Hiện trạng nguồn tài nguyên nước ngầm của huyện Hòa Vang và xã Hòa Nhơn.. Theo kết quả quan trắc của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Hà Nội năm 2017, đa số các giếng nước đề
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ThS TRẦN NGỌC SƠN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu nghiên cứu, kết quả điều tra, kết quả phân tích là trung thực và chưa từng được công bố, các số liệu liên quan được trích dẫn có ghi chú
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2019 Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Dạ Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là kết quả của cả quá trình học tập, nghiên cứu của em, nhưng trong đó không thể thiếu đi sự giúp đỡ của mọi người Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Trần Ngọc Sơn – người đã luôn tận tình chỉ bảo, động viện tinh thần trong suốt thời gian em thực hiện đề tài
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các bạn lớp 15-CTM đã luôn động viên, giúp đỡ em hết mình trong thời gian em thực hiện đề tài
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học đề tài 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Hòa Vang và vùng nghiên cứu xã Hòa Nhơn 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.1.1.1 Vị trí địa lý, quan hệ lãnh thổ 3
1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 4
1.1.1.3 Tài nguyên 5
1.1.2 Thực trạng kinh tế - xã hội 6
1.1.2.1 Kinh tế 6
1.1.2.2 Xã hội 7
1.2 Tổng quan về nước ngầm 7
1.2.1 Khái niệm và sự hình thành nước ngầm 7
1.2.2 Các tác nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm 8
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến trữ lượng nước ngầm 8
1.2.4 Một số thông số cơ bản về chất lượng nước ngầm 9
1.3 Tổng quan về đánh giá rủi ro 11
1.3.1 Khái niệm đánh giá rủi ro sức khỏe 11
1.3.2 Tính toán rủi ro 12
1.3.3 Mục đích của đánh giá rủi ro sức khỏe 12
1.4 Hiện trạng nguồn tài nguyên nước ngầm của huyện Hòa Vang và xã Hòa Nhơn 13 1.4.1 Huyện Hòa Vang 13
1.4.2 Xã Hòa Nhơn 13
1.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về chất lượng nước ngầm 14
1.5.1 Một số nghiên cứu ở ngoài nước 14
1.5.2 Một số nghiên cứu ở trong nước 14
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
Trang 62.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Phạm vi nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Phương pháp hồi cứu số liệu 17
2.4.2 Khảo sát thực địa 17
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản mẫu 17
2.4.4 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 17
2.4.5 Phương pháp xác định hàm lượng Cr, Cu 18
2.4.6 Phương pháp thống kê – xử lý số liệu 19
2.4.7 Phương pháp xây dựng bản đồ 19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 20
3.1 Chất lượng nước giếng 20
3.1.1 Độ cứng 21
3.1.2 pH 21
3.1.3 TDS 22
3.1.4 Độ đục 22
3.1.5 Nồng độ Amoni 23
3.1.6 Nồng độ Nitrit 24
3.1.7 Nồng độ Nitrat 24
3.1.8 Hàm lượng Đồng 25
3.1.9 Hàm lượng Crom 26
3.2 Kết quả đánh giá nguy cơ rủi ro sức khỏe của kim loại nặng (Cu, Cr) gây ra trong nước giếng 27
3.3 Kết quả đánh giá nguy cơ rủi ro sức khỏe của Nitrit, Nitrat gây ra trong nước giếng 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
I Kết luận 31
II Kiến nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC HÌNH 34
