung cảnh sinh hoạt thêm sinh động hơn Tất cả cũng

để làm nền cho sự xuất hiện tình yêu giữa hai con người xấu số khi đã quá muộn màng

Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, người đọc luôn bắt gặp những cảnh đô thành Pari với đông đúc những con người Họ cứ đi lại, cứ sống như những con người vô cảm, không tình yêu thương mà ngược lại còn lấy làm niềm vui khi chiếc giá treo cổ cứ lần lượt cướp đi mạng sống của hàng vạn con người Hình ảnh cái giá treo cổ là một hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong tác phẩm Dường như nó cũng vô tình như chính những con người trong xã hội vậy Cảm thông trước những cảnh đời bất hạnh ấy, Vích-to Huy-gô đã giành cho

họ những tình cảm thiết tha nhất Vẽ nên bức tranh cuộc sống ấy, người đọc cũng cảm nhận được nỗi đau đang xuyên thấu trong trái tim của Huy-gô Ông như muốn nhắn nhủ với con người hãy biết sống và yêu thương nhau Con người cần có niềm tin và phấn đấu để làm cho xã hội này tốt đẹp hơn

Nhà thờ Đức bà Pari như một hồi chuông cảnh tỉnh, như một lời nhắc

nhở tất cả mọi người hãy biết chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau để cho cuộc đời này thêm phần ý nghĩa Và chính con người cần biết tránh xa những hủ tục, mê tín,… vì nó là liều thuốc u mê chôn chặt tình người và tình đời

Trang 26

Chương Hai: Yếu tố lãng mạn trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari

2.1 Tình yêu là đề tài quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn

Tình yêu là tiếng tơ đàn muôn điệu của những con tim ngày đêm thổn thức, bởi nó là đôi cánh nhẹ nâng con người vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời Và cũng chính những bản nhạc tình ấy sẽ làm cho cuộc sống này thêm phần tươi đẹp và hạnh phúc Đi theo chủ nghĩa lãng mạn, Vích-to Huy-gô cũng đã sử dụng đề tài tình yêu như một nốt nhạc lòng để giúp con người thấy được ý nghĩa cuộc sống Tình yêu ấy, nó thuộc về thế giới nội tâm, thế giới của trái tim và những rung động, cái mà chủ nghĩa lãng mạn luôn đề cao Và trong sáng tác của mình, Huy-gô đã đi sâu vào thế giới ấy để mang lại cho đời những sáng tạo độc đáo

Với đề tài tình yêu, tác giả đã tạo nên những kết cấu tình yêu mang nhiều bất hạnh khổ đau Trên nền không gian Trung cổ tình yêu xuất hiện như một tiếng tơ đàn làm dịu đi không khí vốn căng thẳng của xã hội Thế nhưng, những mối tình ở đây không lãng mạn như tình yêu của “Rômêô” và “Juliet” trong vở kịch cùng tên của “Sêcxpia” mà nó là những vòng tròn tình yêu

“mang tới nhiều bất hạnh và khổ đau” [3; 9]

Trong tác phẩm, Vích-to Huy-gô đã tạo nên những kết cấu tình yêu khác nhau để nói về một hiện thực xã hội Những kết cấu tình yêu tay ba, tay

tư đã làm cho những câu chuyện tình yêu càng bi thảm và khổ đau hơn Họ cứ

đi tìm nhau, cứ đuổi bắt nhau nhưng cuối cùng trong số họ không một ai có được hạnh phúc trọn vẹn Mà trái lại họ còn ngã vào những hố sâu của ái tình

để khi nhìn lại tất cả họ đã thấy mình từng bỏ qua những điều hằng tìm kiếm

Bằng tài năng sáng tác của mình, Vích-to Huy-gô đã mang đến cho người đọc những khúc nhạc tình trầm buồn Dường như, sắc đẹp và âm mưu

