Lý do chọn đề tài Du lịch ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh và là một thành phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia, sự phát triển du
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trương Phước Minh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư Phạm - Đai học
Đà Nẵng đã truyền đạt những kiến thức nền tảng để tôi có thể thực hiện tốt đề tài của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Bé
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
4 Quan điểm nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 6
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1.1 Khái niệm về du lịch 6
1.1.2 Sản phẩm du lịch 7
1.1.3 Khách du lịch 8
1.1.4 Khái niệm tài nguyên du lịch 10
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 11
1.1.5.1 Nhóm nhân tố tài nguyên du lịch 11
1.1.5.2 Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội 16
1.1.5.3 Nhóm nhân tố cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch 18
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 21
1.2.1 Thực tiễn hoạt động du lịch ở Việt Nam 21
1.2.2 Thực tiễn hoạt động du lịch ở tỉnh Quảng Bình 24
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH 26
2.1 CÁC NHÂN TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 26 2.1.1 Vị trí địa lý 26
Trang 52.1.2 Tài nguyên du lịch 29
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 29
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 36
2.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HUYỆN LỆ THỦY 46
2.2.1 Các loại hình du lịch 46
2.2.1.1 Du lịch sinh thái 46
2.2.1.2 Du lịch văn hóa, lịch sử 46
2.2.2 Hiện trạng khách du lịch 46
2.2.2.1 Khách nội địa 47
2.2.2.2 Khách quốc tế 48
2.2.3 Hiện trạng về doanh thu du lịch 49
2.2.4 Hiện trạng về nguồn nhân lực du lịch 50
2.2.5 Hiện trạng về cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch 51
2.2.5.1 Cơ sở lưu trú 51
2.2.5.2 Giao thông 52
2.2.5.3 Cở sở phục vụ ăn uống 54
2.2.5.4 Ngân hàng 54
2.2.6 Hiện trạng về đầu tư du lịch 54
2.2.7 Hiện trạng về quảng bá và xúc tiến du lịch 56
2.2.8 Công tác bảo vệ môi trường trong quá trình quát triển du lịch 57
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 57
2.3.1 Kết quả đạt được 57
2.3.2 Hạn chế 59
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH 61
3.1 CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐƯA RA ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN LỆ THỦY 61
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN LỆ THỦY ĐẾN 2020 62 3.2.1 Định hướng chung 62
Trang 63.2.2 Định hướng cụ thể 63
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN LỆ THỦY 64
3.3.1 Tăng cường, nâng cao công tác quản lý quy hoạch 64
3.3.2 Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý, kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các quy định nhà nước trong hoạt động du lịch 65
3.3.3 Tích cực huy động các nguồn vốn phát triển du lịch 65
3.3.4 Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu tiên 66
3.3.4.1 Cơ chế chính sách về thuế 66
3.3.4.2 Cơ chế và chính sách đầu tư 66
3.3.4.3 Cơ chế chính sách về thị trường 67
3.3.5 Chuyên nghiệp hóa các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch Lệ Thủy 67
3.3.6 Xây dựng và phát triển hạ tầng du lịch 68
3.3.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch 69
3.3.8 Phát triển các tuyến du lịch và đa dạng các loại hình du lịch gắn với dịch vụ 70
3.3.8.1 Phát triển các tuyến du lịch 70
3.3.8.2 Phát triển đa dạng các loại hình du lịch gắn với dịch vụ 71
3.3.9 Bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
USD : Đơn vị tiền tệ của Mỹ (United States dollar)
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
T.T.N.T : Thị trấn nông trường
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Dân số, diện tích, mật độ dân số huyện Lệ Thủy năm 2014 26
2.2 Lượng khách du lịch đến huyện Lệ Thủy giai đoạn 2010 -
2.3 Thời gian lưu trú bình quân của khách nội địa đến huyện
2.4 Thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế đến huyện
2.5 Doanh thu hoạt động du lịch huyện Lệ Thủy giai đoan
2.6 Số lao động tham gia hoạt động du lịch trên địa bàn huyện
2.7 Số cơ sở lưu trú phục vụ du lịch trên địa bàn huyện Lệ
2.8 Một số dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Lệ Thủy 55
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Biểu đồ thể hiện lượng khách du lịch đến huyện Lệ Thủy
2.2 Biểu đồ thể hiện doanh thu từ hoạt động du lịch huyện Lệ
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Tên bản đồ Trang
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch ngày nay đã trở thành một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh
và là một thành phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia, sự phát triển du lịch đã có tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dâ ở nhiều quốc gia trên thế giới Về mặt tích cực, du lịch là ngành kinh tế đã đem lại cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc lợi ích to lớn về lợi nhuận kinh tế Hơn thế nữa du lịch còn được xem là cầu nối giữa các quốc gia mang đến cho xã hội tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau và hòa bình giữa các dân tộc Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của du lịch cũng đã và sẽ gây nên những tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường, như làm cạn kiệt và suy thoái môi trường, làm ô nhiễm môi trường tự nhiên, phá hoại cảnh quan…hủy hoại nền văn hoá truyền thống, các lối sống và việc khai thác bừa bãi do sự phát triển của du lịch
có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Sự phát triển ở bất kỳ ngành kinh tế nào cũng gần gắn liền với vấn đề môi trường, điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành du lịch, nơi môi trường được xem là yếu tố sống còn, quyết định sự tồn tại của hoạt động du lịch
Huyện Lệ Thủy là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Quảng Bình với đầy đủ những
ưu thế, lợi điểm để phục vụ cho phát triển dịch vụ du lịch Lệ Thủy được thiên nhiên ban tặng những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Suối Bang, Bàu Sen, bãi tắm Tân Hải…Là huyện có bề dày lịch sử, văn hóa, có các ngành nghề truyền thống phục vụ du lịch như Chiếu cói An Xá, Rượu Tuy Lộc, nón lá Quy Hậu, đan lát…Mặt khác, không chỉ nổi tiếng với những phong cảnh đẹp mà Lệ Thủy còn là vùng đất “Địa linh, nhân kiệt” với nhiều di tích lịch sử văn hóa: Khu lăng mộ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ở xã Trường Thủy, khu nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Lộc Thủy, khu di tích lịch sử chùa Hoằng Phúc ở xã Mỹ Thủy, các truyền thống văn hóa đặc sắc của quê hương Lệ Thủy như hò khoan, lễ hội bơi - đua thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang rất dễ thu hút khách du lịch