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BTNMT Bộ Tài nguyên Môi Trường
BYT Bộ Y tế
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nước ngầm là tài nguyên hết sức quan trọng đối với sự sống của con người và thiên nhiên, là nhu cầu thiết yếu đối với sản xuất và cuộc sống Hiện tổng trữ lượng
lượng nước cấp sinh hoạt cho các đô thị trên toàn quốc [22] Ở các nước châu Âu khoảng 65% người dân đang tiêu thụ nước ngầm cho mục đích ăn uống và sinh hoạt [17]
Tuy nhiên, nguồn nước quý giá này đang bị ô nhiễm Nhiều nơi nguồn nước ngầm đang phải đối mặt với vấn đề xâm nhập mặn trên diện rộng, ô nhiễm kim loại nặng như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh do khoan nước dưới đất thiếu quy hoạch và không có kế hoạch bảo vệ nguồn nước Theo kết quả quan trắc của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Hà Nội năm 2017, đa số các giếng nước đều bị ô nhiễm Amoni, một số giếng có hàm lượng Sắt (Fe) cao, ô nhiễm Asen (As) trong nhiều năm liền; ở thành phố Hồ Chí Minh theo báo cáo môi trường của Trung tâm Y tế Dự phòng năm 2014, các mẫu nước đều có hàm lượng Amoni, Nitrit vượt tiêu chuẩn cho phép, phát hiện các chỉ tiêu Clo, Mangan (Mn), Sắt (Fe) cũng cao hơn mức cho phép [20] Ở
Đà Nẵng, theo kết quả phân tích chất lượng nước của Phòng Tài nguyên – Môi trường quận Thanh Khê năm 2010 với các chỉ tiêu: pH, độ cứng, Asen, Cadmium, Xianua, Nitrat, Mangan, Coliform, Sắt…cho thấy nguồn nước ngầm mạch nông có dấu hiệu bị
ô nhiễm kim loại nặng, chỉ tiêu Nitrat và chỉ tiêu vi sinh vượt tiêu chuẩn cho phép [22]
Hòa Vang là huyện phát triển theo hướng nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng Trong đó, Hòa Nhơn là một xã thuần nông, nên việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật rất phổ biến Lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được cây hấp phụ một phần, còn một phần lớn giữ lại trong đất, nước và phân giải dần dưới tác động của môi trường Mặt khác, việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cũng thải ra môi trường nước các kim loại nặng như Cr, Cu Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước ngầm là tỉ lệ mắc các bệnh cấp và mãn tính như viêm màng kết, tiêu chảy,
có thể gây ung thư… ngày càng tăng [14], [19] Tuy nhiên nguồn nước ở đây vẫn chưa
có một nghiên cứu nào để đánh giá chất lượng nước ngầm Trước thực tế đó, đề tài
“Đánh giá hiện trạng chất lượng nguồn nước ngầm tại xã Hòa Nhơn huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng” là thực sự cấp bách và cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 11- Đánh giá được rủi ro sức khỏe của người dân đối với nước ngầm phục vụ ăn uống sinh hoạt ở xã Hòa Nhơn
3 Ý nghĩa khoa học đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp nguồn số liệu để đánh giá chất lượng nguồn nước ngầm tại các hộ gia đình ở khu vực xã Hòa Nhơn
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Hòa Vang và vùng nghiên cứu xã Hòa Nhơn
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
“Phía Bắc giáp huyện Phú Lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp huyện Đại Lộc và thị xã Điện Bàn – tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp huyện Nam Đông – tỉnh Thừa Thiên Huế và huyện Đông Giang – tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp các quận của Thành phố Đà Nẵng (trừ quận Sơn Trà, Hải Châu, Thanh Khê)”
