Và đấy cũng là cuộc hành trình truy nguyên bản thể với biết bao dằn vặt đớn đau, biết bao giằng xé giữa chối bỏ hay chấp nhận, vùng vẫy hay cam chịu… Từ chỗ tự ý thức về việc phải mang n
Trang 1KHOA NGỮ VĂN -
NGÔ THỊ ÁI TUYỀN
YẾU TỐ BI KỊCH
TRONG TIỂU THUYẾT VÀ KHI TRO BỤI
CỦA ĐOÀN MINH PHƯỢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
YẾU TỐ BI KỊCH
TRONG TIỂU THUYẾT VÀ KHI TRO BỤI
CỦA ĐOÀN MINH PHƯỢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S Phạm Thị Thu Hương
Người thực hiện
NGÔ THỊ ÁI TUYỀN
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng: Đây là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo – Th.S PhạmThị Thu Hương
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình này
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
NgôThị Ái Tuyền
Trang 4Trang đầu tiên của khóa luận, em xin dành để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo – Th.S PhạmThị Thu Hương – người đã tận tình hướng dẫn , giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn – Trường Đại học sư phạm Đà Nẵng đã giảng dạy trong suốt 4 năm qua Và xin cảm ơn tập thể lớp 10CVH2 với những đóng góp và ý kiến, chia sẽ đã giúp
em có thêm tư liệu để xây dựng khóa luận này
Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kinh nghiệm và năng lực bản thân còn hạn chế nên khóa luận không khỏi những thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn Xin trân trọng cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013
Sinh viên NgôThị Ái Tuyền
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Bố cục đề tài 8
Chương 1 YẾU TỐ BI KỊCH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI 9
1.1 Khái niệm bi kịch 9
1.2 Các dạng thức bi kịch 12
1.3 Yếu tố bi kịch trong văn học Việt Nam sau 1975 16
Chương 2 CÁC DẠNG THỨC BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT
VÀ KHI TRO BỤI 20
2.1 Bi kịch tha hương 20
2.2 Bi kịch cô đơn 25
2.3 Bi kịch cam chịu 29
2.4 Bi kịch đánh mất bản ngã 32
2.5 Bi kịch chối bỏ quá khứ 35
Chương 3 BI KỊCH HÓA TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
VÀ KHI TRO BỤI 40
3.1 Bi kịch hóa tình huống 40
3.1.1 Thông qua hoàn cảnh 40
3.1.2 Thông qua ngôi kể 42
3.2 Xây dựng nhân vật bi kịch 45
3.2.1 Qua tâm lí, tính cách 45
Trang 63.3.1 Không gian thực ảo đan xen 50
3.3.2 Thời gian đồng hiện 54
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hòa vào dòng hợp lưu chung của văn học hiện đại và hậu hiện đại thế giới, văn học Việt Nam hiện nay cũng đang có những cách tân đáng kể Trong
đó phải nhắc đến sự phát triển của khuynh hướng tiểu thuyết ngắn ở hải
ngoại, đã đóng góp cho văn học đương đại nước ta không ít những tài năng Đoàn Minh Phượng là một cây bút nữ đáng chú ý của văn học người Việt ở hải ngoại, tuy chị sáng tác chưa nhiều Sinh ra trong một gia đình cha
mẹ gốc ở miền trung Việt Nam, sang Đức sống và làm việc từ năm 1977
nhưng cánh chim thiên di này chưa bao giờ thôi nghĩ về quê hương xứ sở Hành trình quay về cội nguồn của chị lần lượt được điểm tên với bộ phim Hạt
mưa rơi bao lâu (2004), tiểu thuyết Và khi tro bụi (2006) và mới nhất là tiểu
thuyết Mưa ở kiếp sau (2007) Cả phim và tiểu thuyết đều cho thấy một khát
khao mãnh liệt được đối diện với quá khứ, được tìm lại chính mình và tìm về
quê hương Đặc biệt, tiểu thuyết Và khi tro bụi của chị còn được trao giải
thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2007 Đây là tác phẩm tiêu biểu cho lối viết dòng ý thức Bao trùm tác phẩm là cảm thức về cái chết Hành trình nhân vật đi tìm bí ẩn của cái chết đồng thời cũng là hành trình con người đi tìm lại sự sống Và đấy cũng là cuộc hành trình truy nguyên bản thể với biết bao dằn vặt đớn đau, biết bao giằng xé giữa chối bỏ hay chấp nhận, vùng vẫy
hay cam chịu… Từ chỗ tự ý thức về việc phải mang nặng kiếp người cùng
cảm thức mãnh liệt về sự đơn độc; Đoàn Minh Phượng đã viết nên một cuốn tiểu thuyết thấm đẫm sắc màu bi kịch nhằm phản ánh sâu sắc hơn cõi giới bên trong của con người hiện đại
Do đó, chọn đề tài Yếu tố bi kịch trong tiểu thuyết Và khi tro bụi của
Đoàn Minh Phượng, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về những bi kịch của
Trang 8kiếp người đã được Đoàn Minh Phượng diễn tả đầy ám ảnh qua thế giới nhân vật bi kịch cũng như một lối trần thuật ít nhiều mang tính bi kịch hóa ở trong tiểu thuyết
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đoàn Minh Phượng sáng tác không nhiều nhưng với tác phẩm đầu tay
Và khi tro bụi, chị đã khẳng định được tên tuổi của mình thông qua giải
thưởng của Hội nhà văn năm 2007 Tác phẩm đã nhận được nhiều ý kiến khen ngợi từ phía bạn đọc, cũng như sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình; đặc biệt là ở phương diện cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Cụ thể:
Theo nhà thơ Vũ Quần Phương, Và khi tro bụi là “cuốn tiểu thuyết hơi
khó đọc nhưng mọi người đều nhận thấy tác phẩm này có tư tưởng rất hay Tác giả viết theo lối văn độc thoại, súc tích mà vẫn giữ được không khí của một bài thơ từ đầu đến cuối cuốn tiểu thuyết - đó là một thành công Cách viết
của Đoàn Minh Phượng cũng là cách viết mới” [23]
Trong bài Ngũ long lấp lánh trên trang Tuổi trẻ online, Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng với tiểu thuyết Và khi tro bụi, Đoàn Minh Phượng đã gây được hiệu ứng mạnh về kĩ thuật viết:“Phượng rất tinh tế trong cách viết, tìm được cách kể Và khi tro bụi thì thầm, gượng nhẹ bằng một thứ tiếng óng ả,
mượt mịn, trong vắt du dương Đọc Phượng phải chậm, nhâm nhi kĩ tiếng Việt như thưởng thức trà quý Sau khi đọc có thể được an ninh tâm hồn, thứ không dễ tìm trong trong thế giới gấp gáp sống nhanh, yêu nhanh và cả chết nhanh này” [27]
Nguyễn Thanh Tú trong bài viết Bi kịch hóa trần thuật - Một thức tự sự
đã nhắc đến tiểu thuyết Và khi tro bụi với tư cách một trong những tác phẩm
có lối kể chuyện sáng tạo trong đối sánh với truyện ngắn Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Thanh Tú tìm thấy những sự tương đồng trong
nghệ thuật trần thuật của hai tác phẩm, đó là bi kịch hóa trong lối kể Tác giả
Trang 9bài viết cho rằng Và khi tro bụi đã tạo ra được tình huống bi kịch sáng tạo và
xây dựng người kể chuyện hấp dẫn người đọc [34]