Trang 12Mặc dù Lệ Thủy là vùng đất rất dồi dào về tài nguyên du lịch tự nhiên lẫn nhân văn, nhưng trong thời gian qua du lịch Lệ Thủy chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng của nó Hơn nữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương chưa có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc tổ chức khai thác các tuyến du lịch cũng như tuyên truyền quảng bá tài nguyên du lịch của huyện, nên hiệu quả khai thác còn thấp, chưa phản ánh đúng tiềm năng
du lịch của huyện
Để khai thác có hiệu quả các tài nguyên, đảm bảo sự phát triển du lịch lâu dài, góp phần vào sự phát triển ngành du lịch và sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện, cần có sự nghiên cứu đánh giá hiện trạng và giải pháp của ngành du lịch huyện Lệ
Thủy Nhận thức được vấn đề này, em đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và giải
pháp phát triển du lịch ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” là đề tài khóa luận tốt
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở
lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững, qua đó vận dụng vào địa bàn cụ thể huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
- Bước đầu đánh giá các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển du lịch ở huyện Lệ Thủy Phân tích hiện trạng phát triển du lịch ở địa bàn nghiên cứu và đánh giá phát triển du lịch thông qua các khảo sát thực tế
- Đề xuất những định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đến 2020
Trang 133 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Đây là đặc trưng của ngành khoa học Địa lí, mỗi đối tượng Địa lí đều gắn với một địa chỉ không gian Với ngành du lịch, sự hình thành nên các loại hình du lịch cũng không thể tách rời khỏi không gian lãnh thổ cụ thể nào, chúng liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể tổng hợp với các loại tài nguyên và các loại hình du lịch phục vụ cho du lịch Khi nghiên cứu du lịch huyện Lệ Thủy, vận dụng quan điểm tổng hợp lãnh thổ nhằm phân tích, làm rõ nét đặc trừng và yếu tố ảnh hưởng đến du lịch huyện Lệ Thủy
4.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Mỗi sự vật, hiện tượng Địa lí đều có quá trình hình thành và phát triển Thực trạng là sự kế thừa của lịch sử và nền tảng của tương lai Chính vì vậy, khi tìm hiểu
về tình hình phát triển du lịch huyện Lệ Thủy cần đặt nó trong sự vận động và phát
Trang 14triển Vận dụng quan điểm này có thể dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai của ngành du lịch huyện Lệ Thủy
4.4 Quan điểm phát triển bền vững
Đây là quan điểm chung cho sự phát triển trên toàn thế giới Phát triển bền vững là vừa phát triển, đảm bảo nhu cầu của hiện tại và không ảnh hưởng đến thỏa mãn nhu cầu của tương lai Có thể nói trong quá trình phát triển hoạt động du lịch không chỉ mang lại lợi ích, hiệu quả hiện tại mà còn không làm tổn hại đến môi trường, tài nguyên của thế hệ tương lại, hướng đến sự phát triển lâu dài Vì vậy, quan điểm này sẽ được vận dụng trong việc xác định các định hướng, giải pháp phát triển cho ngành du lịch huyện Lệ Thủy đến năm 2020 và cả trong tương lai xa
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp thu nhập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Để có các dẫn chứng xác thực và thuyết phục cho khóa luận tốt nghiệp này thì cần sử dụng nhiều nguồn tài liệu và số liệu từ các nguồn đáng tin cậy, các cơ quan, ban ngành có liên quan, chủ yếu từ Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình, Phòng Văn hóa - thông tin huyện Lệ Thủy Sau đó được tổng hợp, xử lý và phân tích, hệ thống hóa nhằm phục vụ cho nội dung khóa luận
5.3 Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp đặc thù của ngành khoa học địa lí Trong quá trình hoàn thành khóa luận, để trực quan hóa số liệu, dễ dàng hơn trong việc làm rõ và phân tích tình hình hoạt động du lịch của địa phương thì nguồn nghiên cứu đã xây dựng một số biểu đồ và bản đồ
Trang 155.4 Phương pháp dự báo
Căn cứ vào các tài nguyên du lịch, hiện trạng phát triển du lịch và dự báo định hướng phát triển ngành du lịch huyện Lệ Thủy, dự báo các chỉ tiêu về số lượng khách, doanh thu, cơ sở lưu trú cũng như xu hướng phát triển ngành du lịch huyện
Lệ Thủy trong tương lai
6 Cấu trúc của đề tài
Đề tài khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục… thì phần nội dung chính được trình bày theo 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phát triển du lịch
Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch ở huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch ở huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình
Trang 16khái niệm du lịch được định nghĩa: “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến
một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải
để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống ” Và
cũng từ đó khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận
Thuật ngữ “Du lịch” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “tornus” và sau đó thành “tourisme” (tiếng Pháp) và “tourism” (tiếng Anh) Tuy nhiên, do hoàn cảnh khác nhau và dưới mỗi góc độ khác nhau nên mỗi học giả nghiên cứu về du lịch thường có những quan niệm khác nhau về du lịch
Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma _ Italia ( 21/8 - 5/9/1963), các
chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ”
Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao
gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian
Trang 17liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: “Du lịch là
các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Trong từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh:
- Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh,
di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này, du lịch được xem xét
ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch
- Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ
đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; cố thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế
Có thể nói, du lịch là tổng thể những hoạt động và những mối quan hệ phát sinh qua lại lẫn nhau giữa du khách với tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch Vì vậy, để phát triển du lịch đòi hỏi toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư nhiều lĩnh vực để du lịch ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của các địa phương, cũng như của cả đất nước
1.1.2 Sản phẩm du lịch
Có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó là: “
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” (Từ điển du lịch - Tiếng Đức NXB Berlin 1984)
Trang 18Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch:
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch Các đặc tính của sản phẩm du lịch là :
- Tính vô hình : Sản phẩm DL thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá
- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng : Vì sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi
cư trú của khách du lịch, nên khách thường mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm
- Tính không đồng nhất : Khách hàng khó có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm
Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành với công ty bán sản phẩm Việc tiêu dùng sản phẩm
du lịch mang tính thời vụ
1.1.3 Khách du lịch
Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam trong Pháp lệnh du lịch của Việt
Nam ban hành 1999 nói rằng: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến”
Người ta phân biệt khách du lịch làm hai loại:
- Khách du lịch quốc tế (International Tourist):
+ Năm 1937, Uỷ ban thống kê của Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hợp
Quốc ngày nay) đã đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du
lịch quốc tế là những người thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ” Theo khái niệm nêu trên, xét về
mặt thời gian, khách du lịch quốc tế là những người có thời gian viếng thăm (lưu
Trang 19lại) ở quốc gia khác ít nhất là 24 giờ Trên thực tế, những người đến một quốc gia khác có lưu trú qua đêm mặc dù chưa đủ thời gian 24 giờ vẫn được thống kê là khách du lịch quốc tế
+ Bên canh khách đi du lịch cố lưu trú qua đêm, có nhóm khách chỉ đi du lịch
trong ngày Đối tượng này được gọi là khách tham quan “Khách tham quan
(Excursionist, Day-visitor): là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến không quá
24 giờ, không sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm”
+ Để thống nhất hai khái niệm “khách du lịch” và “khách tham quan”, năm
1963 tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về Du lịch được tổ chức ở Roma (Ý), Uỷ ban thống kê của Liên Hợp Quốc đưa ra một khái niệm về Khách du lịch quốc tế như
sau: “Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng một số nước khác ngoài nước cư
trú của mình với bất kỳ lý do nào ngoài mục đích hành nghê' để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm”
+ Theo Luật Du lịch Việt Nam đã khái niệm khách du lịch quốc tế như sau:
“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”
- Khách du lịch nội địa (Domestic Tourist):
+ Thực tiễn hiện nay, mỗi quốc gia quy định nội hàm của khái niệm khách du lịch nội địa khác nhau Điều này được giải thích là do tốc độ phát triển kinh tế xã hội và mức sống của dân của mỗi quốc gia khác nhau, hoặc do phương pháp tổng hợp các số liệu về khách du lịch nội địa tại các quốc gia không giống nhau Theo hướng dẫn của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), khái niệm khách du lịch nội địa
được diễn giải như sau: “Khách du lịch nội địa là khách du lịch thực hiện chuyến đi
trong quốc gia mà họ cư trú Chuyến đi được xác định từ nơi môi trường sống thường xuyên đến khi trở về nơi xuất phát”
Trang 20+ Khái niệm của Trung Quốc: “Khách du lịch nội địa là cá nhân cụ thể đang
thực hiện chuyến đi ra ngoài môi trường sống thường xuyên (hơn 10km) trong thời gian không quá 1 năm liên tục, với mục đích chính của chuyến đi không liên quan đến hoạt động kiếm tiền nơi họ đến”
Như vậy, du khách hay khách du lịch là chỗ dựa khách quan cho sự phát sinh
và phát triển của ngành du lịch Đồng thời, nó còn là chỗ dựa chủ yếu để ngành du lịch thu được lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị xã hội và lợi ích văn hóa
1.1.4 Khái niệm tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, nó là điều kiện tiên quyết để thu hút khách du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm: cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản
để hình thành các khi du lịch, tuyến du lịch
Tài nguyên du lịch được phân chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác, có thể thuộc
sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân
Theo giáo trình địa lí du lịch: “Tài nguyên du lịch là các đối tượng tự nhiên,
văn hóa lịch sử đã bị biến đổi ở những mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch”
Nguyễn Minh Tuệ cho rằng: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn
hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển trí lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động, sáng tạo của con người và giá trị nhân văn khác có thể sử dụng, nhằm đáp ứng nhu cầu
du lịch, là yếu tố cơ bản hình thành các khi du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Trang 211.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
1.1.5.1 Nhóm nhân tố tài nguyên du lịch
a Tài nguyên du lịch tự nhiên
Mỗi một nền kinh tế muốn phát triển được đầu tiên phải kể đến các thành phần
tự nhiên Nó là cơ sở đầu tiên cho việc khai thác, xây dựng và định hướng các loại hình kinh tế Đặc biệt đối với du lịch các thành phần tự nhiên là điều kiện rất cần thiết Các thành phần tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, cảnh quan, khí hậu, thủy văn, sinh vật
v Vị trí địa lý
Trong các thành phần tự nhiên,vị trí địa lý có vai trò chi phối rất lớn đến sự phát triển của du lịch Những điểm du lịch gần các trung tâm như thị trấn, thị xã, thành phố, có vị trí thuận lợi cho việc đi lại thì sẽ thu hút khách du lịch đến tham quan và nghỉ ngơi Những điểm du lịch cách xa trung tâm, gia thông không thuận tiện cho việc đi lại, sẽ hanjc hế du khách đến tham quan vì sẽ tăng chi phí cho du khách, mất nhiều thời gian cho việc di chuyển, giảm thời gian lưu trú và nghỉ ngơi của du khách và ảnh hưởng đến sức khỏe của du khách, không phù hợp với loại hình du lịch ngắn ngày Tuy nhiên, đối với loại hình du lịch dài ngày và du khách có khả năng chi trả cao muốn tìm sự khác lạ, thích khám phá thì những điểm du lịch ở
