Đặc biệt, tác giả Diệp Quang Ban với những công trình như: Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt, Văn bản Giáo trình cao đẳng sư phạm, Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản đã n
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
- -
BÙI THỊ THÙY DUYÊN
Đoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GVC TS
Bùi Trọng Ngoãn Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực, chưa được công bố trong công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong luận văn
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện
Bùi Thị Thùy Duyên
Trang 3Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của TS Bùi Trọng Ngoãn, sự đóng góp ý kiến thiết thực của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, cũng như sự động viên, chia sẻ của gia đình và bạn
bè
Với tình cảm chân thành, cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban chủ nhiệm khoa, tổ Ngôn ngữ, cùng các thầy cô giáo trong khoa, bạn bè và gia đình, đặc biệt là thầy giáo, TS Bùi Trọng Ngoãn - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn !
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 2010
Người thực hiện
Bùi Thị Thùy Duyên
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Bố cục của khóa luận 8
Chương Một: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
1.1 Lí thuyết chung về đoạn văn 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Phân loại đoạn văn 9
1.1.2.1 Đoạn văn bình thường 10
1.1.2.2 Đoạn văn đặc biệt 12
1.2 Đoạn văn mở đầu truyện ngắn 13
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Vai trò của đoạn văn mở đầu truyện ngắn 14
1.2.3 Đặc điểm của đoạn văn mở đầu truyện ngắn 15
1.2.3.1 Cấu trúc hình thức của đoạn văn mở đầu truyện ngắn 15
1.2.3.2 Cấu trúc nội dung của đoạn văn mở đầu truyện ngắn 16
1.3 Đoạn văn kết thúc truyện ngắn 17
1.3.1 Khái niệm 17
1.3.2 Vai trò của đoạn văn kết thúc truyện ngắn 17
1.3.3 Đặc điểm của đoạn văn kết thúc truyện ngắn 18
1.3.3.1 Cấu trúc hình thức của đoạn văn kết thúc truyện ngắn 18
1.3.3.2 Cấu trúc nội dung của đoạn văn kết thúc truyện ngắn 19
1.4 Nguyễn Huy Thiệp – cây bút truyện ngắn đặc sắc thời kì đổi mới 20
Trang 51.4.3 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 22
Tiểu kết chương một: 23
Chương Hai: ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 24
2.1 Đặc điểm hình thức đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn 24
Nguyễn Huy Thiệp 24
2.1.1 Đoạn văn mở đầu bình thường 24
2.1.1.1 Đoạn văn mở đầu theo kiểu diễn dịch 25
2.1.1.2 Đoạn văn mở đầu theo kiểu song hành 26
2.1.1.3 Đoạn văn mở đầu theo kiểu móc xích 27
2.1.1.4 Đoạn văn mở đầu theo kiểu quy nạp 29
2.1.1.5 Đoạn văn mở đầu theo kiểu tổng – phân – hợp 29
2.1.2 Đoạn văn mở đầu đặc biệt 30
2.1.2.1 Đoạn văn mở đầu là một từ 30
2.1.2.2 Đoạn văn mở đầu là câu đơn 31
2.1.2.3 Đoạn văn mở đầu là một bức thư 32
2.2 Đặc điểm nội dung đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp 33
2.2.1 Nội dung của đoạn văn mở đầu 33
2.2.1.1 Đoạn văn mở đầu giới thiệu chủ đề tác phẩm 34
2.2.1.2 Đoạn văn mở đầu nêu bật hình tượng nhân vật 35
2.2.1.3 Đoạn văn mở đầu dự báo về nội dung câu chuyện 36
2.2.2 Các kiểu mở đầu 37
2.2.2.1 Kiểu mở trực tiếp 37
2.2.2.2 Kiểu mở gián tiếp 39
2.3 Quan hệ giữa đoạn văn mở đầu với các yếu tố khác thuộc văn bản 44
2.3.1 Quan hệ giữa đoạn văn mở đầu với tiêu đề 45
Trang 62.3.2 Quan hệ giữa đoạn văn mở đầu với phần nội dung 46
Trang 7NGUYỄN HUY THIỆP 50
3.1 Đặc điểm hình thức đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn 50
Nguyễn Huy Thiệp 50
3.1.1 Đoạn văn kết thúc bình thường 50
3.1.1.1 Đoạn văn kết thúc theo kiểu song hành 50
3.1.1.2 Đoạn văn kết thúc theo kiểu diễn dịch 51
3.1.1.3 Đoạn văn kết thúc theo kiểu móc xích 52
3.1.1.4 Đoạn văn kết thúc theo kiểu quy nạp 53
3.1.1.5 Đoạn văn kết thúc theo kiểu tổng - phân - hợp 53
3.1.2 Đoạn văn kết thúc đặc biệt 54
3.1.2.1 Đoạn văn kết thúc là cụm từ 54
3.1.2.2 Đoạn văn kết thúc là một câu 55
3.1.2.3 Đoạn kết đặc biệt bằng những câu thơ 57
3.2 Đặc điểm nội dung đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn 59
Nguyễn Huy Thiệp 59
3.2.1 Nội dung phản ánh của đoạn văn kết thúc 59
3.2.1.1 Đoạn kết phản ánh sự vật, sự việc, hành động 60
3.2.1.2 Đoạn kết nêu lên tâm trạng, suy nghĩ, thái độ 62
3.2.2 Các kiểu kết thúc 64
3.2.2.1 Kết thúc khép 64
3.2.2.2 Kết thúc mở 65
3.3 Mối quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với các yếu tố khác thuộc văn bản 69
3.3.1 Quan hệ giữa đoạn kết với tiêu đề 69
3.3.2 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc và đoạn văn mở đầu 70
Tiểu kết chương ba: 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Nhà văn gặp thời may và văn học được may có nhà văn” [16, tr.6] Tác phẩm của ông vừa ra đời đã trở thành “mắt bão”, trở thành cái mà người
ta thường gọi là “trường văn, trận bút” Người mà chúng ta đang nói đến chỉ
có thể là một hiện tượng văn học – hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những cây bút truyện ngắn đặc sắc của văn học Việt Nam sau năm 1975 Nhà văn vừa xuất hiện “đã gây được dư luận, càng viết dư luận càng mạnh, truyện chưa ra thì người ta đã kháo nhau, truyện đăng rồi thì tranh nhau tìm đọc, đọc rồi thì gặp nhau bình phẩm, bàn tán, chốn phòng văn cũng như chốn vỉa hè đâu đâu cũng kháo chuyện…” [16, tr.6] Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng văn học luôn luôn được người ta nhắc đến và đem ra bàn cãi Nhắc đến để ngợi ca cũng có, “nhắc đến để chửi bới, mạt sát cũng có” [16, tr.463]
Cho dù có nhiều ý kiến trái ngược nhau nhưng không ai có thể phủ nhận được truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có một sức hút lớn Phạm Xuân Nguyên gọi ông là hiện tượng “hai lần lạ: nội dung lạ, nghệ thuật lạ” Ông đã
“khuấy đảo”sự bình yên của người đọc bằng cách viết rạch ròi, lạnh lùng khi nhìn vào hiện thực đời sống trần trụi Nhưng điều đáng quan tâm hơn ở đây là
sự “khuấy đảo”của kĩ thuật viết mới lạ Cụ thể, xét ở góc độ kết cấu văn bản, sức hút của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nằm ở chính cách viết đoạn văn
mở đầu và kết thúc truyện
Chọn đề tài: “Đoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi mong muốn góp phần làm rõ những kĩ thuật xây dựng truyện ngắn độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp Qua đó, chúng tôi cũng mong muốn thấy được dụng ý nghệ thuật và giá trị tạo nên phong cách của nhà văn trong sáng tạo văn chương
Trang 92 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
a Khái quát về tình hình nghiên cứu đoạn văn, đoạn văn mở đầu, đoạn văn kết thúc trong văn bản
* Khái quát về tình hình nghiên cứu đoạn văn