Một trong những người nghiên cứu nhiều nhất về tác giả Đoàn Minh Phượng là TS Thái Phan Vàng Anh ở Đại học Sư phạm Huế với khá nhiều
bài viết đăng trên các tạp chí khoa học như: Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu
thuyết Đoàn Minh Phượng, Những cái tôi kể chuyện trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại … Trong các bài
viết của mình, tác giả tập trung nghiên cứu kĩ thuật viết của Đoàn Minh Phượng dưới góc nhìn tự sự, để kết luận tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng đậm chất tự thuật với kiểu người kể chuyện xưng tôi có nhiều đặc điểm tương đồng với nữ nhà văn, giọng điệu trần thuật đầy nữ tính và một lối ngôn ngữ kết hợp cả lối tư duy phương Đông lẫn phương Tây
Dưới góc nhìn so sánh, Đỗ Minh Phúc trong trong tiểu luận Thi pháp
tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 của Thuận và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng đã khẳng định, với hai tiểu thuyết nói trên, hai nhà văn đã có nhiều
bứt phá và đổi mới về mặt thi pháp, tiến gần hơn đến thi pháp tiểu thuyết hiện đại trên thế giới Bên cạnh đó, hai tác phẩm cũng cho thấy sự vận động của ý thức cách tân nghệ thuật và đổi mới tư duy tiểu thuyết của các cây bút nữ hải ngoại trong việc hướng tới biểu đạt một cách trọn vẹn nhất tâm hồn của con người thời đại [22]
Và hiện nay, tác phẩm của Đoàn Minh Phượng đang được nghiên cứu khá nhiều trong các trường đại học Qua tìm hiểu của chúng tôi, các luận văn, luận án cũng tập trung chú ý hơn đến phương diện kĩ thuật của tiểu thuyết này Chẳng hạn:
Lê Thị Hoàng Oanh chọn nghiên cứu Và khi tro bụi trong luận văn thạc
sĩ Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại nhìn từ góc nhìn
Trang 10thể loại Trong công trình này, dưới góc nhìn thể loại, tác giả nghiên cứu Và khi tro bụi - một thành tựu tiêu biểu của văn chương hải ngoại - ở các phương
diện nhân vật, không - thời gian , nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật kết cấu…; rồi từ đó khẳng định đóng góp của các nhà văn nữ hải ngoại trong việc làm mới thể loại tiểu thuyết [20]
Hay tác giả Lê Tuấn Anh đã nghiên cứu toàn diện về kỹ thuật viết của
Đoàn Minh Phượng với luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
Đoàn Minh Phượng Trong công trình nghiên cứu này, dưới góc nhìn tự sự
học, Lê Tuấn Anh phân tích không gian thời gian, người kể chuyện, điểm
nhìn, giọng điệu trần thuật trong hai tác phẩm của Đoàn Minh Phượng - Và
khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau Công trình vẫn chưa đi vào khai vỡ bi kịch
kiếp người trong từng tác phẩm [2]
Trần Thị Yến Minh trong luận văn thạc sĩ Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết
Đoàn Minh Phượng đã dành một chương để bàn về giá trị triết lí, ý nghĩa
nhân sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, tuy nhiên nội dung chính của luận văn cũng đi sâu vào phương diện nghệ thuật tiểu thuyết Vấn đề bi kịch của kiếp người xa xứ trong tác phẩm vẫn chưa được quan tâm đích đáng [21] Bên cạnh những bài viết, công trình nghiên cứu về kĩ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, chúng tôi cũng khảo sát được có một số ít các bài viết đề cập đến vấn đề thân phận con người trong dòng văn học xa xứ như sau:
Trong bài viết Đoàn Minh Phượng và Và khi tro bụi, Ngô Đồng cho rằng
ý thơ của Henry Vaughan: “Và khi tro bụi trở về / Trong thinh lặng đó cận kề
quê hương” chính là nguồn cảm hứng cho toàn bộ cuốn sách Toàn bộ câu
chuyện luôn ẩn hiện trong một màn sương mờ ảo, hư có, thực có rất khó nắm bắt Một thân phận tha hương phải chịu những xung đột về xã hội - văn hóa, phân vân giữa quá khứ, hiện tại và tương lai [8]
Khi trao giải thưởng cho tác phẩm, trong bài phỏng vấn Giải thưởng văn
Trang 11học: không So bó đũa chọn cột cờ, Hữu Thỉnh có nhận xét: “Cuốn tiểu thuyết
Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng góp phần đổi mới tư duy tiểu thuyết
hiện nay Về phương diện đề tài: bối cảnh ở nước ngoài nhưng hồn lại ở Việt Nam Đọc cuốn sách, thấy những con người tưởng chối bỏ dân tộc nhưng lại không chối bỏ được Họ xa quê hương, quay lưng với quê hương, nhưng không thể xa quê hương được Đấy chính là giá trị dân tộc trong cuốn sách
Về phương pháp: cuốn sách được viết tốc độ nhanh, nhịp điệu đời sống nhanh” [26] “Hồn ở Việt Nam” và lạc lõng trên xứ người chính là bi kịch tha
hương trong tiểu thuyết Và khi tro bụi
Hay trong bài viết Và khi tro bụi rơi về Đình Khôi nhận xét: “Và khi tro
bụi không phải là cuốn tiểu thuyết trinh thám, với những tình tiết giật gân, với
những “hiện trường được sắp xếp”, với những trí thông minh tinh nhậy, mà trái lại, những đau buồn và dự cảm đã loại bỏ cái háo hức tìm ra sự thật (…)
Và khi tro bụi là cuốn tiểu thuyết cho những người đang còn hoang mang
không biết “ngày mai mình sẽ làm gì và cả những ngày mai sau đó” Tác giả
đã phần nào động chạm đến “những đau buồn và dự cảm”, những “hoang mang” vô hướng đậm sắc màu bi kịch của kiếp con người [12]
Trả lời phỏng vấn của báo Sài Gòn giải phóng online về tác phẩm Và khi
tro bụi, Đoàn Minh Phượng cũng đã nhắc đến bi kịch tha hương của người
Việt Chị giãi bày về tác phẩm, như là khao khát tìm về nguồn cội “của một đứa bé gái Việt Nam mồ côi, lạc loài, bị đánh mất tuổi thơ và cả quê hương trong những năm tháng chiến tranh…”, và sự hoang mang mơ hồ của nhân vật người phụ nữ trên hành trình tìm kiếm bản thể: “Trong tác phẩm các nhân vật của tôi đều có cách cắt nghĩa về thân phận của mình một cách khác nhau; cách kể chuyện gần như trái ngược theo sự cảm nhận và chọn lựa cuộc sống, chọn lựa tình yêu của họ Có khi họ phủ nhận một cách dứt khoát, chối bỏ quá
khứ; chối bỏ lịch sử; văn hóa mà không cần điều hợp lí hay bất hợp lí” [35]
Trang 12Trong bài viết Và khi tro bụi bay về, Dương Bình Nguyên đã nêu cảm
nhận về tác phẩm với nhiều tình cảm ưu ái cho tác giả và những kiếp người
bơ vơ khi lạc xứ: “Ai đó nói, quá khứ là cội rễ, là một mạch ngầm của suối
sông, mất cội rễ ấy con người bỗng hóa bơ vơ khi lạc xứ Nhân vật An Mi của
Đoàn Minh Phượng trong tiểu thuyết Và khi tro bụi đã lạc gần nửa đời người
nơi xứ lạ, lạc vào đời sống khác mà không sao hòa nhịp được vào cùng nó
Phượng cũng vậy” [17] Tác giả bài viết xem Và khi tro bụi như một lời giãi