xa nơi cư trú sẽ lôi cuốn và hấp dẫn du khách
Như vậy,vị trí địa lý có vai trò quan trọng trong việc khai thác tài nguyên du lịch, người ta có thể dựa vào vị trí địa lý các điểm du lịch, cũng như nhu cầu của du khách để phát triển các loại hình du lịch khác nhau
v Địa hình, cảnh quan
Trong du lịch, tài nguyên địa hình và cảnh quan, quan trong nhất là đặc điểm hình thái, dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng đặc biệt của địa hình, có sức hấp dẫn đối với du khách để khai thác phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.Đối với địa hình thì du khách thường thích tham quan những dạng địa hình đồi núi hiểm trở, các cao nguyên, địa hình bờ biển, địa hình caxtơ
Trang 22- Địa hình đồi, cao nguyên thường tạo không gian thoáng đãng, bao la Do sự phân cắt của địa hình nên có tác động mạnh đến tâm lý dã ngoại của du khách, không gian thoáng, rộng nên rất thích hợp cho loại hình du lịch dã ngoại và cắm trại, tham quan
- Địa hình miền núi thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động du lịch vì sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch Đó là các sông suối, thác nước, hang động, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú Miền núi còn là cư trú của đồng bào các dân tộc ít người với đời sống và nền văn hóa đa dạng đặc sắc Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên động - thực vật và bản sắc văn hóa của các cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp
có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau và có sức hấp dẫn lớn đối với du khách
- Địa hình Karst là một kiểu địa hình đặc biệt có giá trị lớn đối với việc phát triển du lịch tham quan Trong các kiểu địa hình Karst thì có giá trị đối với khai thác tài nguyên du lịch nhất là hang động Karst Vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động Karst rất hấp dẫn khách du lịch Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ
và rất kỳ ảo do tạo hóa sinh ra Nhiều hang động chứa đựng những di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hóa Không ít hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa chiền để thờ tự tạo nên một thế giới tâm linh đầy
bí ẩn Như vậy, có thể nói hang động Karst là một tài nguyên du lịch - một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi cao
- Địa hình bờ biển là loại hình có ý nghĩa qua trọng đối với du lịch, đặc biệt hiện nay phần lướn khách du lịch đến với các loại hình du lịch biển Đối với địa hình bờ biển có thể khai thác du lịch với nhiều mục đích khác nhau: Từ hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, tắm biển, lặn ngắm san hô đến những môn thể thao nước như lướt ván, bóng đá,bóng chuyền bãi biển Nhiều bãi biển rộng, bằng phẳng, nước biển trong xanh, kết hợp với phong cảnh đẹp, gần với các trung tâm du lịch thì sẽ có sức hấp dẫn và thu hút du khách rất lớn
Trang 23Ngoài việc tạo nên những phong cảnh độc đáo hấp dẫn khách đến tham quan
và nghĩ dưỡng, địa hình còn tác động đến việc xây dựng các cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch, góp phần hoàn thiện hệ thống du lịch và khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch
Ngày nay, du lcihj ngày càng trở nên đa dạng Sau thời gian làm việc mệt mỏi con người cần được nghỉ ngơi đề giữ gìn sức khỏe, đảm bảo khả năng lao động lâu dài Việc đi du lịch đến các nơi có phong cảnh đẹp, thiên nhiên trong lành…là cách nghỉ ngơi rất tốt Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà y học, tâm lí - xã hội cho thẫy vẻ đẹp thiên nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm hồn, sức khỏe con người Trong y học gọi là phương pháp “cảnh quan trị liệu học” Có thể nói, cảnh quan thiên nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người và
là một nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch
v Khí hậu
Khí hậu là một thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động du lịch Trong hoạt động du lịch đề khai thác tài nguyên này, con người phải tiến hành đánh giá tác động của nó đối với hoạt động du lịch, thì cần phải đánh giá từng yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến sức khỏe con người và xây dựng cácloại hình du lịch Các yếu tố khí hậu như: nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, ánh sáng,…là những yếu tố quan trọng để khai thác phục vụ du lịch, các yếu tố này giúp phát triển loại hình du lịch chữa bệnh, nghĩ dưỡng cho con người Vì thế mà du khách thường tìm đến những nơi có khí hậu ôn hòa trong lành tránh những nơi quá nóng hoặc quá lạnh Bên cạnh đó, việc khai thác các yếu tố khí hậu phù hợp với việc nghĩ dưỡng, thì trong du lịch điều kiện khí hậu ảnh hưởng đến việc thực hiện đến các chuyến du lịch và hoạt động dịch vụ về du lịch Khí hậu là yếu tố quy định tính mùa vụ của du lịch Về mùa hè thì thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch biển, du lịch trên núi Mùa đông thì thuận lợi cho việc phát triển du lịch thể thao trên núi như trượt tuyết, trượt băng Mùa xuân thời tiết dịu mát, tiết trời trong lành, thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch du xuân vui chơi và tham quan Mỗi vùng khác nhau có những điều kiện khí hậu khác nhau, không phải khí hậu ở vùng nào cũng phù hợp
Trang 24với việc phát triển du lịch nghĩ dưỡng Vì vậy cần phải có những nghiên cứu đánh giá các yếu tố khi hậu để khai thác du lịch một cách hiệu quả
v Thủy văn
Tài nguyên nước rất đa dạng bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ, suối, hồ nhân tạo, thác nước, giếng nước ngầm, nước khoáng,…Nước có vai trò quan trọng đối với đời sống và hoạt động sản xuất của con người Trong hoạt động du lịch, thì nước được xem như tài nguyên quan trọng đối với hoạt động du khách, nó không chỉ là cảnh quan đề du khách tham quan, phục vụ trực tiếp sức khỏe của khách du lịch mà còn ảnh hưởng đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt là vai trò điều hòa khí hậu ven bờ biển, hồ
Địa hình ven biển thường có khí hậu dịu mát, nhờ sự điều hòa của nước biển, cho phép nghỉ ngơi dài ngày nhờ các bãi cát ven bờ vừa có thể tắm biển, vừa tắm trắng Có thể khai thác phát triển du lịch nghĩ dưỡng, tắm biển, thể thao biển,… Sông hồ thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lich nghĩ dưỡng, câu cá, bơi thuyền, tham quan, đặc biệt là hồ có cảnh quan tự nhiên đẹp, khí hậu trong lành Trong tài nguyên nước, thì có giá trị lớn nhất trong khai thác du lịch là nguồn nước khoáng, nước ngọt Đây là loại tài nguyên có giá trị để phát triển loại hình du lịch an dưỡng, chữa bệnh,…để phát triển loại hình du lịch này, thì cần phải có sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất, kĩ thuật Đây là loại tài nguyên du lịch có sức hút và hấp dẫn du khách lớn nhất hiện nay