Trang 27

đã làm thay đổi rất lớn hiện thực xã hội Để rồi những con người đó vẫn yêu

và lún sâu vào vòng xoáy nghiệt ngã cuộc đời Chẳng có ai hạnh phúc trong tình yêu nhưng họ vẫn cứ đi tìm để như làm chỗ neo đậu cho tâm hồn mình khi đã quên đi tất cả

Nhân vật trung tâm của những mối tình là nàng Exmêranđa xinh đẹp,

sự xuất hiện của nàng đã làm cho nhiều trái tim thổn thức bởi vẻ đẹp gợi tình của mình Không nguồn gốc, không người thân, cô gái Bôhêmiêng cứ đi lại trên đường phố Pari với những điệu múa man dại đã làm cho những kẻ si tình phải nhớ thương Và cũng chính từ đó, Huy-gô đã tạo nên những vòng tròn tình ái, những sự đuổi bắt đầy khổ đau trong tình yêu

Giữa thành phố Pari đầy những mê tín, cuồng đãng, xấu xa, những mối tình khổ đau đã tạo nên nên một vòng tròn quanh quẩn Phrôlô, Exmêranđa, Phêbuýt cứ mãi đi tìm nhau nhưng không bao giờ họ gặp nhau tại cùng một tâm điểm Phrôlô- vị giáo chủ sùng đạo luôn chạy theo tình yêu để mong tìm hạnh phúc lứa đôi Ông quyết bỏ hết tất cả, bỏ hết những tài năng và địa vị của mình để có được Exmêranđa và cùng nàng sống những ngày hạnh phúc bên nhau Nhưng nàng Exmêranđa lại chỉ yêu mình Phêbuýt- một viên sĩ quan thanh tú với địa vị cao sang và một vẻ bề ngoài “bóng bẩy” Nhưng tiếc thay cho nàng, Phêbuýt chỉ là một con người “đàng điếm”, bội bạc

Trong vòng tròn tình yêu đó, họ cứ đuổi bắt nhau, cứ mãi hi vọng được gần nhau, cứ muốn là nô lệ trong tình yêu nhưng dường như họ đã không nhận được sự đáp trả Mối tình tay ba đã tạo nên một sự quẩn quanh không hi vọng Trong khi Phrôlô vẫn luôn dõi theo những bước chân của Exmêranđa, vẫn đi theo cuộc đời cô, vẫn “nhìn cô bằng con mắt diều hâu, từ lâu nó lượn

lờ trên tít trời cao quanh con sơn ca tội nghiệp đang núp trong đám lúa, từ lâu

nó lẳng lặng thu hẹp vòng bay khủng khiếp, rồi đột nhiên nhào xuống con mồi như tia chớp và quắp nó lủng lẳng trong móng nhọn” [3; 293] Thì Exmêranđa vẫn thầm gọi tên Phêbuýt “Ôi Phêbuýt của em”, vẫn chỉ yêu một mình chàng

và trái tim không hề thay đổi

Trang 28

Bằng tài năng kiệt xuất của mình, Huy-gô đã xây dựng nên mối tình tay ba đầy bi kịch Đó là mối tình đẩy con người vào những khổ đau, tuyệt vọng, mất mát Đồng thời tác giả còn muốn gửi gắm những thông điệp sâu xa hơn về một xã hội thấm đẫm tình người, tình đời

Khi tình yêu tay ba đang diễn ra giữa bao nhiêu sự khổ đau thì Cadimôđô xuất hiện Mặc dù hắn xấu xí, mặc dù hắn là nét vẽ thô kệch của tạo hóa nhưng hắn cũng biết rung động, cũng biết quan tâm và cũng biết yêu như bao con người khác Giờ đây, Cadimôđô thấy cảm động vì tấm lòng, say

mê vì sắc đẹp và đồng cảm vì số phận Chàng cũng yêu Exmêranđa- một tình yêu trinh nguyên, trong sáng Tất cả những con người đó cứ chạy theo tình yêu của mình trong một vòng tròn nghiệt ngã đầy bi thương