Là đơn vị cơ sở cấu thành văn bản, đoạn văn được nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản quan tâm Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu nước ngoài như: A.M Pescôpxki (1914), N.S Paspelôp (1946), K Bôstơ (1949), L.A Bulakhôpxky (1952), I.R Galpêrin (1985), O.I Moskalskaja… Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những thuật ngữ khác nhau để định danh đơn vị trung gian này A.M Pescôpxki gọi là đoạn văn; N.S Paspelôp cho là chỉnh thể cú pháp phức hợp; L.A Bulakhôpxky gọi là thể thống nhất trên câu…[7, tr.122] O.I Moskalskaja cho rằng: “Đơn vị nghiên cứu nhỏ nhất, và đồng thời lại là
cơ bản ở đây không phải là thể thống nhất trên câu, mà là đoạn văn, tức là đơn
vị không phải của cấp độ cú pháp mà là của cấp độ kết cấu thuần túy” [19, tr.119] Nhìn chung, các ý kiến còn gây nhiều tranh cãi và chưa đi đến thống nhất
Trong nước, từ những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề đoạn văn được nhiều người đi sâu tìm hiểu Trần Ngọc Thêm trong bài viết: “Bàn
về đoạn văn như một đơn vị ngôn ngữ” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, năm 1984)
đã đưa ra những luận chứng khẳng định: Đoạn văn là một đơn vị ngôn ngữ
Trong cuốn Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, nhóm tác giả
Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm cho rằng đoạn văn và những chỉnh thể trên câu là những khái niệm khác nhau: “Ðoạn văn không phải là một đơn vị ngữ pháp cấu thành văn bản kiểu như CTC Nó có thể trùng, nhưng cũng có thể không trùng với chúng” [5, tr.112] (CTC: chỉnh thể trên câu, chú thích của Bùi Thị Thùy Duyên)
Trong giáo trình Giản yếu về ngữ pháp văn bản, tác giả Đỗ Hữu Châu và
Nguyễn Thị Ngọc Diệu đã tập trung trình bày về câu chủ đề của đoạn văn, các
Trang 10phương tiện liên kết đoạn văn thông thường, quan hệ liên kết của các đoạn văn trong văn bản, phân loại đoạn văn, cách chia tách đoạn văn [8, tr.64 – 80]
Đặc biệt, tác giả Diệp Quang Ban với những công trình như: Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt, Văn bản (Giáo trình cao đẳng sư phạm), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản đã nghiên cứu một cách có hệ thống về cấu
tạo của đoạn văn, cụ thể ở các phương diện như: Đoạn văn và các kiểu loại văn bản, chia tách thành đoạn văn, câu đề trong đoạn văn, một số cấu trúc trong đoạn văn
Như vậy, các nhà ngữ pháp văn bản đã quan tâm nghiên cứu khá đầy đủ những biểu hiện về nội dung và hình thức của đơn vị đoạn văn Ở mặt nào đó, các ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất nhưng những tiền đề lí thuyết họ đưa ra
có ý nghĩa rất lớn đối với ngôn ngữ học
* Khái quát về tình hình nghiên cứu đoạn văn mở đầu, đoạn văn kết thúc trong văn bản
Một văn bản thông dụng thường có kết cấu ba phần: phần mở đầu, phần triển khai, phần kết thúc Mỗi phần có thể tương ứng với một đoạn văn (trong văn bản vừa đủ lớn) Như vậy, xét theo chức năng của đoạn văn trong văn bản, có thể nhận diện được ba loại: đoạn văn mở đầu, đoạn văn triển khai, đoạn văn kết thúc Đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc đã được các nhà ngôn ngữ học đi vào tìm hiểu qua một số công trình nghiên cứu như:
Đinh Trọng Lạc, trong Phong cách học văn bản, đã nghiên cứu về
“lốc” giao tiếp mở đầu (làm thành phần mở đầu) và “lốc” giao tiếp kết thúc Ở văn bản nghệ thuật, ông khẳng định: lốc mở đầu có chức năng nhập đề, lốc kết thúc hoàn thành chức năng ý chí tức là tác động đến người đọc để thay đổi trạng thái tâm - sinh lý của họ
Trong các cuốn: Giản yếu về ngữ pháp văn bản - Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản – Diệp Quang Ban, Tiếng
Trang 11Việt thực hành – Bùi Minh Toán (chủ biên), Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản – Nguyễn Chí Hòa, Dùng từ viết câu và soạn thảo văn bản –
Nguyễn Thị Ly Kha, các tác giả đã nêu lên những đặc điểm chung nhất của phần mở đầu và kết thúc văn bản Về cơ bản, các tác giả này đều cho rằng phần mở đầu có nhiệm vụ giới thiệu chủ đề, xác lập mối quan hệ giữa tác giả với người đọc Còn phần kết thúc làm nhiệm vụ đặt dấu chấm cuối cùng cho nội dung văn bản, thông báo về sự hoàn chỉnh, trọn vẹn của văn bản
Đặc biệt, đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc được nghiên cứu một
cách hệ thống trong công trình Lý thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt của
Phan Mậu Cảnh Đoạn văn mở đầu và kết thúc của văn bản được trình bày khá đầy đủ, chi tiết từ khái niệm, vai trò, đặc điểm hình thức, đặc điểm nội dung…
Có thể thấy rằng, cho đến nay, việc nghiên cứu về đoạn văn nói chung
và đoạn văn mở đầu, đoạn văn kết thúc trong văn bản nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu nhất định Các nhà ngôn ngữ học với mỗi cách tiếp cận, khai thác đối tượng khác nhau đều có những đóng góp riêng Đây được xem là cơ
sở quan trọng cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
b Khái quát về tình hình nghiên cứu tác giả Nguyễn Huy Thiệp
* Từ góc độ văn học
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu với những ý kiến khác nhau Phạm Xuân Nguyên nhận định rằng: “Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là người đầu tiên trong văn học Việt Nam lập kỷ lục có được nhiều bài viết nhất về sáng tác của mình, chỉ trong một thời gian ngắn, và không có độ lùi thời gian” [16, tr.7]
Tác phẩm Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp do Phạm Xuân Nguyên sưu tầm và
biên soạn (xuất bản năm 2001) đã tập hợp 54 bài viết của nhiều tác giả đăng trên các báo Ở đây, chúng tôi chỉ liệt kê một số bài viết tiêu biểu như:
Trang 12Hoàng Ngọc Hiến với bài viết: “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió” đã chỉ ra điểm nổi bật của Nguyễn Huy Thiệp là “đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại Tác giả đã không ngần ngại nêu lên những sự bê tha, nhếch nhác trong cuộc sống, kể cả những sự thật rùng rợn, khủng khiếp” [16, tr.10]
Đỗ Đức Hiểu trong hành trình Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp đã thấy “một
giọt vàng rơi vào lòng mình, giọt vàng ròng ngời sáng” [16, tr.472] Tác giả nhận thấy đặc trưng cơ bản của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là thơ ca và triết lí Đồng thời truyện Nguyễn Huy Thiệp “rất hiện đại về cấu trúc, ngôn
từ, về chính cái “viết” của nó” [16, tr.479]
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vài cảm nghĩ đã khẳng định “truyện của Nguyễn Huy Thiệp có một sức hấp dẫn
khó cưỡng lại được” [16, tr.458] Và “Nguyễn Huy Thiệp có một thế giới nhân vật cũng độc đáo Toàn những con người góc cạnh, gân guốc Người nào dường như cũng sống đến tận cùng cá tính của mình” [16, tr.459]
Xoay quanh những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt là
chùm truyện lịch sử: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau Vương Anh Tuấn trong bài viết Lịch sử trong quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp cho rằng Nguyễn Huy Thiệp đã nghiêng về phía “dân
gian” hoá, hư cấu lịch sử Đồng thời, tác giả nhận ra “những đặc điểm miêu tả trong truyện lịch sử Nguyễn Huy Thiệp cho ta liên tưởng nhiều hơn đến chủ nghĩa hiện thực kì ảo, ở đó có những quan niệm nghệ thuật ít nhiều phù hợp với quan niệm lịch sử của anh” [16, tr.332]