bày thay cho tâm trạng chung của rất nhiều Việt kiều cô đơn lạc lõng nơi xứ người
Tiểu Quyên trong bài viết Dòng chảy ngầm của văn học xa xứ đã nhận ra
có một dòng chảy trầm, buồn trong trang viết của những cây bút thiên di như Trương Quế Chi, Đoàn Minh Phượng và Thuận Ở đó, người đọc nhìn thấy được những ước vọng sống mãnh liệt của con người Tác giả bài viết nhận xét
rằng tiểu thuyết Và khi tro bụi dung chứa nhiều yếu tố bi kịch của những kiếp người tha hương: “Và khi tro bụi đằng đẵng những giọt đắng bằng hình ảnh người đàn bà mang dấu chấm thiên di” [25]
Có thể nói, những tài liệu nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn
Minh Phượng nói chung và nghệ thuật tiểu thuyết Và khi tro bụi nói riêng hiện nay khá nhiều và sâu sắc Tuy nhiên nhìn chung, những bài viết và công
trình nghiên cứu kể trên vẫn chưa đi sâu nghiên cứu về yếu tố bi kịch trong tác phẩm
Do vậy, trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của người đi
trước, chúng tôi chọn đề tài Yếu tố bi kịch trong tiểu thuyết Và khi tro bụi của
Đoàn Minh Phượng với mong muốn khám phá sâu hơn về cảm thức bi kịch
của con người hiện đại - một vấn đề hiện nay đang được triết học và nghệ thuật quan tâm khá nhiều; cũng như lối trần thuật rất riêng mà Đoàn Minh Phượng đã
sử dụng để chuyển tải cảm thức đó một cách đầy ám gợi lên trang viết
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là yếu tố bi kịch được thể hiện trong
tiểu thuyết Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng qua cảm thức bi kịch của
nhân vật và sự bi kịch hóa trong lối kể
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Và khi tro bụi của Đoàn
Minh Phượng do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2006
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp chính sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống:
Nằm trong dòng chảy của văn học Việt Nam hải ngoại, tiểu thuyết Và
khi tro bụi cũng mang những đặc điểm chung của dòng văn học ấy Sử dụng
phương pháp này trong nghiên cứu sẽ giúp thấy được sự phổ biến của cảm thức bi kịch trong dòng văn chương xa xứ, cũng như đánh giá được nét đặc
sắc của cảm thức bi kịch trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
- Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Nghiên cứu về yếu tố bi kịch trong Và khi tro bụi, chúng tôi sử dụng
phương pháp này với mục đích phân tích và tổng hợp từng biểu hiện của yếu
tố bi kịch trong Và khi tro bụi từ nội dung lẫn nghệ thuật để mang lại cái nhìn
toàn diện hơn về yếu tố bi kịch trong tác phẩm
- Phương pháp so sánh đối chiếu:
Sử dụng phương pháp này trong việc tìm hiểu yếu tố bi kịch trong Và khi
tro bụi giúp người viết tìm ra những nét tương đồng, khác biệt trong quan niệm
nghệ thuật về con người và cách xây dựng yếu tố bi kịch trong tác phẩm có điểm
gì giống và khác với các tác giả trước đó cũng như các tác giả cùng thời
Trang 145 Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết Luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương1 Yếu tố bi kịch trong văn học Việt Nam đương đại
Chương 2 Các dạng thức bi kịch trong tiểu thuyết Và khi tro bụi
Chương 3 Bi kịch hóa trần thuật trong tiểu thuyết Và khi tro bụi
Trang 15Chương 1 YẾU TỐ BI KỊCH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Khái niệm bi kịch
Hiện nay, xung quanh khái niệm bi kịch có khá nhiều quan niệm khác nhau Cho nên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đề tài, đó là mối quan hệ giữa các khái niệm bi kịch (tragedy), cái Bi (the tragic) và yếu tố bi kịch (tragic elements)
Lần theo dòng lịch sử, chúng ta thấy rằng, khái niệm “bi kịch” (tragedy)
lần đầu tiên được đề cập có hệ thống trong cuốn Nghệ thuật thơ ca (Poetics)
của Aristotle - nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đặt nền móng cho lí luận văn học hiện đại phương Tây Theo quan điểm của Aristotle, bi kịch là thể loại đạt chất lượng nghệ thuật cao nhất trong toàn bộ hệ thống phân chia thể loại của người Hy Lạp cổ đại Aristotle cũng đánh giá về đặc trưng của bi kịch rất
cô đọng và chuẩn xác: “Sự bắt chước hành động hệ trọng và trọn vẹn nhằm dùng hành động chứ không phải bằng kể chuyện, bằng cách gây nỗi xót thương và nỗi sợ hãi để thực hiện sự thanh lọc những nỗi xúc động tương tự”
[1, tr.190]
Bắt nguồn từ khái niệm bi kịch như là một thể loại văn học của thời cổ đại, đến nay, khái niệm bi kịch ở phương Tây đã được sử dụng với hàm nghĩa rộng hơn, nhằm chỉ “một sự kiện gây ra nỗi thống khổ, sự hủy hoại, nỗi mất mát lớn lao cho con người như một tai ương trầm trọng, một tội ác hay một thảm họa thiên nhiên” (Theo Từ điển Oxford)
Ở Việt Nam tình hình cũng tương tự như thế Theo các từ điển tiếng Việt thông dụng hiện nay, từ bi kịch thường được sử dụng với hai nghĩa Trước hết, nó chỉ một thể loại kịch “có nội dung phản ánh cuộc xung đột gay gắt
Trang 16giữa nhân vật chính diện với hiện thực, có kết cục bi thảm” Thứ hai, nó dùng để nói về “những cảnh éo le, trắc trở, đau thương” trong đời sống con người (tratu.vn)
Theo từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán chủ biên, bi kịch là “một thể loại của loại hình kịch, thường được coi như là sự đối lập với hài kịch” [10, tr.18] Thể loại này ra đời sớm ở Hy Lạp cổ đại và phát triển cho tới ngày nay theo nhiều kiểu dạng khác nhau tùy vào từng thời kì lịch sử cũng như đặc điểm của mỗi quốc gia Chính sự phụ thuộc vào đặc điểm xã hội này
đã dẫn đến sự thay đổi của tính chất bi kịch theo từng thời kì Từ điển thuật
ngữ cũng đánh giá về bi kịch như là một phạm trù mĩ học phản ánh hiện tượng có quy luật của thực tế đời sống xã hội: “Bi kịch phản ánh không phải bằng tự sự mà bằng hành động của nhân vật chính, mối xung đột không thể điều hòa được giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thập hèn… diễn ra trong một tình huống cực kì căng thẳng mà nhân vật thường chỉ thoát ra khỏi
nó bằng cái chết bi thảm gây nên những suy tư và xung đột mạnh mẽ đối với công chúng” [10, tr.18]
Hay có người gọi bi kịch là loại “anh hùng ca đẫm lệ”, nó làm cho con người ghê tởm và căm ghét cái xấu, cái ác và khích lệ con người đấu tranh cho lí tưởng sống của xã hội