Mối tình tay tư- một vòng tròn đuổi bắt đầy gian nan, đã tạo nên nét vẽ tinh tế trong việc xây dựng đề tài tình yêu Mỗi giai điệu của nó như một dây thừng riết chặt số phận của từng nhân vật Trong khi phó giáo chủ chạy theo Exmêranđa để thỏa mãn lòng ham muốn, Cadimôđô lặng lẽ đi bên nàng thì nàng lại chỉ yêu mình Phêbuýt- một viên sĩ quan đã có người yêu thuộc tầng lớp quý tộc Bốn con người đó không bao giờ cùng chung một nhịp đập cả nhưng họ vẫn cố gắng đuổi bắt đến cùng Và vòng tròn định mệnh đầy khổ đau ấy chính là một trong những tình tiết làm tỏa sáng giá trị cho tác phẩm

Chính kết cấu tình yêu tay tư là một nghệ thuật xây dựng tình yêu độc đáo, giúp người đọc thấy được chiều sâu tâm lý của con người Đồng thời giúp người đọc thấy được những quan hệ xã hội chằng chịt Những vòng tròn không lối thoát cứ mê hoặc con người để rồi họ tự đẩy mình vào vòng xoáy của cuộc đời Phải chăng, tình yêu là một trò chơi không lời giải đáp Nó cũng giúp con người tìm được hạnh phúc cho mình nhưng cũng làm cho con người đau khổ Kết thúc của mối tình tay tư đó là những khổ đau, bi ai Người đẹp-

cô gái Bôhêmiêng bị treo cổ, gã thầy tu bị chính đứa con nuôi của mình giết chết, còn Cadimôđô cũng đã ra đi cùng xác chết của người thương

Trang 29

Giữa một không khí Pari đầy những khổ đau, tình yêu như một nốt nhạc nhẹ ru con người Nó làm cho Cadimôđô cảm thấy mình có ý nghĩ hơn giữa cuộc đời và tạo cho Phrôlô niềm đam mê khoa học, giúp cho Exmêranđa quên đi cuộc đời đầy khổ đau

Chính bằng tài năng nghệ thuật, Vích-to Huy-gô đã xây dựng thành công kết cấu tình yêu Những cuộc tình ông xây dựng không đơn thuần là những mối tình đơn phương mà nó còn là sự xuất hiện của nhiều những cuộc rượt đuổi trong tình yêu Nó phức tạp và có nhiều diễn biến như những vở kịch tình yêu nhưng kết thúc đều là những bi thương Đồng thời ở trong đó, tác giả còn gửi gắm những thông điệp về tình yêu, về hạnh phúc Đó chính là một thành công trong việc xây dựng nên chủ nghĩa lãng mạn

Cùng với những vòng tròn tình yêu nghiệt ngã, Vích-to Huy-gô còn tạo nên những bản tình ca buồn về tình yêu tan vỡ

Giữa một không gian Pari uy nghiêm và sừng sững, trong một thành phố lãng mạn và cổ kính, trầm lắng và đắm say đã diễn ra những câu chuyện tình nghiệt ngã giữa những con người, “khi mà ranh giới giữa tình yêu và sự thù hận chỉ là một sợi tơ rất mỏng manh” Họ cứ đi theo tiếng gọi con tim của mình, mặc dù có lúc họ biết được sự theo đuổi của mình rồi cũng khổ đau Nhưng không ai trong số họ chịu từ bỏ, và cũng không ai đủ tỉnh táo để tìm quên Nhưng vẫn có trái tim- một sợi tơ lòng biết rung cảm, biết yêu thương đôi khi vì thù hận mà mù quáng vô cùng

Trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari, Vích-to Huy-gô đã tạo nên

những bản tình ca buồn hòa cùng những dòng người đông đúc Nhưng không khi nào con người nhận lấy được hạnh phúc mà kết thúc thường là những bi kịch Tình yêu trong tác phẩm bắt đầu từ sự xuất hiện của cô gái Bôhêmiêng