Trong bài viết Lịch sử Việt Nam qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,
T.N.Filimonova đã nhận xét “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn chung khá phức tạp và có nhiều bình diện cho phép có nhiều cách đọc khác Điều này cũng đúng đối với ba truyện lịch sử của anh” [16, tr.346]
Trang 13Nhìn chung, các bài viết đã làm rõ được một số vấn đề trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp như: yếu tố lịch sử, giọng điệu, cách tổ chức văn bản, xây dựng nhân vật…
Diệp Minh Tuyền với bài viết: Nguyễn Huy Thiệp, một tài năng mới đã
nêu lên những nhận xét có tính chất khái quát về ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Theo tác giả, đó “là thứ ngôn ngữ Việt Nam chính xác, trong sáng, tinh tế, giàu hình tượng, đầy cá tính Nó có nhiều lớp từ khác nhau: một lớp từ rất dân dã, đồng quê mà không quê mùa; một lớp từ đầy tính thị dân của Hà Nội đương đại; một lớp từ khác nữa lại phảng phất không khí
cổ xưa” [16, tr.402]
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Đoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” là một việc làm cần thiết trong việc khẳng định kĩ thuật viết truyện ngắn rất hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu
những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp được tập hợp trong cuốn Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp xuất bản năm 2003, NXB Văn học Bao gồm:
1 Chảy đi sông ơi
Trang 15Lưu ý: Tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát bao gồm 10 câu chuyện
tách biệt, được đặt tên và mang nội dung, hình thức trọn vẹn Vì vậy, khi khảo sát, chúng tôi xem tác phẩm này tương đương 10 truyện ngắn, cho nên số lượng truyện ngắn khảo sát sẽ là 47 truyện
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này được tiến hành bằng cách kết hợp các phương pháp nghiên cứu lí luận ngôn ngữ, phương pháp nghiên cứu văn học,
cụ thể là các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài này được
triển khai theo ba chương:
Chương Một: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài Chương Hai: Đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Chương Ba: Đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 16Chương Một NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Lí thuyết chung về đoạn văn
Lê A cho rằng: “Đoạn văn là đơn vị cơ sở cấu thành văn bản, trực tiếp đứng trên câu, diễn đạt một nội dung nhất định, được mở đầu bằng chỗ lùi đầu dòng, viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm ngắt đoạn” [18, tr.42]
Diệp Quang Ban quan niệm: “Đoạn văn thông thường được hiểu là một phần của văn bản tính từ chỗ viết hoa, thường lùi vào ở đầu dòng cho đến chỗ dấu chấm xuống dòng” [1, tr.203]
Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm đoạn văn của Diệp Quang Ban làm
cơ sở lí luận để nghiên cứu đề tài
1.1.2 Phân loại đoạn văn
Có nhiều cách phân loại đoạn văn dựa theo những tiêu chí khác nhau:
- Phân loại theo nội dung: Cách phân loại này lưỡng phân thành hai kiểu là: đoạn văn hoàn chỉnh về nội dung, đoạn văn không hoàn chỉnh về nội dung
Trang 17- Phân loại theo chức năng: Theo tiêu chí này, ta có ba loại: đoạn văn
mở đầu, đoạn văn triển khai, đoạn văn kết thúc
- Phân loại theo cấu trúc: Cách phân loại này phân chia đoạn văn thành hai loại lớn: loại đoạn văn bình thường (đoạn hoàn chỉnh về cấu trúc) và loại đoạn văn đặc biệt (không hoàn chỉnh về cấu trúc) Loại đoạn bình thường lại được phân ra thành 5 loại đoạn văn nhỏ hơn
Theo thiển ý của chúng tôi, trong các cách phân loại đoạn văn trên, cách phân loại dựa vào cấu trúc là cách tiếp cận gần hơn cả với việc cấu tạo một văn bản Vì thế, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể về cách phân loại này
1.1.2.1 Đoạn văn bình thường
Đoạn văn bình thường là đoạn văn phải chứa tối thiểu hai phần: phần
mở đoạn và phần triển khai (góc độ cấu trúc), có nội dung tương đối trọn vẹn, hình thức tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn bình thường bao gồm các loại đoạn văn diễn dịch, đoạn văn quy nạp, đoạn văn tổng – phân – hợp, đoạn văn song hành, đoạn văn móc xích
* Đoạn văn diễn dịch
Là đoạn văn có câu chủ đề đứng đầu, nêu nội dung chính có tính luận điểm, những câu tiếp theo có nhiệm vụ giải thích, chứng minh… cho câu chủ
đề Đây là kiểu trình bày nội dung đi từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng
Ví dụ:
Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước Việc đó không tốn kém, khó khăn gì Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được Mỗi ngày lúc ngủ dậy, tập một ít thể dục Ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe
(Hồ Chí Minh, trích theo [2, tr.168])
Trang 18* Đoạn văn quy nạp
Là đoạn văn có câu chủ đề đứng cuối, nêu nội dung chính có tính khái quát, các câu trước có nhiệm vụ nêu lên hiện tượng, dẫn chứng, tiền đề cụ thể… cho câu chủ đề - kết luận Đây là kiểu trình bày nội dung đi từ cụ thể đến tổng hợp, khái quát
Ví dụ:
Khi không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng Như thế mới đúng là Kiệm
(Hồ Chí Minh, trích theo [2, tr.169])
* Đoạn văn song hành
Là đoạn văn không có câu chủ đề Các câu trong đoạn có vai trò ngang nhau, không phụ thuộc chặt chẽ vào nhau
Ví dụ:
Rằm tháng Tám, trăng vẫn thiêng liêng, trong trẻo, trinh bạch như thể lần đầu tiên biểu hiện trên cõi đời trần tục này Con đường xưa cây nghiêng bóng trên đầu vẫn rung rinh tán lá như thế Mùa xuân, hai bên đường Nghi Tàm, Quảng Bá, hoa su si, hoa cúc vàng nở đẹp như những thảm hoa nghiêng màu Mùa hè, hoa sấu rụng li ti trắng bên đường Mùa thu, hoa sữa thơm nồng mái phố
(Nguyễn Thị Thu Huệ, trích theo [7, tr.145])
* Đoạn văn móc xích
Đoạn văn móc xích thường dùng để lập luận theo quan hệ kéo theo Về mặt nội dung, các câu đều có quan hệ qua lại Về mặt hình thức, câu sau bao giờ cũng lặp lại một phần của câu trước Phép lặp cấu trúc là dấu hiệu nhận dạng của loại đoạn này
Trang 19Ví dụ:
Muốn tăng gia sản xuất thì phải làm thủy lợi Muốn làm thủy lợi thì phải
có nhiều người, có sức lớn Muốn vậy, phải có hợp tác xã
(Hồ Chí Minh, trích theo [10, tr.93])
* Đoạn văn tổng – phân – hợp
Là đoạn văn có câu chủ đề đứng đầu và cuối đoạn văn, nêu nội dung chính có tính khái quát Những câu ở giữa có nhiệm vụ nêu hiện tượng, dẫn chứng, tiền đề cụ thể cho câu chủ đề - kết luận Là đoạn văn được trình bày theo cách: khái quát - cụ thể - khái quát
Ví dụ:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
(Nguyễn Khoa Điềm – Đoạn trích “Đất nước”,
Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.118)
1.1.2.2 Đoạn văn đặc biệt
Trong văn bản, có những đoạn văn được làm thành từ chỉ một câu và câu này có thể là câu một từ, hoặc cũng có khi đoạn văn được làm thành từ một “câu” không trọn vẹn (chỉ tương đương với một bộ phận nào đó của một câu thường gặp) Đó chính là đoạn văn đặc biệt Như vậy, đoạn văn đặc biệt