Cũng có người cho rằng, bi kịch là tình trạng xung đột trực tiếp xảy ra giữa cái Đẹp và cái Xấu Cái Đẹp và cái Xấu đều muốn tồn tại hợp pháp và cố gắng duy trì sự tồn tại của mình; nên tất yếu giữa chúng xảy ra tình trạng xung đột Đó là những xung đột có ý nghĩa xã hội, lịch sử, đạo đức, tâm lí, chứ không phải bất kì sự xung đột nào trong cuộc sống Những xung đột bi kịch liên quan đến lẽ sống và tình đời rộng lớn của con người, có ý nghĩa triết
lí sâu xa, khiến chúng ta xúc động và rút ra những bài học răn đời Kết thúc xung đột, những người tốt chịu đựng sự bất hạnh, thậm chí bị tiêu vong thảm
Trang 17khốc Nhưng sự thất bại của họ làm cho người đời xót thương, ca ngợi họ, vẽ chân dung họ đẹp, đẹp hơn thực để treo trước cuộc đời một tấm gương Tấm
gương đó là bài học, giúp con người tránh điều ác, làm điều thiện Bi kịch làm
trong sạch hóa cảm xúc tương tự bằng cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp (hiệu ứng catharsis) [11, tr.113] Khái niệm bi kịch ở đây có phần đồng
nhất với khái niệm cái Bi trong Mỹ học
Thực ra, khái niệm bi kịch không đồng nhất nhưng có mối liên quan chặt chẽ với khái niệm “cái Bi” (the tragic) - một trong các phạm trù thẩm mỹ của Mỹ học (Aesthetics) Trong giáo trình Lý luận văn học nêu ra khái niệm
“cái Bi”: “Đây là một phạm trù mĩ học, khác với bi kịch của một thể loại văn học và sân khấu, đó là những xung đột không thể giải quyết được triển khai trong quá trình hành động “tự do và tất yếu” của nhân vật hoặc sự mất mát có giá trị đời sống của nó” [13, tr.159] Như vậy, xung đột ở trong thể loại bi kịch là loại xung đột tạo ra cái Bi nhưng không phải là tất cả phạm vi tồn tại của cái Bi Cái Bi còn tồn tại như một hiện tượng siêu hình trong đời sống, gây ra những tranh cãi không ngớt về chuyện, nó thực ra là một hiện tượng mang tính khách thể hay chủ thể
Để phân biệt rõ hơn nữa, ta cần nói thêm rằng, nếu như tính bi kịch là một hiện tượng tâm lý cá nhân, xã hội thể hiện những xung đột nội tại chưa thể giải quyết được của vấn đề, gây ra cho chủ thể những cảm xúc ở trạng thái bất lực, đau khổ; thì cái Bi cũng sự mất mát nhưng là sự mất mát của lí tưởng, của cái cao cả, cái đẹp Bởi vậy cái Bi rất gần gũi với cái cao cả
Tóm tắt lại, bi kịch là một thể loại xuất hiện từ thời Hy - La và vẫn phát triển cho đến ngày nay đưới nhiều biến thể khác nhau Còn bi kịch với tư cách
là những sự kiện gây thống khổ, buồn thương, những cảnh éo le trắc trở cũng
là một yếu tố thường trực trong đời sống con người hiện đại Nó đã và đang được phản ánh vào trong văn học ngày một nhiều hơn, với tính chất mới hơn
Trang 18Chẳng hạn, ở Việt Nam, cùng sự phát triển của xã hội, văn học sau 1986 đã khai mở tất cả những gì thuộc về cá nhân, về bản thể Trong xã hội hiện đại
mà các giá trị vật chất thay nhau nắm quyền, con người đóng mình trong không gian hẹp thì mọi giá trị đều bị bào mòn, và bi kịch của con người là điều không thể tránh khỏi
Nhìn chung, có khá nhiều khái niệm về bi kịch, từ quan niệm xem bi kịch như là một loại hình nghệ thuật sân khấu trong văn học cổ điển, bi kịch như một phạm trù Mỹ học cho đến quan điểm hiện đại xem bi kịch như một hiện tượng xã hội Ở đây chúng tôi xin đưa ra cách hiểu chung về khái niệm
bi kịch: bi kịch nảy sinh do xung đột gay gắt bởi những mâu thuẫn không thể nào khắc phục được giữa khát vọng chính đáng của con người và khả năng không thể thực hiện được những khát vọng đó trong cuộc sống Vì thế, nó gắn liền với những đau khổ, dằn vặt của cá nhân, song nó lại động chạm đến lẽ sống, tình yêu, sứ mệnh của con người nói chung, vậy nên nó có sức ám ảnh đối với con người
Hiểu như vậy, yếu tố bi kịch (tragic elements) không chỉ tồn tại trong thể loại bi kịch mà còn có khả năng xâm nhập vào các thể loại tự sự khác như truyện ngắn, tiểu thuyết; đặc biệt là trong thời hiện đại, khi mà con người đang sống trong một thế giới đầy bất ổn và mất mát, một thời đại đổ vỡ niềm tin và sự lên ngôi của máy móc, công nghệ đang dần biến chúng ta thành những khối cô đơn khổng lồ
1.2 Các dạng thức bi kịch
Theo Đỗ Văn Khang trong giáo trình Mĩ học Mác - Lênin, bi kịch có các
dạng thức chủ yếu như sau:
1.2.1 Bi kịch chính thống:
Dạng bi kịch này có hai loại là bi kịch của nhân vật chết trong đêm
trường đen tối của lịch sử và bi kịch của nhân vật chết trước bình minh
Trang 19- Bi kịch của nhân vật chết trong đêm trường đen tối của lịch sử:
Đây là dạng bi kịch trong lịch sử mà nguyên nhân là do “xung đột giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không thể nào thực hiện được điều đó trong thực tiễn” (Marx - Engel - Lenin bàn về văn học nghệ thuật) Và
“bi kịch ở đây là là bi kịch của cái mới, cái tiến bộ, cái cách mạng đang còn trong thế yếu, ở trong hoàn cảnh đã nảy sinh nhu cầu tất yếu cần thay đổi lịch
sử hiện hành vì nó già cỗi nhưng điều kiện để thực hiện yêu cầu đó chư chín muồi” [11, tr.113] Dù thực tiễn không có đủ điều kiện để thay đổi lịch sử hiện hành nhưng vì ở trong hoàn cảnh nảy sinh nhu cầu cần thay đổi lịch sử hiện hành, vì có ý thức sâu sắc, vì sứ mệnh đối với dân tộc nên con người chấp nhận hy sinh cho lí tưởng và giai cấp Bi kịch của họ không vì thế mà trở nên bi thảm mà sự hy sinh của họ nằm trong sự vận hành chung của lịch sử, góp phần đẩy mạnh phong trào lịch sử để đưa cái mới cái tiến bộ trở nên mạnh hơn, nhanh đi đến sự thay thế cho cái cũ Chính sự hi sinh của con người trong đêm trường đen tối ấy đã thôi thúc, đã tạo nên những làn sóng mạnh hơn đấu tranh cho lẽ phải, nhanh chóng đưa lịch sử phân rõ trắng đen Lịch sử dân tộc ta mãi mãi ngợi ca các cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực dù nó hoàn toàn thất bại Hay cái chết của 11 cô gái ở ngã ba Đồng Lộc đã làm thức tỉnh cả một thế hệ thanh niên Việt Nam, khiến đời đời còn ghi nhớ
- Bi kịch của nhân vật chết trước bình minh:
Đây cũng là một dạng của bi kịch lịch sử nhưng ở đây “cái mới, cái tiến
bộ, cách mạng đã ở thế thắng trong toàn cục nhưng một bội phận nào đó còn lâm vào hoàn cảnh trớ trêu, khiến cho người anh hùng bị sa cơ và bị tiêu vong thảm thương” [11, tr.135] Sự hy sinh của con người ở dạng thức này không còn là sự vấp ngã trong đêm tối mà ngay trước cửa bình minh, chính họ đã giúp phá tung cánh cửa kìm chặt con người ta trong những năm dài tăm tối