Trang 13Hình 1.2: Bản đồ hành chính của xã Hòa Nhơn
Hòa Nhơn là một xã nằm về phía Bắc của Trung tâm hành chính huyện Hòa Vang với tổng diện tích tự nhiên 3.259 ha, khoảng 3.531 hộ Toàn xã có 15 thôn, 7 thôn chạy dọc theo con sông Túy Loan giáp với xã Hòa Phú, 8 thôn chạy ven dọc sườn núi, giáp với xã Hòa Sơn, khoảng từ 100 – 600 hộ/thôn Hầu hết là hộ sản xuất nông nghiệp
“Xã Hòa Nhơn có vị trí địa lý
+ Phía Đông giáp: phường Hoà Thọ Tây, quận Cẩm Lệ
+ Phía Tây giáp: xã Hoà Phú
+ Phía Nam giáp: xã Hoà Phong
+ Phía Bắc: chạy dọc theo dãy núi Phước Tường giáp với xã Hoà Sơn”
1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
+ Trung du: chủ yếu là đồi núi thấp, có độ cao trung bình từ 50 – 100 m, xen kẽ
là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hòa Khương, Hòa Sơn, Hòa Nhơn với diện tích 11.170 ha
+ Đồng bằng gồm xã Hòa Châu, Hòa Tiến, Hòa Phước với tổng diện tích là 3.087 ha Đây là vùng nằm ở độ cao từ 2 – 10 m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng
Trang 14Xã Hòa Nhơn thuộc vùng trung du, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp
b Khí hậu
Đặc điểm khí hậu của huyện Hòa Vang nói chung và xã Hoà Nhơn nói riêng đều nằm trong vùng khu vực nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao Nhiệt độ trung bình năm là 25.5°C, độ ẩm trung bình là 82%
Khí hậu phân chia theo 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau Tổng lượng mưa trung bình năm khoảng trên 3100 mm, mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 Bão thường xuất hiện từ tháng 9 – 11 với tốc độ gió lớn có thể đạt 15 – 20 m/s trong gió mùa Đông Bắc và 30 – 40 m/s trong lốc bão Bão thường kết hợp với mưa lớn gây lũ lụt
c Thủy văn
Trên địa bàn huyện có con sông lớn chảy qua là sông Yên và sông Cu Đê Dòng chảy chủ yếu tập trung vào mùa lũ (tháng 9 và tháng 12), tổng lưu lượng dòng chảy lũ chiếm 80 – 85% năm đối với năm nhiều nước, 65 – 70% đối với năm trung bình, 45 – 50% đối với năm ít nước
1.1.1.3 Tài nguyên
a Tài nguyên đất
Toàn huyện có diện tích đất tự nhiên 73.488,76 ha; trong đó đất nông lâm nghiệp với diện tích 64.832 ha, đất phi nông nghiệp 8.430 ha và đất chưa đưa vào sử dụng 226,76 ha
Đất đai của huyện bao gồm 2 nhóm đất chính: đất phù sa và đất đỏ vàng Đối với nhóm đất phù sa thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoa quả Đối với nhóm đất đỏ vàng thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi đại gia súc
b Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt của huyện bao gồm nước mưa và các sông chính như sông Túy Loan, sông Cu Đê, sông Yên Các hệ thống công trình thủy lợi là 2 hồ chứa nước ngọt là Đồng Nghệ, Hòa Trung và 14 hồ chứa nước lớn nhỏ khác, đây là nguồn nước dồi dào cung cấp cho nước sinh hoạt thành phố Đà Nẵng và phục vụ tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản, ngoài ra có vai trò trong giao thông thủy và tạo cảnh quan môi trường Tuy nhiên, xã Hòa Nhơn, nguồn nước mặt chỉ gồm nước mưa, nước sông Túy Loan và các kênh mương, không có hồ chứa