Cô chính là người đã làm cho trái tim của những kẻ si tình xao động, chính cô

là người phải chịu khổ đau trong tình yêu

Dường như, chỉ vì yêu đương mù quáng mà nhà tu hành quyết định bỏ

đi tất cả những gì mình có được để đến với tình yêu Giữa bao nhiêu sự đông

Trang 30

đúc của nhân dân Pari “phó giáo chủ chỉ nhìn vào một khúc lòng đường: quảng trường Sân nhà thờ; trước tất cả đám đông này, ông chỉ thấy có một khuôn mặt: cô Bôhêmiêng… Đó là cặp mắt chăm chú nhưng hết sức xốn xang, sôi động Cứ nhìn vẻ bất động im lìm của toàn thân ông ta, thỉnh thoảng lại bất giác khẽ run lên, như thân cây trước gió, cứ nhìn vẻ cứng đơ của đôi khuỷu tay còn hóa đá hơn cả chiếc lan can ông đang tì lên, cứ nhìn nụ cười chết cứng đơ làm co mặt mày, có thể nói ở Clôđơ Phrôlô chỉ còn cặp mắt đang sống” [3; 228] Thế là từ đây, đôi mắt ông cứ dõi theo nàng, một cái nhìn rực lửa tình và một trái tim yêu Exmêranđa say đắm Chính vì vậy, ông cảm thấy đau đớn khi thấy Phêbuýt chiếm hữu người con gái mình yêu Không chấp nhận nỗi sự thực, Phrôlô đã quyết định giết chết Phêbuýt Chiếc dao định mệnh từ đó đã làm cho cô gái Bôhêmiêng phải chịu nhiều khổ đau Còn phó giáo chủ, ông vẫn luôn sống trong hi vọng và mong chờ được gần Exmêranđa Mặc dù có lúc, Phrôlô muốn tìm quên đi tất cả nhưng “ham mê” vẫn “dâng lên, tràn bờ, đào xới tâm can, bật thành nức nở bên trong và quằn quại âm thầm…” [3; 244] Chính vì vậy, ông đã dùng hết mọi thủ đoạn để có được nàng kể cả bắt cóc và uy hiếp Nhưng không khi nào ông nhận được lời yêu thương mà đó luôn là những lời xỉ vả, mắng nhiếc như: đồ quỷ giữ, quân giết người,… Cũng có lúc, Phrôlô đã quyết định bỏ quên tất cả những địa vị

và tài năng của mình để được cùng Exmêranđa sống những hạnh phúc bên nhau Nhưng tất cả chỉ là hi vọng, chỉ là khổ đau Cho đến khi , Exmêranđa ở ngõ cụt của cuộc đời cô vẫn không hề chấp nhận tình yêu của một kẻ si tình, tàn nhẫn, một kẻ đã cướp đi tình yêu của chính cô

Đó còn là mối tình đầy tuyệt vọng của Exmêranđa với viên sĩ quan

“tuấn tú”, nàng yêu Phêbuýt, yêu vẻ bên ngoài sáng bóng của hắn nhưng chưa khi nào nàng nhận được tình yêu Kể cả trong những lúc khổ đau nhất, nàng vẫn luôn hướng về tình yêu của mình, nàng yêu Phêbuýt hơn chính bản thân mình Nhưng cuối cùng kẻ xấu xa đó chỉ đến và cướp mất vẻ trong sáng từ nàng để thỏa mãn lòng ích kỷ Rồi hắn cũng đi tìm hạnh phúc và đánh bóng

Trang 31

địa vị của mình mà không hề mảy may thương hại nàng Kể cả lúc, Cadimôđô nói với hắn là cô gái Ai Cập đang đợi thì hắn vẫn “chửi đổng thúc ngựa chạy” Điều đó để cho thấy rằng, dường như Exmêranđa đã trao nhầm trái tim cho một kẻ vô tâm, một kẻ chỉ biết thỏa mãn đam mê dục vọng của mình Vì thế tình yêu đó cũng rời vào bi thương, đau khổ