Trang 20Điển hình cho dạng thức bi kịch này ta phải nhắc đến những con người chết trước Cung điện mùa đông hay Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước đại thắng Mùa xuân 1975, các nghĩa sĩ Cần Giuộc, chị Sứ… Cái chết của họ mang tính bi hùng kịch
1.2.2 Bi kịch của cái cũ
Bi kịch cái cũ ở đây, theo Mác không phải là sự xung đột giữa cái mới và cái cũ mà “khi cái cũ chưa mất hết sinh lực của nó và cái mới vừa nảy sinh chưa đủ lông đủ cánh, cái mới là tự do nhưng chưa phải chùm nho trên giàn quả đỏ” [11, tr.137] Có nghĩa là, cái mới đã thắng thế nhưng chưa thực sự có thế lực vững mạnh để che lấp cái cũ Cái cũ không phải xấu xa phản động, chưa mất vai trò trong lịch sử; con người đứng trong cái cũ vẫn còn lầm đường, họ vẫn tin vào cái cũ một cách mù quáng Chính những điều đó đã tạo nên cái chết, sự tiêu vong của cái cũ và trở thành bi kịch của cái cũ
Ở dạng bi kịch này ta có thể thấy đại diện tiêu biểu như sự thất bại của vua Duy Tân nước ta Đó là bi kịch của cho những lí tưởng lạc hậu, không phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước Dù thế, nhưng sự thất bại của họ vẫn được xã hội luyến tiếc như luyến tiếc một ráng chiều đẹp trong một buổi hoàng hôn
1.2.3 Bi kịch của sự nhầm lẫn, sự kém hiểu biết hoặc sự “ngu dốt”
“Bi kịch của sự lầm lẫn được nêu ra như một bài học xương máu của đường đời có tác dụng nhắc nhở con người một bài học cảnh giác.” [11,
tr.135] Tiêu biểu cho dạng bi kịch này chúng ta thấy có vở bi kịch Oedipe
làm vua Do “số mệnh”, Oedipe đã giết cha lấy mẹ mà không hay biết Khi
nhận ra sự lầm lẫn, Oedipe đã tự chọc thủng hai mắt để trừng phạt mình Hình tượng tự chọc thủng mắt là sự trừng phạt tội không biết phân biệt lẽ đời một cách anh minh
Sự ngu dốt cũng “là con quỷ mà chúng ta e rằng chúng sẽ còn gây ra
Trang 21nhiều tấn bi kịch” [11, tr.137] Bi kịch của sự kém hiểu biết xảy ra không phải
do một lực lượng xã hội nào, cũng không phải do một phép tắc đạo đức nào dẫn dắt họ, mà là một tai nạn, một sức mạnh mù quáng của tự nhiên
1.2.4 Bi kịch của những khát vọng con người
Con người luôn có những khát vọng sống giữa cuộc đời thế nhưng cuộc đời lại đem đến cho họ những bi kịch không thể tránh khỏi Dạng bi kịch này thể hiện sự đối lập giữa những khát vọng chính đáng riêng tư của con người
và khả năng không thực hiện được khát vọng đó trong cuộc sống
Lấy ví dụ như bi kịch của nàng Kiều Kiều là một nhân vật bi kịch tiêu biểu, cuộc đời trầm luân của nàng đã nói lên sự vật lộn gay gắt giữa con người tài sắc “mười phân vẹn mười” ấy với những thế lực xã hội đen tối như quan chức xử kiện, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến Đọc Nguyễn Thị Thu Huệ, thấy hiện lên bi kịch của những người phụ
nữ đầy khát vọng yêu đương để rồi cũng sớm gánh chịu bi kịch đổ vỡ gia đình, nhận lấy kết cục dang dở Hay bi kịch của cô gái da trắng mười lăm tuổi
rưỡi trong tiểu thuyết Người tình của M Duras chính là bi kịch về thể xác và
tinh thần sinh ra từ nỗi khát khao tình yêu Hay bi kịch của chàng trai và cô
gái trong Người thứ 41, họ là hai con người ở hai phe đối lập nhau, nên dù
cùng chung khát vọng tình yêu, tình yêu ấy của họ sớm bị ý thức về lý tưởng thắng thế Dù đau đớn thắt lòng nhưng cô gái đã phải bắn chết người mình yêu
1.2.5 Bi kịch của cái xấu
Cái cũ đã thực sự trở thành xấu và gây ra tác hại khủng khiếp, nó cần phải bị trừng phạt một cách nghiêm khắc, “kẻ gieo gió ắt phải gặt bão”, đó là
nội dung cơ bản của loại bi kịch của chính cái xấu
Nếu các dạng thức bi kịch khác đều là bi kịch của cái đẹp, cái tốt, hoặc cái còn tốt mà bị lầm lạc thì bi kịch của chính cái xấu là bi kịch của tội ác Ở
Trang 22đây, người ta không lấy nước mắt để răn đời, không lấy lòng xót thương mà luyến tiếc người đã mất, trái lại, lấy sự khủng khiếp để nhắc con người chớ làm điều khủng khiếp
Cái ý nghĩa khủng khiếp do tác động của bi kịch, của cái xấu mãi sau
này qua tài nghệ của Shakespeare trong vở Macbeth người ta mới nhận thức
nó một cách rõ ràng
Có thể nói, tình huống bi kịch rất đa dạng, phong phú và phức tạp y như
sự phong phú và phức tạp của cuộc đời Tình huống của bi kịch có thể là những xung đột của cái mới, cái đẹp, cái tiến bộ; nhưng cũng có thể là xung đột của chính cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu Tuy nhiên, mọi tình huống của bi kịch phải thuộc những vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn, có ảnh hưởng đến
lịch sử, lẽ sống, đạo đức và thân phận con người; nghĩa là những vấn đề có ý
nghĩa triết luận sâu xa của xã hội và con người
1.3 Yếu tố bi kịch trong văn học Việt Nam sau 1975
Văn học Việt Nam trải qua các giai đoạn đã lấy cái bi kịch như là một thước đo để phản ánh sâu sắc và chân thực hiện thực cuộc sống Tuy nhiên, qua từng thời kì bản chất của yếu tố bi kịch có những nét biến đổi
Trước 1975, do sự chi phối của qui luật chiến tranh, cách nhìn về con người giai đoạn này cũng phụ thuộc vào quan điểm chung của thời đại Con người trong giai đoạn cách mạng và kháng chiến là con người cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, gắn bó với sự nghiệp chung của dân tộc Vậy nên họ ít có dịp đối diện với bản thân, sống với chính mình Loại bi kịch của con người giai đoạn này, nếu có được văn học nhắc đến, cũng là bi kịch lịch sử, bi kịch của các nhân vật chết trước bình minh: “họ chết nhưng lý tưởng của họ đã được cả thế hệ của họ, cả một phong trào đấu tranh tiếp tục nối tiếp xả thân vì
lý tưởng ấy”; hoặc là bi kịch của cái cũ và cái mới Các nhà văn khi viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội; bên cạnh ngợi ca cuộc sống mới, cũng đồng
Trang 23thời vạch trần những tham vọng của bọn Việt gian muốn duy trì cuộc sống hưởng lạc trên xương máu của nhân dân, bọn tay sai thẳng thừng giết hại đồng bào
Bị cảm hứng sử thi chi phối, vấn đề vận mệnh dân tộc được đưa lên hàng đầu, nên trong giai đoạn này, các dạng bi kịch cá nhân không hề được đề cập đến hoặc nếu có thì cũng rất ít Kiểu như tâm sự riêng tây của Hữu Loan
trong Màu tím hoa sim về nỗi đau vĩnh viễn mất đi người vợ yêu thương, hay cái chết và nỗi gian khổ của người lính trong bài thơ Tây Tiến, đều không
được cổ vũ để nói ra
Sau thời kì đổi mới, văn học Việt Nam dần chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời
tư Đời sống xã hội ngày càng vận động theo hướng khẳng định cá nhân, mọi mặt cuộc sống đều biến đổi, cái tôi cá nhân đòi hỏi phải được giải phóng để hòa nhập với môi trường xã hội bên ngoài Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả
số phận những con người bình thường với những bi kịch của đời họ Đó là bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa thanh lọc và tha hoá, giữa nhân bản và phi nhân bản… Đồng thời với việc đi sâu vào phản ánh những tấn bi kịch riêng tư của con người, tác phẩm cũng dần rời bỏ cách nhìn nhận một chiều phiến diện để tạo ra một cái nhìn phức tạp hơn, đa chiều hơn và toàn diện hơn về con người
Khi những vở kịch của Lưu Quang Vũ được trình diễn trên sân khấu nước nhà những năm 1980, người ta nhận ra cái Bi đã bắt đầu được “cởi trói”
và trở lại mạnh mẽ trong văn học Sau bi kịch của Lưu Quang Vũ là hàng loạt
những tác phẩm tự sự thấm đẫm yếu tố bi kịch như Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Kẻ sát nhân lương thiện (Nguyễn Văn Long), Đám cưới không có
giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc
Trang 24Tường)… Bi kịch trong văn học sau 1975 phân hóa nhiều dạng thức khác nhau như bi kịch khủng hoảng niềm tin; bi kịch về sự chuyển biến tư tưởng xã hội, về đấu tranh nội tâm của con người đi ra từ cuộc chiến; bi kịch của sự
lầm lẫn, của cái xấu hay bi kịch con người tha hóa; bi kịch mưu sinh; bi kịch
của khát vọng… Nó phong phú đa dạng như chính cuộc sống của con người hiện đại
Chẳng hạn, Thời xa vắng (Lê Lựu) là bi kịch hạnh phúc cá nhân bị
những định kiến cộng đồng đè bẹp Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo là bi kịch lầm lạc, bi kịch về khát khao hạnh phúc tan vỡ, bi kịch của
khát vọng và hiện thực không thể dung hòa Người đẹp xóm Chùa (Đoàn Lê),
Bất hạnh của tài hoa…là bi kịch của nghệ thuật chân chính không tìm được
tri âm Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) là những
bi kịch xảy ra sau khi chất men lâng lâng của chiến thắng tan đi, và con người của thời hậu chiến buộc phải dõi cái nhìn trở lại thời chiến tranh gian khổ, để quá khứ sống dậy trong đụng độ trái ngang với hiện tại
Hay với sự mẫn cảm đặc biệt của một nhà văn có thực tài, các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện rõ bi kịch con người thời hiện đại Nhà văn
xé toạc những chuẩn mực đạo đức, luân lý thông thường để vạch trần diện mạo thật của cuộc sống Thì ra, cuộc sống đâu chỉ có cái đẹp, cái cao cả mà là
cả một cõi tục hoang sơ, trì đọng, một thế giới hỗn tạp xô bồ: “đất không có vua và biển không có thủy thần” Ở đó có những con người bạc ác, đểu cáng,
vụ lợi, dối trá, đê tiện, thực dụng… Bi kịch tha hóa của con người là điều mà Nguyễn Huy Thiệp cực kì quan tâm
Nguyễn Minh Châu lại hết sức trăn trở với bi kịch của những con người
đang vật vã mưu sinh Trong Chiếc thuyền ngoài xa, người phụ nữ lặng lẽ
chịu đựng tất cả cũng chỉ vì quá thấu hiểu gánh nặng kiếm sống của người
chồng Phiên chợ Giát là nỗi xót xa trước những kiếp người - bò như lão
Trang 25Khúng Đọc Cỏ lau mới thấy cuộc sống của những con người trở về sau
những đổ nát vẫn không bình yên, họ tiếp tục chiến đấu với kẻ thù mới là
“giặc đói”
Yếu tố bi kịch xuất hiện ngày càng nhiều trong nền văn học Việt Nam sau đổi mới là do rất nhiều nguyên nhân, từ những tác động bên ngoài đến những nguyên nhân tự thân của văn học Sau 1986, văn học lấy con người cá nhân làm tâm điểm qui chiếu nên sự xuất hiện của cái Bi cũng là một hiện tượng bình thường Dẫu lịch sử đã thay đổi theo chiều hướng đi lên, những cái Bi dường như đã trở thành thuộc tính của hiện thực khi mà số phận cá nhân không bao giờ có thể trùng khít hoàn toàn với số phận cộng đồng Trong
xu hướng nhận thức lại hiện thực chiến tranh, cảm hứng về cái bi trở thành cảm hứng bao trùm trong văn học giai đoạn này bởi chừng nào cái xấu, cái ác,
cái phi lý còn tồn tại, chừng đó con người còn phải đối mặt với cái bi
Cũng sau 1986, văn học Việt Nam có sự mở rộng và cập nhật hơn trong tiếp xúc với văn hóa, văn học, mĩ học, lí luận phê bình của nước ngoài… nên dần dần, đã bắt nhịp được với xu hướng chung của văn học thế giới Mà tư duy tiểu thuyết hiện đại bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những tư tưởng triết học hoài nghi, bi quan thậm chí đến mức cực đoan như kiểu triết học phi lí tính, triết học hiện sinh, triết học hậu hiện đại… Họ nhìn nhận thế giới như một sự
đổ vỡ lớn, một bi kịch lớn và con người bị bỏ rơi, bị bơ vơ trong một thời đại
mất Chúa Những trạng thái bi kịch của đời sống trở thành những vấn đề tất
yếu mà văn học hiện đại muốn phản ánh
Hòa chung mạch cảm hứng đó của văn học trong nước và thế giới, Đoàn Minh Phượng đã thể hiện rõ tính chất bi kịch của sự hiện sinh trong sáng tác
của mình Đặc biệt, tiểu thuyết Và khi tro bụi đã thể hiện đậm nét tấn bi kịch
của con người xa xứ nói riêng và con người hiện đại nói chung
Trang 26Chương 2 CÁC DẠNG THỨC BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT
VÀ KHI TRO BỤI
2.1 Bi kịch tha hương
Tha hương là việc con người buộc phải rời bỏ quê hương, đi đến nơi xa
lạ khác để sinh sống Trong văn học nước ta từ xưa đến nay vẫn thường nhắc đến hình ảnh những con người tha hương cầu thực Đó là nhân vật người mẹ
trong Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, vì cuộc sống quê nhà quá thiếu
thốn nên đành bỏ lại đứa con thơ tìm đến những miền đất mới với hi vọng đổi đời; là đủ loại người từ các vùng quê nghèo đổ xô lên Hà Nội kiếm miếng ăn
trong Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng Đó cũng là những con người
không chịu được lề thói tư tưởng cũ nát của một vùng đất mà dứt áo ra đi,
kiểu như những nhân vật giàu lí tưởng và khát vọng trong tiểu thuyết Tự lực
văn đoàn…
Thế nhưng chưa bao giờ trong văn học hình ảnh con người tha hương lại hiện lên đậm nét, chân thực mà ám ảnh như sau năm 1975 Đặc biệt hơn, khi viết về đề tài này, tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 có những tìm tòi và phát triển mới với những gương mặt đến từ dòng văn học hải ngoại Chủ đề tha
hương có mặt trong hầu khắp các tiểu thuyết Paris 11 tháng 8, Phố
Tầu (Thuận), Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng)…
Tha hương có thể nói là kết quả tất yếu của xu hướng di dân của loài