Trang 15Nguồn nước ngầm: theo đánh giá sơ bộ, Hòa Vang có trữ lượng nước ngầm không lớn Chất lượng nước của khu vực huyện Hòa Vang diễn biến cũng khá phức tạp Một số khu vực bị nhiễm mặn cục bộ, như khu vực Hòa Tiến, Hòa Phong, Hòa Liên; khu vực bị nhiễm phèn nặng là Hòa Xuân, Hòa Phước
c Tài nguyên rừng
Khu vực có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một trong các thế mạnh của khu vực Diện tích đất lâm nghiệp hiện có là 3.851,4 ha
d Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở khu vực là các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng, bao gồm: đá ốp lát, đá phục vụ xây dựng, đá mỹ nghệ, tập trung chủ yếu ở các xã trung
du và miền núi Hòa Nhơn Ngoài ra, đã phát hiện quặng thiếc ở Đồng Nghệ (Hoà Khương) nhưng trữ lượng không lớn
1.1.2 Thực trạng kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Kinh tế
Kinh tế của huyện Hòa Vang trong những năm qua khá phát triển
Bảng 1.1: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế qua các năm
Tổng giá trị sản xuất
- Công nghiệp – Xây
Tổng giá trị gia tăng
- Công nghiệp – Xây
Trang 16tế)
- Công nghiệp – Xây
Nguồn: Báo cáo kinh tế – xã hội thường niên của huyện Hòa Vang
Sau 5 năm kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015, nền kinh
tế của huyện chuyển biến theo hướng tích cực Năm 2011 tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 4.913,5 tỷ đồng đến năm 2015 tăng lên 8.343,1 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân ở mức 10% Lĩnh vực dịch vụ – thương mại tăng từ 47,6% năm 2011 lên 51,4% vào năm 2015 các điểm du lịch lớn trên địa bàn huyện đưa vào khai thác hiệu quả Hạ tầng thương mại cơ bản đáp ứng nhu cầu giao thương, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 16,6%/năm Thu nhập bình quân đầu người đạt 27,24 triệu đồng/người/năm (năm 2015) Công nghiệp – xây dựng giảm từ 30,7% năm 2011 xuống còn 29,6% vào năm 2012 nhưng có xu hướng tăng lên 30,5% vào năm 2015 Nông – lâm – thủy sản giảm dần từ 21,7% năm 2011 xuống còn 18,1% vào năm 2015
1.1.2.2 Xã hội
Theo thống kê năm 2018 dân số của huyện là 185.223 người, với mật độ 262 người/km², tỉ lệ dân số ở độ tuổi lao động chiếm 65% Huyện có 3 thôn với 1000 đồng bào dân tộc Cơ tu sinh sống
Văn hóa, xã hội, môi trường có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng giáo dục tăng lên cả về số lượng và chất lượng, mạng lưới trường lớp được mở rộng, trang bị cơ
sở vật chất đảm bảo phục vụ tốt sự nghiệp giáo dục Thực hiện chính sách an sinh xã
nguồn vốn tập trung xây dựng, nâng cấp mạng lưới giao thông, bưu chính viễn thông, cấp điện, cấp thoát nước cho các xã để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa.1.2 Tổng quan về nước ngầm
1.2.1 Khái niệm và sự hình thành nước ngầm
“Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích
bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người”
Sự hình thành nước ngầm do nước trên bề mặt ngấm xuống, do không thể ngấm qua tầng đá mẹ nên trên nó nước sẽ tập trung trên bề mặt, tùy từng kiến tạo địa chất
Trang 17chuyển và liên kết với các khoang, túi nước khác, dần dần hình thành mạch ngước ngầm lớn nhỏ, tuy nhiên việc hình thành nước ngầm phụ thuộc vào lượng nước ngấm xuống và phụ thuộc vào lượng mưa và khả năng trữ nước của đất [11]
Hình 3.1: Nước ngầm trong chu trình thủy văn [23]
1.2.2 Các tác nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm
Tác nhân tự nhiên: nhiễm mặn, nhiễm phèn Nhiễm phèn do do hàm lượng sắt trong nước ngầm quá cao, và phân bố không đồng đều trong các lớp trầm tích dưới đất sâu Nhiễm mặn do do thủy triều hoặc do sự xâm nhập mặn vào hệ thống sông ngòi, kênh rạch Khi sử dụng nguồn nước nhiễm mặn và nhiễm phèn gây hư hỏng thiết bị, xâm hại mùa màng và gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ của người sử dụng
khí thải khu công nghiệp chưa qua xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu đã thải thẳng ra ngoài môi trường
Suy thoái trữ lượng nước ngầm biểu hiện bởi giảm công suất khai thác, hạ thấp mực nước ngầm, lún đất
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến trữ lượng nước ngầm
Khi lượng mưa tăng thì mực nước ngầm dâng cao Trong mùa mưa mực nước ngầm dâng cao làm tăng trữ lượng của nước ngầm Ngược lại, mùa khô mực nước ngầm hạ thấp làm giảm trữ lượng của nước ngầm Điều này cho thấy lượng mưa là
Trang 18nguồn cung cấp và là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng của nước ngầm
Hơi nước của khí quyển cũng cung cấp một phần cho quá trình ngưng tụ nước ngầm, đặc biệt trong vùng khí hậu khô hạn Trong quá trình bốc hơi là một trong những nguyên nhân làm hao hụt lượng nước, vì vậy nó được xem là một thành phần quan trọng của cán cân cân bằng nước và ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng nước dưới đất
Nhân tố địa hình, địa mạo có tác động làm thay đổi những đặc điểm địa chất thuỷ văn, dẫn đến thay đổi trữ lượng, chất lượng của nước ngầm Chẳng hạn như chiều dày của đới thông khí càng lớn tức mực nước ngầm càng sâu thì lượng nước ngầm được cung cấp sẽ giảm đi
Con người cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến trữ lượng nước ngầm Chẳng hạn con người khoan giếng lấy nước ngầm để ăn uống, sinh hoạt và sản xuất, phá rừng, xây dựng các hồ chứa nhân tạo, đào kênh, xẻ mương tất cả những điều này làm cho trữ lượng nước ngầm bị suy giảm [12]
1.2.4 Một số thông số cơ bản về chất lượng nước ngầm
để tạo bọt, đối với sức khỏe con người, nước cứng là nguyên nhân gây ra các bệnh sỏi
Trang 19thận và một trong các nguyên nhân gây tắc động mạch do đóng cặn vôi ở thành trong của động mạch [8]
Amoni có mặt trong môi trường với nguồn gốc từ các quá trình chuyển hóa nông nghiệp, công nghiệp và sự khử trùng nước bằng cloramin Lượng Amoni trong tự nhiên ở nước ngầm và nước mặt thường thấp hơn 0.2 mg/l Bản thân Amoni không quá độc với cơ thể, nhưng nếu tồn tại trong nước với hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép(>3 mg/l đối với nước dùng cho ăn uống), nó có thể chuyển hóa thành các chất gây ung thư và các bệnh nguy hiểm khác Các nghiên cứu cho thấy, 1g Amoni khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2.7 g Nitrit và 3.65 g Nitrat Trong khi hàm lượng cho phép của Nitrit là 3 mg/l và Nitrat là 50 mg/l [7]
Nitrit là các ion được sinh ra trong tự nhiên, là một phần của chu trình nitơ Các ion Nitrit chứa nitơ trong một trạng thái oxi hóa tương đối ổn định, quá trình sinh học
và các hóa chất có thể làm giảm nồng độ Nitrit bằng việc đưa chúng vào các hợp chất khác nhau hoặc oxy hóa nó thành Nitrat [13]
Nitrat và Nitrit xâm nhập vào cơ thể khi uống nước hoặc ăn các loại thực phẩm