Khúc nhạc tình yêu rung lên giữa một nền không gian lãng mạn, trong một trái tim rạo rực nhưng rồi nó cũng khổ đau Không một ai được hạnh phúc, không một ai được sánh bước bên nhau Còn nàng Exmêranđa như cảm thấy tất cả đã tan biến, bao ngày cô hi vọng tình yêu đến và sẻ chia cùng mình nhưng cuối cùng “hắn” đã quay gót ra đi không một lời từ biệt Đau đớn cho bản thân mình, Exmêranđa trở nên gắt gỏng, trút giận vào người Cadimôđô Khi tình yêu đã tan vỡ, trái tìm nàng đã sống trong khổ đau

Cũng mang trong mình một trái tim biết rung động, Cadimôđô đã giành cho Exmêranđa một tình yêu, một bản nhạc lòng trữ tình đắm say Đó là một mối tình chân thành tha thiết Nhưng vì vẻ bề ngoài xấu xí của mình, chàng đã không nhận được bất cứ một sự đáp trả nào Cũng có lúc, cô gái Bôhêmiêng vẫn nhớ tới chàng khi đã dần quên đi Phêbuýt Nhưng không khi nào chàng được cô đón nhận như một kẻ tình si mà lúc nào cũng là một sự hắt hủi Xây dựng nên mối tình đơn phương, Vích-to Huy-gô đã tạo nên một khúc nhạc tình trầm buồn đầy những khổ đau Và tình yêu của họ cũng là một bản tình

ca tan vỡ giữa bao nhiêu sự khổ đau của cuộc đời

Giữa thành phố Pari tráng lệ những mối tình đau khổ như những tơ đàn rung lên tạo thành một bản tình ca buồn Cũng có lúc chính tình yêu ấy đã đưa con người vào thế giới của yêu thương, của hi vọng Nhưng rồi cũng có lúc chính nó lại dẫn con người đến ngõ cụt của cuộc đời Mặc dù trái tim họ cũng biết hi vọng, cũng biết yêu thương nhưng vì tình yêu mù quáng, họ đã chạy theo những đam mê cá nhân để rồi phải hứng chịu những nỗi đau

Xây dựng nên bản tình ca buồn là một thành công độc đáo của Huy-gô trong việc xây dựng đề tài tình yêu Chính ông, bằng ngòi bút tài năng của

Trang 32

mình đã tạo nên những cung tình u uẩn, những câu chuyện tình bi thương Bằng nghệ thuật phân tích tâm lý, Vích-to Huy-gô đã xây dựng rất thành công mọi góc cạnh của tình yêu, đã cho người đọc thấy được những khổ đau trong cuộc đời

Xây dựng nên bản tình ca tan vỡ của tình yêu, Vích-to Huy-gô muốn gửi gắm đến bạn đọc những thông điệp lớn lao hơn Ông như đang thức tỉnh con người khỏi những u mê và mông muội để mong con người tìm được hướng đi đúng đắn cho cuộc đời mình Mong con người hãy sống biết yêu thương và chia sẻ để cuộc đời này, tình yêu này tìm được bến đậu bình yên

Trong bản tình ca ấy, Vích-to Huy-gô đã ca ngợi những tâm hồn yêu và biết yêu chân thành

Khi xây dựng nên đề tài tình yêu, Vích-to Huy-gô không những nói đến những vòng xoáy nghiệt ngã, những tan vỡ khổ đau trong tình yêu mà ông

còn đề cao những tâm hồn yêu và biết yêu say đắm Nhà thờ Đức bà Pari

chính là khúc nhạc tình lãng mạn, một bản đàn tình yêu ngân vang Ở đó, tác giả đã kích bọn quý tộc và đề cao tấm lòng cao thượng, trong sáng của những con người bình dân Và đặc biệt, ông ca ngợi những trái tim yêu và biết yêu tha thiết Có thể nói, tác giả đã khai thác tình yêu của con người trên mọi phương diện để nó thể hiện được muôn màu của xã hội Đó là những tâm hồn đẹp, cao cả, mặc dù yêu trong khổ đau nhưng cũng đã trở thành mục đích sống cho con người Đó chính là hai trái tim biết yêu: Cadimôđô và Exmêranđa