người qua nhiều thế kỉ Đến nay, không chỉ người Việt đang sống ở các nước khác rất nhiều, mà bất cứ dân tộc nào cũng có cư dân đang sinh sống ở hải
ngoại Sự di dân có nhiều nguyên nhân khác nhau Có người, tha hương là sự
bắt buộc phải ra đi, họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc từ giã thành phố quê hương nơi chôn nhau cắt rốn Họ ra đi mang trong mình một nỗi khắc
Trang 27khoải không biết ngày trở về Có người, tha hương là tự lựa chọn, vì khát khao một cuộc đời mới tốt đẹp Nhưng dẫu sao, ở xứ xa, người bắt buộc hay
tự nguyện ra đi đều cùng chung nỗi bi kịch tha hương Đó là bi kịch không được sống trên đất nước của mình, bi kịch bị cắt lìa ra khỏi nguồn cội Vậy nên, dù ý thức hay vô thức, tâm trạng tha hương vẫn ít nhiều chi phối sáng tác của các nhà văn xa xứ - những con người đủ can đảm, đủ nhận thức để và có cái nhìn chân thực nhất về chính bản thân họ Từ bi kịch tha hương, nhiều tác phẩm của họ còn nới rộng phạm vi quan tâm đến sự vong thân của con người trong một thế giới xa lạ, lạnh lẽo Đó hẳn là trường hợp của Đoàn Minh
Phượng với tiểu thuyết Và khi tro bụi
Khác với sáng tác của một số nhà văn hải ngoại như Thuận thiên về khai thác tình trạng con người tự lưu vong, đánh mất bản sắc trong một thế giới xa
lạ, nhưng đồng thời cũng không tìm thấy hơi ấm kí ức ấu thơ nơi miền đất quê nhà; Lê Ngọc Mai hay Phạm Hải Anh thì sáng tác luôn gắn với tên một vùng đất, luôn đề cập đến hai chữ quê hương; còn trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, ta cứ thấy bàng bạc một nỗi bi thương của những tâm hồn lạc loài vì
li hương, cội nguồn phân cách: “Tôi thấy mình lạc lõng và luôn có cảm giác như mình không tồn tại trên mặt đất Như thể mình bị cắt rời khỏi phần máu
thịt của mình” [16] Được cận kề quê hương trở thành nỗi khát khao luôn tồn
tại thẳm sâu trong miền vô thức của nhân vật, dù chẳng nói ra
Nhân vật chính An Mi chỉ là một trong những con người sống cách biệt
với quê hương xứ sở trong tiểu thuyết Và khi tro bụi Cả cuốn tiểu thuyết
xoáy sâu vào cảm xúc, vào tâm trạng và vào cuộc đời lưu lạc của An Mi Nhân vật phải chịu đựng đến hai lần bi kịch tha hương: lần thứ nhất khi là cô
bé mồ côi người Việt Nam, buộc phải rời quê hương sau chiến tranh đến sống trên đất Đức, lần thứ hai sau nhiều năm sống ở Đức, chồng cô chết và cô trở thành một người đàn bà không có một sợi dây gắn kết với bất cứ nơi nào, chỉ
Trang 28biết tha hương tìm kiếm chính mình trên những toa tàu “vì tôi biết mặt đất là thứ khó chia tay” [15]
Bi kịch tha hương của An Mi chắc hẳn đã bắt đầu từ lâu lắm, khi tự sâu trong trái tim, An Mi luôn biết mình không phải là người Đức Không phải ngẫu nhiên mà trong lễ tang chồng, An Mi chọn mặc áo tang màu trắng theo phong tục Việt Nam, và từ chối khoác lên người màu áo tang đen như những người Đức “Đừng bắt tôi làm khác, tôi chỉ có một lần này trong đời để mặc chiếc áo trắng dành cho anh” [24, tr.9] An Mi chọn cho mình màu áo tang trắng không hẳn là không có lý do Dù đã lâu rồi cô không còn nhắc đến quá khứ xuất xuất thân của mình (phải chăng thời gian đã làm cô quên hay trong thâm tâm cô cố ý quên đi quê hương nguồn cội?), nhưng sau bao năm sống nơi đất khách cô vẫn giữ tận sâu trong vô thức một chút hồn quê Bây giờ, trong nỗi tang thương mất mát, lí trí không thể kiềm giữ, vô thức vùng lên thành một hành động có phần bướng bỉnh và quyết liệt - mặc áo tang màu trắng để tự chứng minh mình là một kẻ tha hương: “Ở nơi tôi sinh ra, mầu trắng là màu tang chứ không phải đen Tôi tưởng tôi đã quên điều này, vậy tôi lại nhớ, và khi nhớ rồi điều đó trở nên quan trọng” [24, tr.9] Chiếc áo tang màu trắng còn cho thấy tâm trạng và cảm xúc đau đớn của An Mi lúc này, khi mất người chồng - nguồn yêu thương duy nhất của cô nơi đất khách Cô dự tang chồng với áo tang màu trắng lạc loài giữa rừng áo tang đen, đã báo hiệu điều gì đó bất thường Hai màu trắng và đen nhưng là khoảng ngăn cách mênh mông giữa Việt Nam và nước Đức, giữa quê hương và xứ người, giữa tôi và những người khác tôi Những mảng đối lập của truyện đã hiện ra, để rồi cô nhận ra mình cô độc trên cõi đời Cô là một cô gái Việt Nam sống trên đất Đức, lạc lõng, không còn người thân, không quá khứ, không hiện tại, không tương lai Cuộc sống xung quanh cô, tâm hồn cô chỉ còn là một khoảng trắng trống rỗng hư vô bị động không một chỗ dựa, không biết đi về đâu, lơ lửng
Trang 29giữa cuộc đời
Không chỉ màu trắng của chiếc áo tang, khi đối mặt với màu trắng của trang giấy, cảm giác tha hương của An Mi trở lại Bao lần trăn trở lần giở quyển sổ để viết ra một điều gì đó về đời mình, nhưng mãi An Mi cũng chỉ viết được hai dòng ngắn gọn: “Tôi là một đứa trẻ mồ côi Tôi đến từ đất nước
có chiến tranh” [24, tr.37] Hai dòng chữ và những trang trắng - một cuộc đời trắng không quá khứ, không hiện tại, không tương lai, không cội nguồn quê hương… Nhân vật luôn tự ý thức về bi kịch của người xa quê: “Tôi là khách
lạ bất cứ đâu Con người không có quê hương giống như một hạt cỏ gió đưa đến bám rễ trên vách đá, tôi biết thân phận của mình rất dễ vỡ” [24, tr.116];
“Tôi mồ côi, không có quá khứ, tình yêu, ước mơ, tôi không có một cái tên, chân dung hay linh hồn Tôi là một gian nhà trống… tôi không có gì để nhớ” Sau khi chồng chết, An Mi lâm vào bi kịch tha hương thêm lần nữa Cô rời bỏ ngôi nhà từng gắn bó mình với chồng để thực hiện chuyến hành trình
vô định trên những con tàu Cô gọi đó là hành trình tự hủy diệt: “Chỉ còn lại cái chết được chọn lựa” Cô sống trên những con tàu, đi qua những miền xa lạ của nước Đức, không gắn kết với ai và nơi nào quá lâu để hiểu nó hoặc để nó hiểu mình Hành trình đi tìm cái chết của An Mi chỉ vì vô tình mà biến thành một cuộc tìm kiếm để ngăn chặn một cái chết khác Toàn bộ câu chuyện ẩn trong một màn sương mờ ảo, hoang mang, đôi lúc rất khó nắm bắt Ta chỉ thấy, có một thân phận tha hương đang phải chịu đựng những xung đột về mặt văn hóa, phân vân giữa quá khứ và hiện tại, hiện tại và tương lai Để cuối cùng người đàn bà ấy nhận ra chị cũng chỉ là một trong số những người chị từng gặp và tiếp tục đi tìm Một người từ bỏ cội nguồn của mình sẽ không thực sự bám rễ vào đâu hết Phải chăng đây chính là điều trăn trở của Đoàn Minh Phượng - một Việt kiều luôn ý thức sâu sắc về cuộc sống xa quê hương,
xa cội nguồn dân tộc?