có chứa các chất này, Nitrat và Nitrit cũng có mặt trong các sản phẩm thuốc lá không khói Một số vi khuẩn và nấm trong các sản phẩm này có thể chuyển đổi Nitrat thành Nitrit, có thể dẫn đến sự hình thành nitrosamine gây ung thư
Nitrat là dạng oxy hóa cao nhất trong chu trình nitơ và thường đạt đến những nồng độ đáng kể trong các giai đoạn cuối cùng của quá trình oxy hóa sinh học Ngoài
ra, Nitrat tìm thấy trong các thủy vực nước mặt và vùng nước ngầm nông, trong các giếng nước ở vùng nông thôn, là sản phẩm của quá trình Nitrat hóa hay do cung cấp từ nước mưa khi trời có sấm chớp Sự ô nhiễm này là hậu quả của việc sử dụng phân bón
vô cơ, phân chuồng, hệ thống tự hoại, xử lý nước thải
thúc Tuy vậy, các Nitrat chỉ bền trong điều kiện hiếu khí Trong điều kiện yếm khí
các loại thực vật khác sống trong nước Nhưng mặt khác khi hàm lượng Nitrat trong nước khá cao có thể gây độc hại với người, vì khi vào điều kiện thích hợp, ở hệ tiêu hóa chúng sẽ chuyển hóa thành Nitrit [6] Nitrit là chất có tính độc hại tới sinh vật và con người bởi nó có thể chuyển hóa thành các dạng sản phẩm có thể gây ung thư cho con người Nitrit có tác dụng oxi hóa huyết sắc tố Hemoglobin trong hồng cầu để hình thành methemoglobin không có khả năng vận chuyển oxi cho máu giống như Hemoglobin, sẽ mắc các bệnh da xanh, dễ nguy hiểm đến tính mạng, đặc biệt đối với
Trang 20trẻ dưới 6 tháng tuổi, làm chậm quá trình phát triển của trẻ, tích lũy trong cơ thể gây ra các bệnh về đường hô hấp
Crom
Crom xuất hiện là kết quả của quá trình phong hóa, được sử dụng trong luyện kim, mạ điện hoặc trong các chất nhuộm màu và sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu Trong nước tự nhiên Crom tồn tại ở dạng là Cr(III) và Cr(VI) Lượng trung bình
hầu như không độc hại và thường tồn tại trong môi trường axit còn trong bazơ tồn tại ở
hại đối với con người cũng như động thực vật Ở liều lượng nhỏ Cr(III) cần thiết cho
cơ thể để tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể Còn đối với Cr(VI) lại rất độc hại khi hít phải Thực phẩm là nguồn chính đưa Crom vào trong cơ thể con người Cr(VI) hấp thụ qua ruột, dạ dày và còn có thể thấm qua màng tế bào gây loét dạ dày, ruột non, ung thư phổi Theo QCVN 01:2009/BYT hàm lượng Crom trong nước uống 0.05 mg/l [8]
Đồng
Đồng có thể được tìm thấy rất nhiều trong tự nhiên hoặc trong các dạng khoáng chất Trong nước, đồng thường tồn tại dưới dạng cation hóa trị II hoặc dưới các dạng ion phức xyanua Đồng xâm nhập vào môi trường từ các nhà máy công nghiệp luyện kim, phân bón và thuốc trừ sâu Các ion đồng (II) tan trong nước với nồng độ thấp có thể dùng làm chất diệt khuẩn, diệt nấm và làm chất bảo quản gỗ Với số lượng đủ lớn, các ion này là chất độc đối với các sinh vật bậc cao hơn; với nồng độ thấp hơn, nó là một vi chất dinh dưỡng đối với hầu hết các thực vật và động vật bậc cao hơn…Với một lượng nhỏ đồng là rất cần thiết cho động thực vật bởi đồng là thành phần quan trọng trong các enzyme Khi uống nước có hàm lượng đồng cao (>1 mg/l) trong một thời gian dài sẽ gây bệnh xơ gan, thiếu máu mãn tính, tổn thương thận, dạ dày [8] 1.3 Tổng quan về đánh giá rủi ro
1.3.1 Khái niệm đánh giá rủi ro sức khỏe
Rủi ro là xác suất của một tác động bất lợi lên con người và môi trường do tiếp xúc với mối nguy hại