có nội dung không trọn vẹn, hình thức không hoàn chỉnh và thường xuất hiện
Trang 20trong văn bản văn xuôi văn học để tạo ra sắc thái ý nghĩa bổ sung nhằm diễn đạt các sắc thái tu từ
Ví dụ:
Bác chắt chiu để dành được hai trăm Đông Dương, định về tổ chức cho
nó cưới cái Soan xong bác hẵng về hậu phương mà tăng gia, nộp thuế nông nghiệp nuôi đồng đội
Về hậu phương…
Cấp trên cho bác về mấy lượt, bác còn chần trừ
(Lê Khâm, trích theo [2, tr.145])
1.2 Đoạn văn mở đầu truyện ngắn
Từ xưa đến nay, dung lượng của văn bản nghệ thuật không ai có thể xác định được Có những văn bản ngắn như một câu ca dao (gồm một liên lục
bát) hoặc dài tầm cỡ như toàn bộ sáng tác của H Bandắc (Bộ Tấn trò đời với
gần 100 tác phẩm gồm cả tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn) Ở đây, chúng tôi chỉ bàn đến văn bản truyện ngắn mà thực chất dài hay ngắn cũng khó xác định Có truyện ngắn dài 100 chữ nhưng có truyện trải ra đến 37 trang như
Chí Phèo của Nam Cao cũng chỉ được coi là một truyện ngắn
Như đã nói ở trên, một văn bản thường có kết cấu 3 phần Kết cấu của thể loại truyện ngắn lại thường mang tính phân đoạn Vì thế, phần mở đầu và phần kết thúc truyện ngắn, mỗi phần có thể tương ứng với một đoạn văn Từ
đó, ta có đoạn văn mở đầu truyện ngắn, đoạn văn kết thúc truyện ngắn
Nói như Tsekhov: “Theo tôi, viết truyện ngắn cốt nhất phải tô đậm cái
mở đầu và kết luận” [16, tr.138] Như vậy, rõ ràng người viết truyện ngắn thường tạo ấn tượng, sức lắng đọng cho tác phẩm bằng chính đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc
Trang 211.2.1 Khái niệm
Theo PGS.TS Phan Mậu Cảnh: “Đoạn văn mở đầu là một phần trong bố cục của văn bản, có nội dung liên quan trực tiếp chặt chẽ với các phần triển khai và kết luận, có vị trí đứng đầu văn bản” [7, tr 149]
1.2.2 Vai trò của đoạn văn mở đầu truyện ngắn
Cha ông ta thường nói “vạn sự khởi đầu nan” Vì lẽ đó, đoạn văn mở đầu truyện ngắn được người viết hết sức coi trọng Đoạn mở đầu có tác dụng thể hiện chủ đề của truyện Đoạn mở được ví như một điểm tựa để nảy nở các
ý tiếp theo ở đoạn văn triển khai Hay cũng có thể nói, nó như là khởi nguồn của dòng sông – dòng sông đây chính là các phần, các đoạn, chúng hợp lưu với nhau tạo thành văn bản truyện ngắn
Đoạn văn mở đầu có vai trò tạo không khí, giọng điệu cho toàn bộ tác phẩm Người viết cần phải cân nhắc, lựa chọn cách mở đầu thế nào cho phù hợp với nội dung ở các phần sau, đồng thời, lại phải tạo được “chiếc cầu trượt” về cảm xúc, tâm lí và nhất là gợi tạo không khí và giọng điệu
Ví dụ:
Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, mở đầu bằng câu văn: “Hắn vừa
đi vừa chửi…” đã có rất nhiều điều đáng nói Đây là lối vào đề rất tự nhiên Tác giả dùng đại từ “hắn” như thể là người đọc đã biết “hắn” là ai rồi, đã gặp
ở đâu đó trong đời thực rồi Bước vào đầu truyện mà đã nghe tiếng chửi, mà lại chửi nhiều, chửi liên tục, quả thật ngay từ đầu người viết đã tạo ra một không khí truyện thực sự ngột ngạt, căng thẳng Không chỉ vậy, cách vào đề này còn gây tâm lí tò mò (khi nghe tiếng chửi thông thường người ta muốn xem ai chửi, chửi ai…)
Đoạn văn mở đầu là tín hiệu đầu tiên, cùng với tiêu đề, được người đọc tiếp nhận Nó như cánh cửa, người ta phải mở ra trước khi đi vào ngôi nhà Cho nên, đoạn mở đầu, xét trong toàn bộ cấu trúc nội dung và hình thức văn
Trang 22bản truyện ngắn, là một tín hiệu mang tính thẩm mĩ Nó có sức thu hút, khơi gợi ở người đọc những rung động, những lôi cuốn để từ đó tìm hiểu các nội dung tiếp theo Đoạn mở đầu truyện ngắn còn mang tính dự báo: qua đoạn mở này, người đọc có thể đoán biết nội dung tiếp theo mà truyện triển khai là gì
Tóm lại, đoạn văn mở đầu truyện ngắn thường có chức năng giới thiệu
về hoàn cảnh (không gian, thời gian, địa điểm… xảy ra sự kiện), nhân vật tham gia nội dung câu chuyện, dự báo về nội dung câu chuyện (một cách kín đáo)
1.2.3 Đặc điểm của đoạn văn mở đầu truyện ngắn
1.2.3.1 Cấu trúc hình thức của đoạn văn mở đầu truyện ngắn
Xét về mặt cấu trúc hình thức, đoạn văn mở đầu truyện ngắn gồm hai loại: đoạn văn mở đầu bình thường và đoạn văn mở đầu đặc biệt
* Đoạn văn mở đầu bình thường
Đây là những đoạn văn gồm có nhiều câu được liên kết với nhau thành một chỉnh thể Xét về quan hệ giữa các câu trong đoạn, đoạn mở đầu cũng gồm có 5 loại cấu trúc đoạn văn thường gặp: đoạn văn mở đầu diễn dịch, đoạn văn mở đầu quy nạp, đoạn văn mở đầu song hành, đoạn văn mở đầu tổng – phân – hợp, đoạn văn mở đầu móc xích
Ví dụ:
Thanh lách cách cửa gỗ để khép, nhẹ nhàng bước vào Chàng thấy mát hẳn cả người: trên con đường gạch Bát Tràng rêu phủ, những vòng ánh sáng lọt qua vòm cây xuống nhảy múa theo chiều gió Một mùi lá tươi non phảng phất trong không khí Thanh rút khăn lau mồ hôi trên trán – bên ngoài trời nắng gắt – rồi thong thả đi bên bức tường hoa thấp chạy thẳng đến đầu nhà Yên tĩnh quá, không một tiếng động nhỏ trong căn vườn, tựa như bao nhiêu
sự ồn ào ở ngoài kia đều ngừng lại trên bực cửa
(Thạch Lam, trích theo [7, tr.156])
Trang 23* Đoạn văn mở đầu đặc biệt
Là đoạn văn mở đầu tác phẩm có thể là một từ, một cụm từ, hoặc một câu… Đây là những đoạn mở mang đậm màu sắc tu từ, thể hiện một cách ấn tượng ý đồ của tác giả và đạt hiệu quả nghệ thuật cao
Ví dụ:
Chiều
Nắng đã nhạt dần trên bãi biển Người dạo chơi qua lại thưa thớt hẳn…
(Nguyễn Thị Thu Trang, trích theo [7, tr.158])
1.2.3.2 Cấu trúc nội dung của đoạn văn mở đầu truyện ngắn
Xét từ phương diện cấu trúc nội dung, có một số kiểu mở thường gặp là: kiểu mở trực tiếp, kiểu mở gián tiếp
* Kiểu mở trực tiếp
Mở trực tiếp là đoạn mở nêu ra vấn đề hay đặt vấn đề không có những
ý dẫn dắt mà đi thẳng vào nội dung chủ đề của câu chuyện mà văn bản sẽ trình bày ở phần triển khai
Ví dụ:
Thế là xong Anh chết rồi đấy nhỉ? Không lẽ tôi lại vui khi được một cái tin như thế Nhưng thật tôi cũng không biết có nên buồn không đấy Có người bảo: “Sống khổ đến đâu, cũng còn hơn chết; cái tâm lí chung của người đời như vậy”
(Nam Cao, Truyện ngắn chọn lọc, NXB Văn học, 2005, tr.304)
* Kiểu mở gián tiếp
Kiểu mở gián tiếp là kiểu vào đề chưa đi vào nội dung chính như mở trực tiếp mà dẫn dắt các ý từ xa đến gần với nội dung chính, từ những thông tin khái quát để dẫn dắt dần vào nội dung chính
Một số kiểu mở gián tiếp thường gặp trong truyện ngắn như:
Trang 24- Mở bằng miêu tả bối cảnh: miêu tả cảnh huống không gian, thời gian
- Mở đầu là phần giới thiệu về nhân vật
- Mở đề bằng cách nêu lý do - căn cứ của bài viết
- Cách mở khơi gợi cảm xúc…
Ví dụ:
Như tất cả mọi người, khi bắt đầu tiếng khóc chào đời tôi cũng được cha mẹ, ông bà đặt cho cái tên để gọi Thế nhưng, từ khi gia nhập vào làng xe lôi, cái tên cúng cơm ấy chỉ còn hữu dụng trong gia đình, thân thuộc, bạn bè Còn ngoài đường phố mỗi lần gọi đến tôi, người ta bắt đầu bằng: anh xe lôi, cậu xe lôi hoặc thằng cha xe lôi… Nói chung là: Ê, xe lôi!