Trong một nền không gian đầy những cạm bẫy và khổ đau, Vích-to Huy-gô đã cho người đọc thấy được những cung tình say đắm mà Cadimôđô giành cho Exmêranđa Đó chính là một mối tình ám ảnh đến đau đớn, nó làm rung động trái tim của hàng vạn người đọc bởi sự chân thành mà gã kéo chuông có được Cadimôđô là một cái tên hội tụ với những nét “điêu khắc” thô kệch của tạo hóa, là một “con khỉ” giữa xã hội loài người Hắn là một thằng gù xấu xí, vừa què lại vừa chột Từ nhỏ đã bị bố mẹ bỏ rơi nên được

Trang 33

phó giáo chủ mang về nuôi và trở thành một gã kéo chuông nhà thờ Hắn sống hoang dại, trơ lỳ, tưởng như trái tim là một sa mạc khô cằn, không còn biết rung động nữa Vậy mà, nó đã biết yêu, một tình yêu chân thành, say đắm Hắn đã luôn mang cho người mình yêu những gì tốt đẹp nhất, dẫu hắn cũng biết rằng người ta không yêu mình

Ngay từ những điệu múa man dại của cô gái Bôhêmiêng, ngay từ lúc hắn đi cướp Exmêranđa về cho chủ nhân thì cũng từ đó trái tim hắn đã biết rung cảm Cadimôđô biết khóc, biết hận thù và biết yêu, chàng đã đi đến tận cùng những cảm xúc của loài người

Dường như, tác giả đã để cho nhân vật được thể hiện tình yêu như những con người bình thường khác để nhân vật cảm nhân được ý nghĩa giữa cuộc đời này Cadimôđô vẫn biết rằng, Exmêranđa chỉ yêu mình Phêbuýt thôi, nhưng chàng vẫn cố gắng theo đuổi, cố gắng quan tâm Tình yêu của chàng được thể hiện thật đẹp khi chàng cứu Exmêranđa khỏi đài treo cổ Điều đó chứng tỏ Cadimôđô không muốn người mình yêu phải chết đi vì những lời buộc tội tàn nhẫn nên chàng đã hành động như tấm lòng của vị Đức chúa cao sang Mặc dù chàng là một con người “khốn khổ” nhưng chàng vẫn muốn bảo

vệ một con người “tị nạn” điều đó cho thấy sự cao thượng trong chàng Tình yêu mà Cadimôđô giành cho Exmêranđa là một tình yêu đẹp, đó không phải

là những thèm muốn hay dục vọng cá nhân mà đó là sợi tình êm dịu, chân thành Khi cứu được Exmêranđa, khi hai người đã đối diện nhau, Cadimôđô

đã thấy hơi lo lắng, có khi lại “bần thần trước vẻ e thẹn” nhưng cũng có lúc buồn rầu Hắn đã dành cho Exmêranđa những thứ tốt nhất mà hắn có kể cả thức ăn và đệm giường Chính tấm lòng của nó đã làm cho Exmêranđa cảm thấy xúc động Câu nói làm cho chúng ta cảm thấy được sự khổ đau của Cadimôđô là: “Tôi làm cô sợ Tôi xấu lắm phải không? Cô đừng nhìn tôi nữa

Chỉ nghe tôi nói thôi” [3; 330] Thật đau khổ cho một trái tim yêu chân thành,

trái tim của nó cũng cao sang lắm chứ nhưng vì tạo hóa đã không cho nó được

Trang 34

cái vẻ bề ngoài nên nó đã luôn cảm thấy khổ đau Và giờ đây khi nó đang yêu,

nó cũng cảm thấy khổ đau cho cuộc đời mình

Nhiều lúc, Cadimôđô muốn được ngắm người mình yêu nhưng lại sợ

cô gái buồn Nhưng những lời nói từ tận đáy lòng của Cadimôđô đã được cô gái Bôhêmiêng chia sẻ Vậy là họ đã có những giây phút hạnh phúc bên nhau