Trang 30Và khi tro bụi không chỉ là tấn bi kịch tha hương của nhân vật An Mi mà
đó còn là bi kịch lưu lạc chung cho kiếp người bơ vơ khắp nẻo Nếu như An
Mi lưu lạc vì xa xứ thì gia đình ông Kempf lại lưu lạc ngay trên chính đất nước mình vì hạnh phúc gia đình đổ vỡ: Ông Kempf mất vợ, mất con, Michael Salascher đi khắp nơi tìm em trai; cậu bé Marcus đi lạc trong rừng sâu được đưa về nuôi trong trại mồ côi ở Weilenthal
Atina, Marcus và Michael đều là những kiếp người tha hương Bị cắt lìa khỏi quê hương xứ sở, Anita mất đi sức sống, mất đi động lực làm người tựa như cá ra khỏi nước Atina không chăm lo được cho gia đình, rơi vào nghiện ngập, cô không biết làm ấm ngôi nhà Michael trốn chạy tổ ấm gia đình, trốn chạy quá khứ và dần dần, anh càng chạy càng xa, càng chạy càng không muốn trở về và đối mặt Marcus lạc lối trong khu rừng, bơ vơ, lạnh lẽo, đơn độc Em bị chính những người thân của mình bỏ rơi, đến cuối cùng, tự bản thân em quyết định trốn sâu vào một thế giới của riêng em, không còn biết mình là ai nữa
Chính bi kịch tha hương là nguồn cơn tạo ra nỗi cô đơn và bi kịch đánh mất bản ngã của các nhân vật trong tác phẩm Con người sống trong cuộc đời cần có một điểm tựa để neo giữ chính mình vào đâu đó, một nơi chốn vững chắc để che chở và bao dung mình Với Đoàn Minh Phượng, điểm tựa ấy, nơi chốn ấy chính là quê hương Thiếu quê hương, dường như là thiếu tất cả, là bi
kịch lớn nhất của một kiếp người Cảm thức thiếu quê hương, mặc cảm lạc loài
vì thế mà luôn thường trực, ám ảnh ngòi bút Đoàn Minh Phượng An Mi sở dĩ luôn cảm thấy mình “mất cả trọng lực”, như đang “rơi trong khoảng không” và
“rất dễ vỡ” vì “tôi là khách lạ ở bất cứ nơi đâu Con người không có quê hương giống như một hạt cỏ gió đưa đến bám rễ trên vách đá” [24, tr.116]
Có thể thấy, Và khi tro bụi là sự phản ánh một cách chân thực và sinh
động bi kịch tha hương của những người Việt xa xứ Họ đã và đang sống một
Trang 31cuộc đời tha phương cầu thực, nhàm chán và rơi vào bế tắc
2.2 Bi kịch cô đơn
Văn học hiện đại và hậu hiện đại có nhiều thay đổi về tư duy nghệ thuật trong việc tiếp cận với hiện thực đời sống con người Con người trong văn học hiện đại được quan niệm không còn đơn giản xuôi chiều, thay vào đó, nhà văn nhìn con người ở nhiều thang bậc giá trị, ở những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều kích, chân thực và toàn diện hơn Từ chỗ nhà văn cắt nghĩa các vấn đề cuộc sống liên quan đến con người theo hướng đa chiều mà cấu trúc thế giới nghệ thuật ở mọi thể loại văn học, từ đề tài, chủ đề phản ánh, kiểu thức kết cấu cho đến thế giới nhân vật, đã có những thay đổi sáng tạo, thử nghiệm mới mẻ, giúp nhà văn đi sâu khám phá thế giới bên trong đầy bí
ẩn và phức tạp Và kết quả là càng đi sâu càng lạnh, càng khám phá chính
mình, người ta càng hoảng hốt trước một cõi giới bên trong mênh mông, trống trải, đơn côi
Có thể nói, cô đơn là một trạng thái bi kịch, là nỗi đau tinh thần, là nỗi trăn trở của con người Triết học hiện sinh thường nói rất nhiều về bi kịch cô đơn Theo các nhà hiện sinh, con người là một cá thể duy nhất và đơn độc trong một thế giới vô nghĩa, đầy mâu thuẫn thù địch, nên phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình và được tự do định đoạt số phận của mình Gánh
nặng của việc phải trở thành người anh hùng của chính mình trong thời đại
mất Chúa, đã tạo ra tâm lí lo âu và nỗi cô đơn hiện sinh
Tắm trong bầu không khí rộng rãi của văn chương hải ngoại, Đoàn Minh Phượng có cơ hội tiếp nhận nguồn tri thức phong phú của triết học phương Tây Dường như chị đã đến với hiện sinh, bởi các sáng tác của Đoàn Minh Phượng là một bản hợp âm của cuộc sống trong đó có sự đan xen giữa thực và
hư, sống và chết Và khi tro bụi là câu chuyện nói về bi kịch cô đơn của cá
nhân trong cuộc chiến đấu bảo vệ bản ngã, chống lại một xã hội tẻ nhạt,
Trang 32chống lại quá trình bào mòn các cảm xúc của con người trong xã hội hiện đại Trên hành trình đi tìm bản thể nhọc nhằn, con người thường dễ rơi vào tâm
trạng cô đơn, khủng hoảng Và khi tro bụi có thể gọi là chuyến hành trình của
An Mi – một con người cô đơn đi tìm cái chết để tìm ra bí ẩn của sự chấm dứt vĩnh viễn của con người trên cõi đời này An Mi tìm mãi nhưng đến khi cận
kề cái chết, cô không những không tìm ra bí ẩn của cái chết mà lại nhận ra niềm khát khao sống cháy bỏng ở mình Và không chỉ An Mi, hầu như lượng nhân vật ít ỏi xuất hiện trong tiểu thuyết đều đắm chìm trong cõi riêng đầy cô đơn của họ, trong khi tất cả họ cùng mang một nỗi cô đơn lớn hơn – nỗi cô đơn của sự hiện sinh
An Mi là hiện thân của bi kịch cô đơn Cô gái một mình nơi xa xứ, dần mất tất cả người thương yêu: mẹ, em gái ở Việt Nam, bố nuôi, rồi người chồng cô yêu nhất Đơn độc, lẻ loi đã dẫn cô đến quyết định đi tìm cái chết trên những chuyến tàu An Mi cô đơn trước hết vì khác biệt Chồng chết, cô không thể khóc trong đám tang Tang chồng, cô tiễn đưa bằng chiếc áo trắng đối lập chói gắt với màu áo tang đen thông thường của nước Đức Cô lang thang trên những chuyến tàu, không dừng lại ở đâu lâu đủ để tạo ra bất kì một
sự gắn kết nào Cô suýt ân ái với một người đàn ông xa lạ vì “tất cả chực vỡ ra” khi cô nhìn thấy anh ta có vóc dáng giống chồng mình Cô cố chấp đi tìm
sự thật trong câu chuyện của người trực đêm, ngay cả khi những người trong cuộc đều ngoảnh mặt chối từ sự thật mà cô trao cho họ An Mi khác biệt, vì khác biệt nên cô đơn, kiểu như một bản sao nữ của nhân vật Meursault trong
Người xa lạ An Mi cô đơn, còn bởi cô nhận ra cuộc đời mình trống rỗng và
vô nghĩa khi mất đi cội nguồn Quá khứ của cô là những trang trắng với hai dòng khô khốc: “Tôi là một đứa trẻ mồ côi Tôi đến từ một đất nước có chiến tranh” [24, tr.38, 39] Khi cắt bỏ cội rễ quê hương thì An Mi cũng không thể bám rễ vào đâu được, không thể hòa nhập với cộng đồng Phải đến
Trang 33trước lúc chết, An Mi mới chợt hiểu ra điều ấy
Không chỉ An Mi, mà hầu như các nhân vật khác trong tác phẩm đều mang trong mình bi kịch cô đơn, từ cha mẹ nuôi của An Mi, Anita, Marcus, Michael cho đến ông Kempf
Anita là sự phân mảnh của nỗi buồn và nỗi cô đơn Anita cô đơn, lạc loài ngay trên mảnh đất cô đang sống Nơi miền đất lạ không phải quê hương, cảm giác lạc lõng càng tăng thêm gấp bội khi cô không được ai thấu hiểu Người ta xem cô là người đàn bà xấu và xa lánh cô, như sau này An Mi hỏi ra thì: “Tất
cả những người tôi gặp trong làng đều chống lại Anita, với họ, chị nghiện rượu và lang chạ” [24, tr.150] Cô đơn từ khi là một cô gái đặt chân đến miền đất không thuộc về mình, không là quê hương cô, cô luôn “nhớ tới tiếng sóng
âm thầm dưới đáy sông của dòng sông mênh mông nơi quê hương ở miền biển Đông, nhớ tới màu tím ngắt của bầu trời” [24, tr.136] Trong nỗi cô đơn,
cô chỉ biết chơi nhạc cùng cây hồ cầm vì không ai hiểu được nỗi buồn của cô:
“nỗi buồn của tôi sẽ là vực thẳm để tiếng nhạc của tôi rơi vào đó” [24, tr.136], Khi nỗi cô đơn dâng cao hơn, cô muốn ra đi, cô muốn say trong cơn men để quên đi nỗi cô đơn, quên đi cuộc sống tẻ nhạt Nỗi cô đơn đã khiến cô lạnh lẽo từ tận trong tim, đã khiến cô trở thành người không làm ấm được ngôi nhà, và tất nhiên, đẩy cô vào kết thúc đầy bi kịch
Sự cô đơn của người mẹ dường như lây lan tạo nên một bi kịch cô đơn truyền kiếp ở những đứa con của chị Michael sinh ra đã là một định mệnh của sự cô đơn Đôi mắt anh đẹp nhưng chất chứa đựng sự lạc lõng vô chừng
“Đôi mắt anh nghiêm nghị nhưng bất an, mịt mùng trong đó nỗi buồn của loài thú lạc” [24, tr.57] Khi Sophia khước từ không chia sẻ cùng anh những nỗi đau về gia đình mà anh gánh chịu, Michael đã ra đi trên hành trình đấu tranh
để sống và đi tìm sự thật cho mẹ và em ở một nơi xa lạ với một cái tên xa lạ
và một công việc nhàm chán Anh giấu tất cả nỗi đau vào bên trong và sống