(Lê Thanh Nguyên, trích theo [7, tr.168])
1.3 Đoạn văn kết thúc truyện ngắn
1.3.1 Khái niệm
Theo PGS.TS Phan Mậu Cảnh: “Đoạn văn kết thúc là một phần trong bố cục của văn bản, có nội dung liên quan trực tiếp chặt chẽ với các phần triển khai và mở đầu, có vị trí đứng cuối văn bản, có chức năng khép lại cả về nội dung lẫn hình thức văn bản [7, tr.187]
1.3.2 Vai trò của đoạn văn kết thúc truyện ngắn
Là đoạn văn khép lại văn bản, đoạn văn kết thúc có vai trò quan trọng trong việc tạo sức sống cho truyện ngắn Đoạn kết không chỉ có vai trò tạo sự hoàn chỉnh cho tác phẩm mà còn có tác động không nhỏ đến những suy ngẫm, những mối liên tưởng của độc giả Đoạn kết như chu trình cuối của một “hành trình” dài nội dung mà người viết đã theo đuổi Đến đây, tư tưởng, chủ đề tác phẩm được bộc lộ, số phận của những nhân vật được khép lại
Ví dụ:
Sáng hôm sau, Điền ngồi viết Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm Và cả tiếng chửi bới của một người láng
Trang 25giềng ban đêm mất gà
(Nam Cao, Truyện ngắn chọn lọc, NXB Văn học, 2005, tr.112)
Đoạn kết khép lại tác phẩm đã bộc lộ chủ đề của truyện Từ nay, nghệ thuật đối với Điền không phải là thứ ánh trăng huyền ảo mà chính là hiện thực cuộc sống nghèo khổ Điền không trốn tránh sự thực mà “mở hồn ra đón lấy tất cả vang động của đời”
1.3.3 Đặc điểm của đoạn văn kết thúc truyện ngắn
1.3.3.1 Cấu trúc hình thức của đoạn văn kết thúc truyện ngắn
* Đoạn văn kết thúc bình thường
Cũng như đoạn văn mở đầu, đoạn văn kết thúc thường có 5 loại cấu trúc thường gặp: đoạn văn kết thúc theo cấu trúc diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích, tổng – phân – hợp
Ví dụ:
Ấy là một cái nạn xe hơi khủng khiếp Nạn nhân gần tắt thở Máu ra nhiều quá, khó còn phương cứu chữa Nhưng người ta cũng mải mốt đưa xác hắn vào nhà thương
(Nam Cao, Truyện ngắn chọn lọc, NXB Văn học, 2005, tr.231)
* Kết thúc bằng đoạn văn đặc biệt
Là đoạn kết khép lại tác phẩm, có thể là một từ, một cụm từ hoặc một câu đứng ở vị trí cuối tác phẩm Loại đoạn này tuy chưa trọn vẹn về nội dung
và hình thức nhưng nó lại thể hiện được một cách ấn tượng dụng ý nghệ thuật
và dấu ấn phong cách của nhà văn
Ví dụ:
Buông tay chị vội vàng choàng dậy, mở cửa chạy té ra sân
Trời tối như mực và như cái tiền đồ của chị
(Ngô Tất Tố, trích theo [7, tr.192])
Trang 261.3.3.2 Cấu trúc nội dung của đoạn văn kết thúc truyện ngắn
* Về nội dung
Qua việc phân loại nội dung những đoạn văn kết trong các tác phẩm truyện ngắn, chúng tôi nhận thấy đoạn văn kết thúc thường thể hiện những nội dung sau:
- Đoạn văn kết thể hiện kết cục (kết quả, hậu quả, tình tiết kết thúc…) của nội dung – diễn biến đã nêu ở phần trước
- Đoạn văn kết thúc mang nội dung gợi mở, định hướng vấn đề
- Đoạn văn kết thúc thể hiện cảm xúc, thái độ đánh giá cũng như suy nghĩ của tác giả
* Về cách thức kết thúc
Đoạn văn kết thúc truyện ngắn thường có hai kiểu kết: kiểu kết thúc khép và kết thúc mở
• Đoạn văn kết thúc khép
Là đoạn kết làm cho văn bản hoàn chỉnh về nội dung, trọn vẹn về chủ
đề, rõ ràng về tư tưởng, thái độ Người viết đã làm “xong” nhiệm vụ của mình, còn người đọc cũng hiểu rõ chủ đề - tư tưởng mà nội dung văn bản đã thể hiện Biểu hiện của kết khép:
- Đó là kiểu kết thúc có hậu
- Kiểu kết đúc rút bài học, nêu triết lý một cách hiển ngôn qua nội dung
Ví dụ:
Nhu đã nghe những lời như đinh đóng cột của anh Nhu lại thừ mặt
ra một lúc lâu Nhu khóc như mưa… rồi Nhu đã làm gì? Hỡi ôi! Nhu đã vâng theo: Nhu trở về với chồng, với vợ hai và sống như một con vú trong nhà chúng, trong cái cơ nghiệp mà chính tay Nhu đã dùng tiền của mẹ mình tạo ra
(Nam Cao, Truyện ngắn chọn lọc, NXB Văn học, 2005, tr.339)
Trang 27Với đoạn kết này, số phận Nhu đã an bài Trong hoàn cảnh ấy, với bản tính hiền lành, nhu nhược, cuộc đời Nhu rồi sẽ chẳng bao giờ sang một tương lai khác Nhu sẽ mãi mãi chịu khổ nhục và an phận
• Đoạn văn kết thúc mở
Khác với kết thúc khép, kết thúc mở là kiểu kết thúc mở ra hướng suy nghĩ cho bạn đọc Tác phẩm tạo ra một khoảng trống tự do để độc giả là người đồng sáng tạo, có thể đưa ra những cách kết thúc khác nhau Kiểu kết này không bị gò bó và thường tạo sự bất ngờ Hiện nay, xu hướng kết thúc mở đang được nhiều nhà văn sử dụng trong các sáng tác của mình
Ví dụ:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…
(Nam Cao, Truyện ngắn chọn lọc, NXB Văn học, 2005, tr.53)
Đoạn kết này là liên tưởng của thị Nở về tương lai, về một cuộc đời đang được hình thành
1.4 Nguyễn Huy Thiệp – cây bút truyện ngắn đặc sắc thời kì đổi mới 1.4.1 Cuộc đời
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950 tại Thanh Trì, Hà Nội Thuở nhỏ, ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ,
từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc Phải chăng vì thế, nông thôn và người lao động đã để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong sáng tác của ông, đồng thời tạo ra nguồn cảm hứng và “tư liệu” quý giá để ông viết nên những tác phẩm đặc sắc về nông thôn Việt Nam
Trong cuộc đời mình, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng sâu sắc lối giáo dục của ông ngoại - một người am hiểu Nho học Không chỉ vậy, ông còn chịu ảnh hưởng từ mẹ, vốn là người sùng đạo Phật Có lẽ vì vậy, trong nhiều truyện ngắn của ông, ta thấy thấp thoáng hình bóng quy luật nhân
Trang 28quả, và những cái phù vân, vô nghĩa của thế sự nhân sinh
Năm 1960, gia đình ông chuyển về quê, định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ, Hà Nội
Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa Sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
và lên dạy học ở Tây Bắc
Năm 1980, ông chuyển về làm việc tại Bộ Giáo dục và Đào tạo Sau đó làm việc ở Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục bản đồ cho đến khi về hưu Cuộc sống nhiều bôn ba với những chuyến đi và kinh nghiệm thực tế đã giúp Nguyễn Huy Thiệp có được cái nhìn khá sâu sắc và khách quan về hiện thực đời sống
1.4.2 Quá trình sáng tác
Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trên văn đàn Việt Nam khi đã ở tuổi tứ
tuần, với chùm truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát đăng trên báo Văn nghệ
năm 1986 Nhưng tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đã nhanh chóng khẳng định được chỗ đứng của mình trong lòng bạn đọc trong nước và nước ngoài