Họ ngắm nhìn nhau, họ nói chuyện với nhau, chia sẻ cùng nhau

Yêu Exmêranđa, Cadimôđô luôn cảm thấy tôn trọng và yêu thương cô,

nó không vụ lợi, không đê hèn Khi được Exmêranđa dẫn vào trong phòng, Cadimôđô đã nói: “Không, không, con cú không vào trong tổ sơn ca” [3; 332] Qua đó để cho thấy được tấm lòng yêu cao cả của Cadimôđô

Tình yêu chân thành của Cadimôđô còn được thể sâu sắc hơn khi hàng ngày nó vẫn lo lắng và bảo vệ cho cô gái Cadimôđô chống lại thế giới những người ăn mày để bảo vệ cuộc sống tự do cho Exmêranđa, chống lại người nuôi dưỡng mình để cho cô được thanh thản Và cũng đã có lúc để vừa lòng Exmêranđa, nó đã đứng đợi hằng đêm để mong gọi được Phêbuýt lên cho nàng Và khi không thuyết phục được Phêbuýt, Cadimôđô đã cảm thấy có lỗi Qua hành động đó, cho người đọc thấy được tính chất cao thượng của tình yêu Chính Cadimôđô đã biết hi sinh hạnh phúc cá nhân của mình để mang hạnh phúc đến cho người mình yêu Và trong xã hội lúc bấy giờ, điều đó là một thứ rất cần thiết

Chính tình yêu chân thành cứ lớn dần lên trong con người Cadimôđô nên hắn đã chấp nhận đánh đổi tất cả để sống thật với tình yêu của mình Hắn quyết định giết chết người đã cưu mang mình để giải thoát cho người mình yêu Và khác với tên vô lại, bất nhân Grigoa, Cadimôđô cảm thấy đau khổ khi Exmêranđa chết đi Và cũng chính từ đó, nó đã kết liễu cuộc đời mình bên xác chết của Exmêranđa Hai năm sau đó, người ta phát hiện ra xác chết của hai trái tim yêu chân thành: “Khi người ta định gở ra khỏi bộ xương nó đang

ôm chắt, nó liền tan thành bụi” [3; 452] Vậy là kết thúc một bản nhạc tình

Ngày đăng: 09/05/2022, 00:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
2. Lê Huy Bắc (chủ biên), Vích to Huy-gô và những người khốn khốn khổ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vích to Huy-gô và những người khốn khốn khổ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Nhị Ca (dịch, 2010), Nhà thờ Đức bà Pari, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thờ Đức bà Pari
Nhà XB: Nxb Văn học
4. Lê Nguyên Cẩn (tuyển chọn và giới thiệu, 2002), Hợp tuyển văn học châu Âu- tập 2, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển văn học châu Âu- tập 2
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
5. Minh Chính (2002), Văn học Phương Tây giản yếu, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Phương Tây giản yếu
Tác giả: Minh Chính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2002
6. Đặng Anh Đào (2006), Văn học phương Tây, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phương Tây
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
7. Đặng Anh Đào (2003), Víc to Huy-gô cuộc đời và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Víc to Huy-gô cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
8. Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi, (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
9. Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm (1985), Văn học lãng mạn và văn học hiện thực Phương Tây, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn và văn học hiện thực Phương Tây
Tác giả: Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
10. Đổ Đức Hiểu (chủ biên, 2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Nhà XB: Nxb thế giới
11. Lê Đình Kỵ (1998), Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Phương Lựu (2008), Lý luận văn học- tập 3 : Tiến trình văn học, Nxb Đại học Sư phạm- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học- tập 3: Tiến trình văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm- Hà Nội
Năm: 2008
13. Vũ Tiến Quỳnh (tuyển chọn, 1997), Phê bình, lý luận văn học, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình, lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
14. Phùng Văn Tửu (biên soạn, 1978), Vic to Huy-gô, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vic to Huy-gô
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Phùng Văn Tửu, Lê Hồng Sâm (chủ biên, 2005), Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX- tập II, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX- tập II
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w