v Sinh vật
Hiện nay, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, chất lượng cuộc sống tốt hơn thì nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan và giải trí cũng trở nên cấp thiết hơn Thị hiếu du lịch của người dân cũng phong phú và đa dạng hơn Một cuộc sống bận rộn, căng thẳng với công việc, không khí thiếu trong lành, đã làm cho con người muốn tìm đến những nơi trong lành, gần gũi với thiên nhiên hơn để nghỉ ngơi, thỏa mãn nhau cầu khám phá thiên nhiên Vì vậy, bên cạnh các loại hình du lịch biển, tham quan di tích văn hóa, lịch sử thì du lịch sinh thái đã phát triển mạnh mẽ hơn, du lịch gắn liền việc tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia với hoạt động nghỉ ngơi, giải trí tại điểm du lịch mà đối tượng chính là động thực vật
Trang 25Các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đã trở thành những điểm du lịch thu hút khách du lịch Các loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu có giá trị lớn đối vơi du lịch sinh thái và du lịch nghiên cứu Đặc biệt đối với các loại động thực vật đặc hữu chỉ có ở nước ta, tạo nên sức hút lớn đối với du khách nước ngoài Tuy nhiên không phải mọi động vật, thực vật đều có thể khai thác phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu của du khách
Như vậy, sinh vật là loại tài nguyên có vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái Vì vậy, cần phải bảo vệ tốt các loại động thực vật quý hiếm, có giá trị không những góp phần bảo vệ thiên nhiên đa dạng, mà còn góp phần phát triển du lịch đất nước
b Tài nguyên du lịch nhân văn
Hầu hết tất cả các nước đều có các tài nguyên có giá trị lịch sử nhưng mỗi loại tài nguyên ở mỗi quốc gia lại có sức hấp dẫn riêng
v Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử - văn hóa
Di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử - văn hóa là tài sản quí giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và cả nhân loại Một di sản quốc gia được công nhận, được tôn vinh, tầm vóc gái trị của di sản được nâng cao, các giá trị văn hóa thẩm mỹ cũng như các ý nghãi kinh tế, chính trị vượt khỏi pahmj vi một nước thì khả năng thu hút khách du lịch và phát triển dịch vụ sẽ lớn hơn nhiều
Các di tích lịch sử văn hóa chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia Đây được coi là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng góp phần phát triển và mở rộng hoạt động du lịch
v Các lễ hội
Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới giúp cho con người tham dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn cội mọi sinh vật sống Lễ hội dân tộc thu hút những ai muốn hành hương trở về với cội nguồn với những nét đặc sắc văn hóa của nhân dân Trong kho báu các di sản của quá khứ để lại, các lễ hội dân tộc là một trong những tài nguyên du lịch quý giá nhất Vì thế các lễ hội dân tộc là một trong
Trang 26những tài nguyên du lịch quý giá nhất Vì thế các lễ hội dân tộc ngày càng được phát triển cả về hình thức, nội dung, thời gian lẫn quy mô Điều này ảnh hưởng đến việc tổ chức lãnh thổ du lịch và góp phần tạo nên tính mùa vụ của du lịch
Ngoài những yếu tố trên thì môi trường cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đối với sự phát triển du lịch Tài nguyên mà môi trường là nhân tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch, quyết định đối với các hoạt động du lịch Ở những nơi có môi trường
tự nhiên đa dạng, độc đáo và khí hậu trong lành sẽ thu hút khách du lịch
1.1.5.2 Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội
a Dân cư và lao động
Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội.Cùng với hoạt động lao động sản xuất, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào đặc điểm xã hội, nhân khẩu của dân cư Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển du lịch Cần phải nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu du lịch, vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển
Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự tăng dân số, tăng mật độ, độ dài tuổi thọ, sự phát triển của đô thị hóa, liên quan mật thiết với sự phát triển ngành du lịch
b Kinh tế
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển
du lịch là điều kiện kinh tế Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng kinh tế và xã hội Liên hợp quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch
Kinh tế và phát triển luôn có mối quan hệ hữu cơ, nghịch thuận lẫn nhau Trong quá trình phát triển của mình, du lịch luôn xem kinh tế là một trong những nguồn lực quan trọng Sự tác động tới điều kiện kinh tế tới phát triển du lịch thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau Du lịch là ngành dịch vụ, nhận nhiệm vụ “chuyển
Trang 27tải” sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của các ngành kinh tế khác để cung cấp cho du khách nhằm tìm kiếm lợi nhuận Vì vậy, điều kiện kinh tế đóng vai trò góp phần cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cho du lịch
c Văn hóa
Trình độ văn hóa cao tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch Phần lớn những người tham gia vào các chuyến du lịch là những người có trình độ văn hóa nhất định Ngoài nhu cầu thư giãn họ còn có nhu cầu tìm hiểu các danh lam thắng cảnh,
di tích lịch sử, bản sắc văn hóa,…nơi họ đến Một đất nước mà người dân có trình
độ văn hóa cao thì số khách du lịch di ra ngoài tăng lên không ngừng với cường độ cao Bên cạnh đó, trình độ văn hóa của người dân sở tại thấp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển du lịch Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con người thông qua trí tuệ của mình để đưa ra các biện pháp, cách thức phát triển du lịch Một quốc gia giàu có về tài nguyên du lịch nếu không biết
sử dụng trí óc con người để phát huy hết giá trị của các tài nguyên thì cũng như
“muối bỏ bể: Ngược lại, những quốc gia nghèo về tài nguyên những biết phát huy hợp lí sẽ thu hút được lượng khách rất lớn và ngành du lịch sẽ phát triển bền vững
e Chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Các nước trên thế giới hiện nay rất quan tâm đến vấn đề du lịch, các nước đều đưa du lịch vòa trong kế hoạch phát triển hàng năm, thậm chí còn xem du lịch như là công cụ để phát triển kinh tế và văn hóa xã hội của đất nước Đối với các nước phát triển, du lịch quốc tế như là một công cụ thuận lợi để cải thiện cán cân