Nguyễn Huy Thiệp sáng tác cả truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết với những góc nhìn mới và táo bạo về cuộc sống Trong đó, có thể xem truyện ngắn là
một sở trường độc đáo của ông với nhiều tác phẩm có giá trị như Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Con gái thuỷ thần, Tướng về hưu, Không có vua,…
Về thể loại kịch có thể kể đến: Xuân Hồng, Còn lại tình yêu, Gia đình, Nhà tiên tri, Hoa sen nở ngày 29 tháng 4… và nhiều bài thơ (chưa xuất bản
tập thơ nào song thơ xuất hiện khá nhiều trong các truyện ngắn của ông)
Năm 1996, Tiểu long nữ được coi là “tiểu thuyết đầu tay” – cuốn tiểu
thuyết đầu tiên của ông được chính thức xuất bản bởi NXB Công an Nhân
dân Ông còn một số tiểu thuyết khác như Tuổi hai mươi yêu dấu do NXB E’dition del’Aube xuất bản năm 2002, tiểu thuyết Gạ tình lấy điểm do NXB
Hội Nhà văn xuất bản năm 2007
Trang 29Ngoài ra, ông còn viết tiểu luận phê bình đăng trên nhiều báo, tạp chí trong và ngoài nước
Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được dịch ra nhiều thứ tiếng như: Anh, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hàn Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia…
Như vậy, tuy sáng tác không nhiều nhưng những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết tạo được tiếng vang và dấu ấn đậm nét trong lòng bạn đọc Tài năng của ông đã được ghi nhận bằng giải thưởng Nonino tại Ý năm
2008 – giải thưởng tôn vinh những nhà văn nổi tiếng trên thế giới
1.4.3 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những cây bút truyện ngắn đặc sắc thời
kì đổi mới với hơn 50 truyện ngắn đã được xuất bản Tác phẩm của ông in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và người lao động Mảng đề tài nhà văn hướng đến rất đa dạng, bao gồm: lịch sử và văn học, hơi hướng huyền thoại
và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, làng quê và những người lao động… Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất đa dạng, phong phú Có thể thấy hai nhân vật chính trong truyện ngắn viết về đời sống hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp là người nông dân và tầng lớp tiểu thị dân thành thị “Có loại như chui lên từ bùn lầy, rác rưởi, tâm địa đen tối, có loại lại như những bậc chí thiện, có thể bao dung cả kẻ xấu, người ác, thậm chí sẵn sàng chết vì đồng loại” [16, tr.459] Với góc nhìn thẳng thắn vào hiện thực đời sống, ông đã nêu lên những bê tha, ích kỉ, hèn kém… để thấy được những mảnh vụn của đời sống thực tại đương thời Qua đó, thúc giục con người hãy sống tốt hơn, tránh xa những bê tha và tội ác
Hơn nữa, trong những truyện viết về đề tài lịch sử, tác giả đã tiếp cận nhân vật dưới góc độ đời thường nhất Ông lôi xuống đời thường những đỉnh cao của lịch sử, trần tục hóa các vua Gia Long, Quang Trung và các nhân vật lịch sử như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ… Hay trong những
truyện mang hơi hướng cổ tích như chùm truyện ngắn Những ngọn gió Hua
Trang 30Tát, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng nhiều nhân vật đặc biệt Đó có thể là
những cô gái xinh đẹp, thông minh, những chàng trai khoẻ mạnh, tài trí vượt qua được những thử thách
Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp “là thứ ngôn ngữ Việt Nam chính xác, trong sáng, tinh tế, giàu hình tượng, đầy cá tính” [16, tr.401] Nhà văn sử dụng nhiều lớp từ khác nhau như: lớp từ dân dã, đồng quê; lớp từ đầy tính thị dân của Hà Nội đương đại, lớp từ phảng phất không khí cổ xưa… Những từ ngữ được sử dụng rất đúng chỗ đã tạo nên hiệu quả rõ rệt và sức hút cho tác phẩm của ông
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp gây ấn tượng mạnh đối với người đọc
có lẽ bởi chính chất giọng lạnh lùng, tàn nhẫn của một con người dám nhìn thẳng vào sự thật và một tư duy sắc lạnh, nhưng ẩn chứa sau những lời văn ấy
là một tấm lòng nhân ái sâu xa, trìu mến đối với con người Đọc truyện ngắn của ông ta như bước vào một thế giới mà ở đó diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa cái thiện và cái ác, cái mới và cái cũ, giữa ranh giới mong manh của cái chân – thiện – mĩ, của cái tài và cái tâm Tất cả đã làm nên sự sắc sảo và chiều sâu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Có thể nói, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp xứng đáng là “những viên ngọc Biện Hoà, những viên ngọc với lớp đá vỏ xù xì, thô ráp bên ngoài, và nó đẹp nhất chính vì người ta biết trong lớp đá đó tiềm ẩn một viên ngọc” [16, tr.118]
Trang 31Chương Hai ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP
Như đã nói ở chương một, phần mở đầu và phần kết thúc văn bản truyện ngắn, trong đó có truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được cấu tạo từ một đoạn văn Nhưng cũng có khi, nó được cấu tạo gồm hơn một đoạn văn Giới hạn của đề tài này là tìm hiểu đoạn văn mở đầu – đoạn văn đầu tiên; đoạn văn kết thúc – đoạn văn cuối cùng trong tác phẩm
Là một trong những gương mặt tiên phong mở đường cho công cuộc đổi mới văn học, Nguyễn Huy Thiệp không chỉ chú ý đổi mới đề tài, nội dung phản ánh mà ông còn rất quan tâm đến cách thức tổ chức tác phẩm Đặc biệt, với những đoạn văn mở đầu đầy ấn tượng, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo được cách “dựng truyện” riêng, hình thành phong cách nghệ thuật độc đáo Qua việc xem xét đoạn văn mở đầu tác phẩm ở các góc độ như: cấu trúc hình thức, các kiểu mở đầu, đặc điểm nội dung, mối quan hệ của đoạn mở đầu với các yếu tố khác thuộc văn bản, chúng tôi cố gắng làm nổi bật những đặc trưng của đơn vị ngôn ngữ này
2.1 Đặc điểm hình thức đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
Đoạn văn mở đầu là một phần cấu tạo nên văn bản Vì thế, về mặt cấu trúc hình thức, đoạn mở đầu cũng có điểm giống với cách cấu trúc của các đoạn văn khác trong văn bản Đoạn văn mở đầu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có hai loại: đoạn văn mở đầu bình thường và đoạn văn mở đầu đặc biệt
2.1.1 Đoạn văn mở đầu bình thường
Đoạn văn mở đầu bình thường là những đoạn văn được sử dụng nhiều trong tác phẩm, có nội dung tương đối trọn vẹn và hình thức tương đối hoàn chỉnh Qua khảo sát 47 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy
Trang 32đoạn mở đầu bình thường chiếm tỉ lệ cao 85,1% (40/47) Xét mối quan hệ giữa các câu trong đoạn mở đầu thấy xuất hiện các kiểu đoạn văn sau:
2.1.1.1 Đoạn văn mở đầu theo kiểu diễn dịch
Đoạn văn mở đầu theo kiểu diễn dịch là đoạn văn có câu đầu nêu nội dung khái quát, những câu sau “phụ họa” cho câu đầu, dẫn dắt các ý tuần tự vào truyện Kiểu đoạn văn này được các nhà văn sử dụng nhiều trong đoạn
mở đầu vì điểm mạnh của nó là đặt ra vấn đề có tính chất khái quát cho toàn tác phẩm Đến phần nội dung, người viết sẽ làm nhiệm vụ triển khai cụ thể phần đặt vấn đề ấy Ở đoạn văn mở đầu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, kiểu đoạn văn diễn dịch được tác giả sử dụng nhiều, chiếm 65% (26/40) cao nhất trong các kiểu đoạn văn
Ví dụ:
(1) Sinh là một thiếu nữ mồ côi ở bản Hua Tát (2) Nghe nói ngày xưa
mẹ nàng bị ma chài, đẻ nàng trong rừng (3) Nàng gầy gò, bé nhỏ, trông rất đáng thương (4) Nàng không bao giờ được ăn miếng ngon, mặc váy áo đẹp (5) Thân phận côn hươn, nàng sống thui thủi như con chim cút [17, tr 310]
(Nàng Sinh – Những ngọn gió Hua Tát)
Câu (1) nêu đối tượng “nàng Sinh” với hoàn cảnh là “thiếu nữ mồ côi” Câu (2) giới thiệu về xuất thân Câu (3) giới thiệu về ngoại hình Câu (4) giới thiệu về gia cảnh nghèo khó Câu (5) giới thiệu về thân phận Các câu (2), (3), (4), (5) cùng tập trung làm rõ hoàn cảnh mồ côi đáng thương của nàng
Ví dụ:
(1) Trong số người quen của tôi, tôi rất nể phục nhà nghiên cứu văn học X (2) Anh am hiểu các vấn đề lý luận văn học ở ta (lĩnh vực mà thú th ực tôi không hiểu gì mấy) (3) Những bài viết của X có thời được nhiều người ví như “ngọn roi” quất vào “con ngựa sáng tác văn học” giúp nó ph i nhanh hơn và không trật đường [17, tr.38]
(Cún)
Trang 33Câu (1) nêu lên thái độ nể phục của nhân vật “tôi” đối với “nhà nghiên cứu văn học X” Câu (2) giới thiệu X là người am hiểu các vấn đề lí luận văn học Câu (3) giới thiệu về giá trị những bài viết của X Như vậy, các câu (2), (3) tập trung giải thích vì sao nhân vật “tôi” lại có thái độ ấy
Ví dụ:
Lò Văn Pành là ông già nổi tiếng ở bản Hua Tát Hơn tám mươ i tuổi, hàm răng của ông vẫn còn đều tăm tắp như răng chàng trai mười bảy tuổi Cối đá giã gạo, ông dùng một tay cử lên như bỡn Ông làm bằng ba người khác Uống rượu cũng vậy, sức ông có thể chấp nổi muôn người Tráng đinh trong bản Hua Tát nhìn ông kiêng nể [17, tr.296]
(Đất quên)
Qua việc khảo sát đoạn văn mở đầu, chúng tôi nhận thấy cả mười câu
chuyện trong chùm truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát, nhà văn đều sử
dụng cách viết đoạn mở theo kiểu diễn dịch Ở đoạn mở, câu đầu thường được viết theo một khuôn mẫu chung: Trạng ngữ chỉ thời gian/ nơi chốn + nhân vật tham gia câu chuyện Các câu tiếp theo tập trung giải thích cho câu đầu Cách mở này cho thấy lối tư duy rất rạch ròi, chặt chẽ; lối viết nghiêm ngặt, không dư thừa Đồng thời, đây cũng là nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Có thể nói, ông đã vận dụng khéo léo cách dẫn truyện của những câu chuyện cổ tích vào tác phẩm của mình
2.1.1.2 Đoạn văn mở đầu theo kiểu song hành
Là đoạn văn mà các câu trong đoạn có quan hệ bình đẳng với nhau, mỗi câu nêu lên một vấn đề, một sự kiện, một đối tượng khác nhau nhằm tạo cái
cớ để vào đề Kiểu đoạn văn này được sử dụng khá ít vì nó không có khả năng thâu tóm, nêu lên luận điểm chính cần được triển khai ở nội dung câu chuyện
Trang 34Khảo sát 40 truyện ngắn có đoạn mở bình thường của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy đoạn mở đầu theo kiểu song hành chiếm 20% (8/40) đứng thứ hai sau đoạn văn diễn dịch
Ví dụ:
(1) Thằng bé con 11 tuổi (2) Nó chạy dọc bờ đê (3) Mưa bụi giăng giăng (4) Bây giờ là mùa xuân (5) Những cánh buồm đang ngược gió [17, tr 515]
(Lòng mẹ)
Đoạn văn gồm có năm câu Câu (1) và câu (2) phụ thuộc vào nhau, cùng nói đến đối tượng là “thằng bé con” Câu (3) nói đến đối tượng mưa bụi Câu (4) nói đến thời gian Câu (5) nói đến đối tượng cánh buồm Ta thấy, năm câu này nói đến bốn đối tượng khác nhau, không có mối quan hệ gì về mặt hình thức cũng như nội dung ngữ nghĩa Tất cả các câu góp phần vẽ ra một bối cảnh không gian, thời gian làm nền cho đối tượng “thằng bé” xuất hiện
có quan hệ ngang hàng, không câu nào phụ thuộc câu nào
2.1.1.3 Đoạn văn mở đầu theo kiểu móc xích
Các câu trong đoạn mở có quan hệ nối tiếp, móc xích với nhau Câu trước làm tiền đề cho câu sau xuất hiện, chúng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Đoạn văn mở đầu theo kiểu móc xích ở truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp chiếm 7,5% (3/40) đứng ở vị trí thứ ba
Trang 35Ví dụ:
(1) Nửa đầu thế kỷ trước, ở Kẻ Noi, huyện Từ Liêm có ông Phạm Ngọc Liên là bậc đại phú (2) Ông Liên xây nhà trên miếng đất đầu làng (3) Miếng đất này bằng phẳng, rộng ba sào hai thước (4) Có người đi qua bảo rằng:
“Đất này đẹp, hình bút, phát về văn học Đã phát về văn học thì nước cạn, tàu ráo, hiếm con trai” (5) Ông Liên nghe xong, níu áo người đó bảo: “Tôi bình sinh là dân cày cuốc mong con cháu sau này có ít chữ nghĩa mở mặt với đời Hiếm con cháu cũng được, miễn là có đức, thiên hạ nể trọng” (6) Người đó cười: “Chữ nghĩa có ăn được không?” (7) Ông Liên bảo: “Không ăn được” (8) Người đó bảo: “Thế đa mang chữ nghĩa làm gì?” (9) Ông Liên bảo: “Gì thì gì, nó cũng hơn cày cuốc” (10) Người đó hỏi: “Nhiều chữ nghĩa thì có đức à?” (11) Ông Liên bảo: “Phải” (12) Người đó cả cười, hỏi gì cũng không nói nữa rồi phất áo đi (13) Ông Liên giận, bảo: “Đồ cuồng” [17,
tr.338]
(Giọt máu)
Ở đoạn văn này, ta thấy các câu liên kết với nhau tạo thành một chuỗi liên kết liền mạch Câu (1) giới thiệu ông Liên là bậc đại phú Câu (2) giới thiệu việc ông xây nhà trên miếng đất đầu làng Câu (3) giải thích rõ hơn về đặc điểm của miếng đất ấy Từ tiền đề “miếng đất”, câu chuyện giữa ông Liên
và người qua đường bắt đầu phát sinh Câu (4), (6), (8), (10), (12) là câu hỏi của người qua đường Câu (5), (7), (9), (11), (13) là câu trả lời của ông Liên Câu hỏi của người qua đường chính là cơ sở cho sự xuất hiện câu trả lời của ông Liên
Ví dụ:
Bản Hoan có 17 ngôi nhà sàn đều làm theo lối cổ của người Mường
Cả bản nhà nào cũng có khung dệt thổ cẩm Thổ cẩm ở đây dùng để may váy