Đánh giá rủi ro sức khỏe là tiến hành sử dụng các thông tin thực tế để xác định phơi nhiễm của cá thể hay quần thể đối với vật liệu nguy hại hay hoàn cảnh nguy hại Đánh giá rủi ro sức khỏe chia làm 3 nhóm chính: rủi ro do các nguồn vật lý, rủi ro do
Trang 21CSF (Carcinogebic Slope Factor): Hệ số độc chất gây ung thư (mg/kg/ngày) Đối với kim loại nặng Crom là 1.5
Đối với rủi ro không gây ung thư chỉ số Hazard Quotient (HQ) [10]
Nếu HQ < 1, người sử dụng nước ngầm (nước giếng) không bị ảnh hưởng xấu
do các chất ô nhiễm gây ra và ngược lại
Trong đó:
CDI : Liều lượng hóa chất vào cơ thể liên tục mỗi ngày (mg/kg.ngày)
RfD : Liều lượng tham chiếu (mg/kg.ngày) [17]
Trong đó:
C : Nồng độ hóa chất trong môi trường tại điểm phơi nhiễm (mg/l)
IR : Tốc độ phơi nhiễm (l/ngày)
EF : Mức phơi nhiễm thường xuyên (ngày/năm)
ED : Khoảng thời gian phơi nhiễm (năm)
BW : Trọng lượng cơ thể (kg)
AT :Thời gian phơi nhiễm trung bình (ngày)
1.3.3 Mục đích của đánh giá rủi ro sức khỏe
Trang 22Là ước lượng mối nguy hại đến sức khỏe con người Đánh giá rủi ro sức khỏe đóng vai trò quan trọng khi đưa ra quyết định về khắc phục ô nhiễm bằng cách xác định một mức rủi ro bằng con số có thể chấp nhận được, rồi định ra mức độ ô nhiễm nào sẽ tạo ra mức rủi ro có thể chấp nhận đó Từ đó thiết lập các tiêu chuẩn môi trường
để kiểm soát ô nhiễm một cách có hiệu quả [10]
1.4 Hiện trạng nguồn tài nguyên nước ngầm của huyện Hòa Vang và xã Hòa Nhơn
1.4.1 Huyện Hòa Vang
Thực trạng hệ thống cung cấp nuớc sạch trên địa bàn Huyện Hòa Vang nói chung và trên địa bàn 2 xã Hòa Khương và Hòa Nhơn nói riêng là rất khó kiểm soát Theo khảo sát tình hình sử dụng nước trên địa bàn thuộc 2 xã thì khoảng gần 60% hộ dân đang sử dụng nước của Công ty quản lý, khai thác công trình thủy lợi Đà Nẵng đã qua xử lý Còn lại thì hộ dân của 2 xã là sử dụng nước giếng đào, giếng khoan [5] Nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện rất phong phú, phục vụ cho việc khai thác nước sinh hoạt cho hơn 60% dân số trên địa bàn huyện ở khu vực chưa có nước cấp Chất lượng nước ngầm ở tầng sâu đa số đảm bảo tiêu chuẩn cho việc cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân
Một số khu vực nước ngầm bị ô nhiễm cục bộ như: thôn Đông Hòa, thôn Giáng Đông xã Hòa Châu, thôn Phước Nhơn xã Hòa Khương, thôn Phước Thuận, thôn Phước Hậu xã Hòa Nhơn, thôn Vân Dương và khu vực lân cận Cụm Công Nghiệp Thanh Vinh và Khu Công nghiệp Hòa Khánh…với các chỉ tiêu: pH, độ cứng, As, Cd,
Vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã được quan tâm nhiều năm nay, nhưng các công trình cung cấp nước nhỏ lẻ do các hộ gia đình hoặc cụm dân
cư tự quản lý khai thác không thuận tiện cho việc giám sát quản lý chất lượng nước [11]
1.4.2 Xã Hòa Nhơn
Hiện nay, nước ngầm từ hệ thống giếng khoan và giếng đào là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, nguồn nước này chưa được đánh giá đảm bảo yêu cầu nước sạch: nước sinh hoạt theo QCVN 02:2009/BYT [3] và nước dùng ăn uống theo QCVN 01:2009/BYT [2] Hiện trạng nguồn nước ngầm phục vụ sinh hoạt tại xã Hòa Nhơn có những nét tương đồng với tình hình chung của huyện Hòa Vang Nguồn nước ngầm dồi dào vào mùa mưa và có phần sụt giảm vào mùa khô Hiện tại, việc quan trắc