Trang 28thanh toán quốc tế nên Nhà nước luôn khuyến khích việc tiếp cận du khách quốc
tế, đưa ra nhiều chính sách, chủ trương và các hoạt động hấp dẫn nhằm thu hút, lội kéo khách du lịch quốc tê vào trong nước đồng thời hạn chế nhân dân đi du lịch nước ngoải
Tuy nhiên, việc phát triển ngành du lịch không chỉ dựa vào việc lôi kéo khách
du lịch quốc tế mà lượng khách du lịch trong nước cũng chiếm một phần không nhỏ trong việc tăng thu ngân sách Nhà nước Vì thế Nhà nước ta đã có nhiều chính sách đúng đắn nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch cho các địa phương như: hỗ trợ tiền thuê đất để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển du lịch, hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp để đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở du lịch, hỗ trợ về tín dụng, hỗ trợ
về đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Ngoài ra, Nhà nước còn kêu gọi thu hút đầu tư xây dựng các khu du lịch mang tính quốc tế đồng thời tận dụng khai thác tiềm năng du lịch sẵn có như các kỳ quan thiên nhiên, các thắng cảnh đẹp, khai thác du lịch sinh thái, đồng quê, các khu di tích lịch sử, lễ hội…cũng là một trong những nhân tố điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển
Như vậy, một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của con người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không có những chính sách hỗ trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này không thể phát triển được
1.1.5.3 Nhóm nhân tố cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục
Trang 29Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội
Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt Giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn Giao thông đường sắt rẻ tiền nhưng chỉ đi theo những tuyến cố định Giao thông đường hàng không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại nhưng đắt tiền Giao thông đường thuỷ tuy chậm nhưng có thể kết hợp với việc tham quan giải trí… dọc theo sông hoặc ven biển
Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy nhiên hiện nay đã có một số phương tiện giao thông được sản xuất với mục đích chủ yếu phục vụ du lịch Nhìn chung, mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới và từng quốc gia không ngừng được hoàn thiện Điều đó đã giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch
v Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế
Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiện việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế
Trong đời sống hiện đại nói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc
v Các công trình cung cấp điện, nước
Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên… Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở,
đi lại… du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu tố điện, nước cũng là một trong những nhân
tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách
Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong
đó có du lịch
Trang 30b Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT)
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo
ra và thực hiện sản phẩm du lịchcũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng
du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật
Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt…Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống các công trình Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đóng góp mọi nhu cầu của khách du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ du lịch: thương nghiệp, dịch vụ… cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể loại, thứ hạng của hầu hết các thành phần cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch là cơ sở xây dựng công suất các công trình phục vụ du lịch Sức hấp dẫn của chúng có ảnh hưởng đến thứ hạng của các cơ sở này
Sự kết hợp hài hoà giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho cơ sở phục vụ du lịch có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ của đất nước và là tiền đề cơ bản để hình thành các trung tâm
du lịch
Sự phụ thuộc của cơ sở vật chất kỹ thuật vào tài nguyên du lịch không chỉ diễn
ra theo một chiều, mà về phía mình các công trình, cơ sở phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định tới mức độ sử dụng tài nguyên du lịch và việc gìn giữ bảo vệ chúng
Trang 311.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Thực tiễn hoạt động du lịch ở Việt Nam
Trải qua hai cuộc chiến tranh đất nước ta đã bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế suy sụp, dân ta nghèo khổ, các nước còn e dè trong quan hệ với ta Trước tình hình đó nước ta cần phát triển kinh tế, khẳng định vị thế trên trường quốc tế Đảng và nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của mỗi ngành trong đó có ngành du lịch Đảng và nhà nước đã xác định “du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân
và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế
xã hội của đất nước” (Trích pháp lệnh du lịch 2/1999) và coi “phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Trích chỉ thị 46/CTTW ban
bí thư trung ương đảng khoá VII, 10/1994) và “phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” (Trích văn kiện đại hội đảng khoá IX)
Du lịch đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước Tình đến thời điểm này, hoạt động du lịch đã mang lại doanh thu hàng tỉ USD và nộp vào ngân sách nhà nước hàng ngàn tỉ đồng Hàng năm các ngành cố gắng xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ về cho đất nước và du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả nhất Bởi du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hoá công nghiệp, tiêu dùng… được trao đổi qua con đường du lịch, các hàng hoá được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế Mặt khác, du lịch còn là ngành “xuất khẩu vô hình” hàng hoá du lịch Đó là cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, giá trị của di tích lịch sử, văn hoá…
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, tiềm năng ấy thể hiện ở các thế mạnh sau:
- Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, vừa có biên giới lục địa, vừa có hải giới rộng lớn, là cửa ngõ đi ra Thái Bình Dương của một