Trang 36áo, may chăm đệm, cũng để mang bán ở chợ Bờ và chợ thị xã Hòa Bình [17,
tr.586]
(Thổ cẩm)
Như vậy, cách xây dựng đoạn văn mở theo kiểu móc xích khơi gợi trí
tò mò ở người đọc, khiến người đọc phải đọc hết cả đoạn để nắm bắt chủ đề
tư tưởng của truyện
2.1.1.4 Đoạn văn mở đầu theo kiểu quy nạp
Khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy đoạn mở theo kiểu quy nạp chiếm số lượng ít, chỉ 2/40 truyện, chiếm 5%, đứng vị trí thứ tư
2.1.1.5 Đoạn văn mở đầu theo kiểu tổng – phân – hợp
Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy xuất hiện rất ít đoạn mở theo kiểu tổng – phân – hợp, chỉ chiếm 2,5% (1/40), đứng vị trí thứ năm
Ví dụ:
(1) Sau Tết Nguyên đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng (2) Cây cối đều nhú lộc non (3) Rừng xanh ngắt và ẩm ướt (4) Thiên nhiên vừa trang trọng, vừa tình cảm (5) Điều ấy một phần là do mưa xuân [17, tr 76]
(Muối của rừng)
Trong đoạn văn trên, câu (1) là lời giới thiệu khái quát sự thay đổi của vạn vật ở rừng sau Tết Nguyên đán Các câu (2), (3), (4) giúp chúng ta hình
Trang 37dung cụ thể sự thay đổi ấy như thế nào Đến câu (5) tác giả tóm lại nguyên nhân tất cả sự thay đổi ấy là do mưa xuân
Như vậy, qua khảo sát đoạn văn mở đầu bình thường trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy nhà văn đã sử dụng hầu hết các kiểu đoạn văn Tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng mỗi loại đoạn văn là khác nhau Trong đó, đoạn văn mở đầu theo kiểu diễn dịch chiếm ưu thế đặc biệt vì đây là kiểu trình bày
đi từ khái quát đến cụ thể, phù hợp với việc dẫn dắt người đọc vào nội dung câu chuyện sẽ kể Đoạn mở theo kiểu song hành, móc xích, quy nạp, tổng – phân – hợp ít được sử dụng Đó là do đặc trưng của thể loại truyện ngắn và do phong cách ngôn ngữ của nhà văn
2.1.2 Đoạn văn mở đầu đặc biệt
Trong văn bản truyện ngắn, vì dụng ý nghệ thuật của tác giả, một số trường hợp, các câu trong đoạn mở đầu lại được tách thành những đoạn riêng, chúng tôi gọi đó là loại đoạn văn mở đầu đặc biệt (có thể gọi bằng những tên gọi khác như: đoạn văn phi chuẩn mực, đoạn văn không hoàn chỉnh) Về mặt
lí thuyết, điều này đã được nhóm tác giả Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm thừa nhận: “Bất kì một từ, một câu, một nhóm câu, một chỉnh thể câu, một nhóm chỉnh thể câu nào cũng có thể tách ra được thành một đoạn văn” [7, tr.128]
Còn về thực tế, qua khảo sát 47 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy có 7 truyện sử dụng đoạn văn mở đầu đặc biệt, chiếm 14,9 % (7/47) Đoạn văn mở đầu đặc biệt trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp gồm: đoạn văn mở đầu là từ, đoạn mở đầu là câu đơn, đoạn mở đầu là một bức thư
2.1.2.1 Đoạn văn mở đầu là một từ
Đoạn văn mở đầu có hình thức là từ xuất hiện không nhiều Nó không tồn tại độc lập mà thường phụ thuộc vào đoạn văn sau nó Sự không hoàn chỉnh về mặt hình thức buộc nó phải liên kết chặt chẽ với đơn vị sau để đảm
Trang 38bảo mặt nội dung ngữ nghĩa Ý nghĩa mà loại đoạn văn này thể hiện ẩn rất sâu trong khuôn khổ một lượng từ ít ỏi
Trong tổng số 7 truyện ngắn sử dụng đoạn văn mở đầu đặc biệt thì có 1 truyện ngắn đoạn mở đầu dưới dạng hình thức là từ, chiếm 14,3 % (1/7)
tư tưởng tác phẩm một cách kín đáo
2.1.2.2 Đoạn văn mở đầu là câu đơn
Đoạn mở đầu là câu đơn có khả năng thông báo một nội dung tương đối đầy đủ Trong tác phẩm, có khi nó đứng tách dòng trở thành một đoạn văn đặc biệt và thường mang nội dung tường thuật Khảo sát đoạn văn mở đầu đặc biệt trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy đoạn văn mở đầu là câu đơn chiếm 71,4 % (5/7)
Trang 39Đoạn văn trên có nội dung thông tin về một lời nhận định: “nghe nói ở ngoại thành có một chợ bán phân” và hành động đến xem chợ phân của nhân vật “tôi”
Ví dụ:
Năm 17 tuổi, sau khi học xong trung học, tôi // về nghỉ hè ở nhà một
Trạng ngữ C V người bạn cùng lớp tên là Lâm ở xóm Nhài, thôn Thạch Đào, tỉnh N [17, tr.162]
(Những bài học nông thôn)
Đoạn văn có nội dung thông tin về sự kiện: nhân vật tôi về nghỉ hè ở nhà người bạn cùng lớp tên là Lâm
2.1.2.3 Đoạn văn mở đầu là một bức thư
Nguyễn Huy Thiệp không chỉ tạo ra đoạn mở đầu đặc biệt là một từ, một câu văn mà tác giả còn mở đầu truyện ngắn của mình bằng một bức thư (một văn bản) Có thể nói, đây là lối dẫn truyện hết sức sáng tạo của nhà văn
Khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy đoạn văn
mở đầu bằng một bức thư chiếm số lượng nhỏ 14,3% (1/7)
Ví dụ:
Em,
Anh bắt đầu truyện ngắn này lúc 8 giờ sáng trong một quán cà phê tồi
Trang 40tệ nhất thành phố Quán vắng khách, không ai quấy rầy anh Trời đang mưa
Anh ngồi viết Khuôn mặt em hiện ra trong anh Em đang ở xa Em đang ở đâu? Những ý nghĩ của anh hướng cả về em Em hiển hiện Em ngồi bên cạnh và sắp xếp những con chữ rời rạc
Hôm ấy trời cũng mưa, mưa như trút Anh và em ngồi trong xó tối Trước mặt chúng ta có hai phụ nữ, một người thấp, một người cao, cả hai đều đẹp Anh nhắc em chú ý đến cô gái cao, để tóc xõa, mỗi khi cười lại hay ngả người vào ghế Em hỏi anh tên người ấy Anh bảo: “Gọi gì mà chẳng đượ c? Tên người cũng là một thứ kí hiệu thôi Anh gọi cô ta là N” Em bảo: “Thế người ngồi cạnh là M à?” Anh bảo: “Phải” [17, tr.402]
(Mưa)
Thư từ vốn là phương tiện truyền tải tình cảm, cảm xúc Cách vào đề bằng một bức thư khiến cho câu chuyện được kể thấm đẫm cảm xúc Và đặc biệt, nó rất phù hợp với câu chuyện tình yêu của hai nhân vật nữ trong tác phẩm Hơn nữa, những kỉ niệm được nhắc đến trong bức thư còn tạo cho người đọc cảm giác như đang chứng kiến một câu chuyện có thật Câu chuyện được kể vì thế trở nên chân thực hơn, khách quan hơn
2.2 Đặc điểm nội dung đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp 2.2.1 Nội dung của đoạn văn mở đầu
Trong văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng, hình thức luôn đi kèm với nội dung cụ thể Sự kết hợp này không ngoài ý muốn tái hiện lại đời sống Bằng kinh nghiệm sống, bằng khả năng cảm thụ, mỗi nhà văn đã lựa chọn cho mình một hình thức phù hợp để diễn tả nội dung
Qua khảo sát 47 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy đoạn văn mở đầu thường mang nội dung như: giới thiệu chủ đề tác phẩm, nêu bật hình tượng nhân vật, dự báo về nội dung câu chuyện