số nước và của vùng Đông Nam Á Nước ta nằm ở vành đai nhiệt đới bắc bán cầu,
Trang 32đúng vào khu vực gió mùa Đông Nam Á, do đó, mang lại đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Châu Á Nhờ đó mà Việt Nam có hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng Việt Nam còn có những danh thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bảng ngoài ra còn có di sản văn hoá thế giới phi vật thể là nhã nhạc Huế Chúng ta còn thu hút du khách nước ngoài bằng hàng loạt các điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền tổ quốc: Bản Gốc, Mẫu Sơn, Sa Pa, Thác Mơ, hồ
Ba Bể, vườn quốc gia Ba Vì, Mai Châu, Tam Cốc- Bích Động, Cát Tiên, khu ngập nước Văn Long, Bà Nà, Đồng Tháp Mười, địa đạo Củ Chi, U Minh… Hiện nay, du lịch sinh thái đang được nhiều du khách quan tâm nên đây là điều kiện tốt để du lịch Việt Nam khai thác tiềm năng sẵn có Mặt khác lãnh thổ nước ta kéo dài từ Bắc vào Nam tiếp giáp với biển cũng tạo cho chúng ta những bãi biển cát mịn và đẹp như Trà
Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu…
- Ngoài những thắnh cảnh tươi đẹp, Việt Nam còn có rất nhiều các làng nghề,
lễ hội truyên thống Tiềm năng phát triển du lịch làng nghề truyền thống của nước
ta rất lớn, mỗi làng nghề gắn với một vùng văn hoá, hệ thống di tích và truyền thống riêng, với cung cách sáng tạo sản phẩm riêng của mình Du khảo hết các làng nghề truyền thống, du khách có thể thấy rõ bản sắc cũng như đặc trưng của bộ mặt nông thôn Việt Nam Hiện nay, cả nước đã có hơn 2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm nghề chính như: cói, sơn mài, mây tre đan, gốm sứ, thêu ren, dệt, gỗ, đá, giấy, tranh dân gian Đi dọc Việt Nam du khách có thể thấy nhiều vùng quê mà mật độ làng nghề truyền thống dày đặc rải từ bắc vào nam Những cái nôi của làng nghề là
Hà Nôi, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế… Thực tế, hiện nay du khách muốn đến tận làng nghề nhìn cảnh cây đa, bến nước, sân đình, thăm các di tích của một làng nghề truyền thống Việt Nam, tìm hiểu các vị tổ làng nghề hoặc các danh nhân văn hoá Làng nghề truyền thống Việt Nam chứa đựng tiềm năng dồi dào về du lịch còn bởi vì du khách muốn đến tận nơi xem các công đoạn nghệ nhân làm ra sản phẩm và cũng muốn tận tay tham gia làm sản phẩm theo trí tưởng tượng của riêng mình Tìm hiểu về văn hoá và truyền thống làng nghề là điều mà du khách trong và ngoài nước quan tâm
Trang 33- Việt Nam còn có các tài nguyên có giá trị lịch sử, các tài nguyên có giá trị văn hoá thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu Với lịch sử hơn
4000 năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tạo dựng được một nền văn hoá phong phú và độc đáo Không những vậy 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên một mảnh đất, lại có bao phong tục, tập quán, lễ hội khác nhau tạo nên sự đa dạng cho sản phẩm du lịch Việt Nam
- Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ Đặc biệt con người Việt Nam thân thiện, hiếu khách đã tạo sự thoải mái cho du khách
Chính tất cả những tiềm năng trên là một nền tảng để du lịch Việt Nam phát triển, hội nhập với các nước trên thế giới Nhưng vấn đề là chúng ta tận dụng những tiềm năng đó như thế nào nó phụ thuộc vào cách làm của chúng ta
Trong thời gian qua du lịch Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể: Năm
2012, số khách quốc tế đến Việt Nam là 6,8 triệu lượt, khách nội địa đạt 32,5 triệu lượt Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng năm 2009, 160.000 tỷ đồng năm 2012 Du lịch đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam Năm 2013, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,57 triệu lượt, khách nội địa đạt 35 triệu lượt Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2013 đạt khoảng 200.000 tỷ đồng
Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2014 ngành du lịch Việt Nam thu hút gần 8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số dự kiến năm 2020
là 11-12 triệu khách quốc tế, 45-48 triệu khách nội địa Doanh thu từ du lịch dự kiến
sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020
Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam từ nhiều năm nay, cũng đang bị báo động
về nạn "chặt chém", bắt nạt du khách, hạ tầng cơ sở yếu kém và chất lượng dịch vụ kém, quản lý kém, tạo ấn tượng xấu với du khách Từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam chỉ chú trọng khai thác thiên nhiên và thiếu định hướng chiến lược phát triển, đầu tư một cách bài bản cho du lịch, và kém xa các nước khác trong khu vực
Và vẫn chưa có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào đủ tầm mức để giới thiệu đến du khách quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Trang 341.2.2 Thực tiễn hoạt động du lịch ở tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình có rất nhiều tiềm năng phát triển du lịch:
Cách Đà Nẵng gần 300km về phía bắc, Quảng Bình là điểm giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn hoá, đồng thời là chiến trường ác liệt trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc nên ngày nay còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hoá của nhiều thời đại khác nhau Quảng Bình mang nét đặc trưng của khu vực Bắc Trung bộ, là địa phương có nhiều dân tộc cư trú nên truyền thống văn hoá khá phong phú, kho tàng văn hoá văn nghệ dân gian đa dạng
Với đường bờ biển dài 116,04km, Quảng Bình hoàn toàn có cơ sở vững chắc
để phát triển hình thức du lịch nghỉ mát, một trong những phân nhánh chính, đem lại doanh thu cao của ngành du lịch Quảng Bình là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với những phong cảnh kỳ thú, trong đó phải kể đến Vườn quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng địa danh đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào tháng 7/2003 Động Phong Nha có chiều dài 13.000m gồm 14 hang đẹp do con sông ngầm hoà tan đá vôi tạo thành như hang Cà Ròn, hang Tối, hang Vòm các hang động có chiều cao từ 10 đến 40m, ngay ở cửa hang có nhiều nhũ đá rủ xuống rất đẹp, càng vào sâu bên trong, cảnh trí tự nhiên càng huyền ảo, đi vào động phải đi bằng thuyền và có đèn chiếu sáng Đây là một lợi thế để phát triển du lịch khám phá, mạo hiểm -một trào lưu du lịch mới trên thế giới và trong nước hiện nay
Về di tích lịch sử - văn hoá thì có chùa Hoằng Phúc, Quảng Bình Quan, Luỹ Đào Duy Từ, Thành Đồng Hới, Rào Sen, Thành Nhà Ngô, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh v.v Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, trống đồng Phù Lưu cùng thời với nền văn hóa Đông Sơn Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă - xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp
Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có khu hệ động thực vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm Nếu phát
Trang 35triển bền vững được đặc điểm này, chúng ta hoàn toàn có thể thiết lập được hình thức du lịch sinh thái ở nơi đây
Tận dụng những lợi thế của tỉnh nhà, trong thời gian vừa qua hoạt động du lịch
ở Quảng Bình ngày càng phát triển nhờ sự đầu tư và xác định du lịch là ngành kinh
tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhờ vậy hiệu quả mà du lịch mang lại rất thiết thực
Trong giai đoạn 2000 -2010, khách du lịch đến với Quảng Bình có chiều hướng tăng trưởng nhanh chóng, từ 242,96 nghìn lượt khách năm 2000 lên 857,79 nghìn lượt khách năm 2010, năm 2011 là 900 nghìn lượt khách và năm 2012 lần đầu tiên Quảng Bình đón trên 1 triệu lượt khách, tốc độ tăng trưởng ở mức cao trong suốt thời kỳ Đến năm 2013, tỉnh Quảng Bình đón được 1,2 triệu lượt khách, tăng 15% so với năm 2012 Năm 2015, Quảng Bình đón trên 3 triệu lượt khách và kèm theo đó là doanh thu về du lịch tăng nhanh
Số lượng khách du lịch ngày càng tăng làm doanh thu từ du lịch cũng tăng lên qua các năm Năm 2009 đạt 353,59 tỉ đồng, Doanh thu từ du lịch của tỉnh năm 2013 tăng lên 1.200 tỉ đồng và đến năm 2015 doanh thu đạt 3.300 tỉ đồng Điều này cho thấy những bước phát triển vượt bậc của ngành du lịch tỉnh Quảng Bình, đóng góp ngày càng lớn vào tổng thu ngân sách của tỉnh
Do vậy, cần phải đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch ra nước ngoài và làm giàu kinh nghiệm để phát triển hơn nữa du lịch tỉnh Quảng Bình Quảng Bình sẽ tiếp tục là địa chỉ hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước, quốc tế đến để tận hưởng và khám phá vẻ đẹp huyền bí mà địa phương đang sở hữu
Trang 36CHƯƠNG 2
TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 CÁC NHÂN TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2.1.1 Vị trí địa lý
Lệ Thủy là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Bình Trải dài từ tọa độ
16055’ đến 17022’ vĩ Bắc và 106025’ đến 106059’ kinh Đông Phía Nam tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, phía Bắc giáp với huyện Quảng Ninh và phía Đông giáp biển
Huyện có diện tích là 1.401,80 km2 và gồm có 26 xã, 2 thị trấn Huyện có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí, thế mạnh về thương mại dịch vụ và du lịch
Vì vậy huyện Lệ Thủy có vai trò, vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Bình
Bảng 2.1: Dân số, diện tích, mật độ dân số huyện Lệ Thủy năm 2014
Địa phương Dân số (người) Diện tích
(km 2 )
Mật độ dân số (người/km 2 )
Trang 37(Nguồn: Niêm giám thống kê huyện Lệ Thủy, năm 2015)
Với yếu tố về vị trí địa lý như vậy tạo điều kiện thuận lợi hơn cho huyện Lệ Thủy sản xuất hàng hóa, tiếp thu khoa học kỹ thuật, phát triển nhanh những ngành kinh tế mũi nhọn đặc biệt là ngành du lịch, sớm hòa nhập xu thế của các nước nói chung và ngành du lịch nói riêng
Trang 39- Địa hình núi cao: chiếm phần lớn diện tích của huyện, độ cao trung bình từ
600 -700 mét Độ dốc từ 20 -250, nhiều hẻm vực và có độ chia cắt tương đối mạnh, dạng địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Tây của huyện
- Địa hình đồi thấp thoải: gồm các dãy đồi thấp dọc đường Hồ Chí Minh nhánh Đông và các đồi cát ven quốc lộ 1A tạo thành hình chữ U bao vậy vùng đồng bằng của huyện
- Vùng đồng bằng: nằm ở hạ lưu sông Kiến Giang, với độ cao trung bình 5m uốn lượn theo mức độ thấp dần ra phía phá Hạc Hải chủ yếu ở các xã Tân Thủy, Dương Thủy, Mỹ Thủy, An Thủy, Hồng Thủy, Xuân Thủy
- Các thung lũng: xen giữa vùng đồi núi có các thung lũng như thung lũng Cẩm Ly, Lèn Bạc khá bằng phẳng tiếp giáp với vùng đồng bằng qua cã Phú Thủy
- Địa hình ven biển: Dọc theo bờ biển huyện Lệ Thủy có những cồn cát và dãi đất trắng vàng giáp vùng đồng bằng, ổn định, địa hình thấp và bằng phẳng cao từ 2 - 5m, với các bãi biển đẹp Vùng này có các xã như: Ngư Thủy Bắc, Ngư Thủ Trung, Ngư Thủy Nam, Cam Thủy, Hưng Thủy, Thanh Thủy
Nhìn chung, địa hình đa dạng và tương đối bằng như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông đi lại thuận tiện Phục vụ cho phát triển du lịch của huyện Ngoài ra với các dạng địa hình đa dạng như vậy nó sẽ tạo nên nhiều cảnh quan đẹp thu hút khách du lịch như: Nước khoáng Bang, Bàu Sen, biển Ngư Thủy…đó là điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch
Trang 40b Khí hậu
Quảng Bình nói chung và huyện Lệ Thủy nói riêng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Ngoài ra khí hậu còn mang tính chất chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và khí hậu có một mùa đông lạnh của miền Bắc
Khí hậu của huyện có sự phân hóa thành 2 mùa rõ rệt: Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 với khí hậu nóng, kèm theo các đợt gió Tây Nam (gió Lào) làm cho nhiệt
độ có thể lên tới 400C Đây là thứ gió mang lại không khí dễ chịu cho người dân trong những ngày hè oi ả Đã là người dân Lệ Thuỷ không ai không có cái kỷ niệm giàu tâm thức về những giấc ngủ ban trưa ngon lành trên chiếc chõng tre dưới rặng tre bên vườn nhà hay trong bóng mát của cây đa làng với những ngọn gió nồm nam mát rượi Vào khoảng tháng 5 trên địa bàn huyện thưởng xảy ra các đợt lũ Tiểu Mãn Vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10 thường có các trận bão kèm theo mưa lớn gây ngập úng nhiều nơi Mùa bão của huyện thường tập trung vào các tháng 9,10,11 Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 150C Trong mùa đông ở Lệ Thuỷ không chỉ có các đợt gió mùa đông - bắc mà còn những đợt gió đông hay gió đông - nam xen kẽ giữa các đợt gió mùa đông - bắc, thảng hoặc có những đợt gió trái thổi từ hướng tây rất khó chịu Vậy thế nên người Lệ Thuỷ có câu ca rất tình si:
“Anh về để áo lại đây
Để đêm em đắp, kẻo ngọn gió tây lạnh lùng ”
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,60C, lượng mưa trung bình năm khoảng
2000 - 2200mm, độ ẩm trung bình năm khoảng 85%
Với điều kiện khí hậu như vậy cùng với sự khắc nghiệt của thời tiết khiến hoạt động du lịch của huyện gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại
c Thủy văn
- Về sông, suối:
Huyện chỉ có sông Kiến Giang là con sông chính ngoài ra còn có một hệ thống suối nhỏ chằng chịt phân phối trên địa bàn huyện