GDP bình quân đầu người năm 2011 ước đạt 2283 USD, gấp 2,2 lần so với năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung cả nước [20].Tuy vậy, Thành phố Đà Nẵng đang phải đối diện với những vấ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải dọc khắp chiều dài đất nước, với 31,31 triệu ha (chiếm 95,2% diện tích
cả nước) và 70,4% dân số (2009) [21], các vùng nông thôn mang những nét đặc trưng riêng của đất nước Việt Nam Quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
đã đem lại những thành tựu to lớn cho đời sống của nhân dân ở hầu khắp các vùng quê Đồng hành với sự phát triển này là những áp lực lớn về ô nhiễm môi trường đang đặt gánh nặng cho những vùng nông thôn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt chưa được quản lý, thu gom và xử lý triệt để Mặt khác, hầu hết ở đây, trình độ dân trí của người dân còn thấp, nhận thức về bảo vệ môi trường chưa được nâng cao lại càng làm gia tăng thêm tình trạng ô nhiễm
Cùng với sự phát triển vượt bậc của đất nước, Đà Nẵng là một thành phố trung tâm và trọng điểm trong khu vực miền Trung - Tây nguyên, gồm 6 quận nội
thành và 2 huyện ngoại thành với tổng diện tích tự nhiên 1285,43km2 và dân số ước tính năm 2012 là 979.697 người trong đó dân số đô thị khoảng 853.837 người (chiếm 87.1% tổng số dân) và dân số ở nông thôn khoảng 125.860 người (chiếm 12.9% tổng số dân), mật độ dân số 762 người/km2 [18,19] Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa liên tục trong nhiều năm qua, Đà Nẵng đã có nhiều thay đổi đáng kể và những tiến bộ vượt bậc về kinh tế xã hội GDP năm 2012 đạt 1.837,3
tỉ đồng, tăng bình quân 11%/năm GDP bình quân đầu người năm 2011 ước đạt
2283 USD, gấp 2,2 lần so với năm 2005 và bằng 1,6 lần mức bình quân chung cả nước [20].Tuy vậy, Thành phố Đà Nẵng đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn: dân số tăng nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao nên đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, do vậy nhu cầu tiêu dung, tiện nghi trong sinh hoạt cũng tăng lên một cách đáng kể, kết quả dẫn đến là khối lượng rác thải chất sinh hoạt tăng lên liên tục đã tạo nên một áp lực rất lớn cho công ty thu gom
và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Không những ở khu vực thành thị mà rác thải sinh hoạt ở nông thôn cũng đang là một vấn đề nhức nhối đáng quan tâm và lo ngại của Thành phố Đà Nẵng
Trang 2Hòa Tiến là một xã trọng điểm của huyện Hòa Vang Trước đây, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông Hiện nay, bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi; Hòa Tiến đang hình thành và phát triển theo hướng dịch vụ, đời sống nhân dân ngày càng khởi sắc và trong tương lai Hòa Tiến sẽ trở thành một vùng trọng điểm về phát triển kinh tế xã hội của huyện Hòa Vang Trong khi đó hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại đây hoạt động chưa tốt, công tác quản lý ở xã dựa trên giấy tờ là chủ yếu, đặc biệt quản lý chất thải rắn thì còn rất mới mẻ làm cho quá trình quản lý đạt hiệu quả thấp Đòi hỏi cần có những biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến
Để góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân cũng như các
bộ phận liên quan đến môi trường khu vực, nhằm hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải rắn tại xã Hòa Tiến, chúng ta phải có cách nhìn nhận và đánh giá nghiêm túc về vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải tại khu vực này, trên cơ sở
đó đề xuất các biện pháp cải thiện, bảo vệ môi trường ở đây Nhằm góp phần đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường ở địa phương, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp cải thiện công tác quản lý
chất thải rắn sinh hoạt ở xã Hòa Tiến – huyện Hòa Vang – thành phố Đà Nẵng” với
mục tiêu đánh giá hiện trạng hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Hòa Tiến đồng thời định hướng cho công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn tại xã trong tương lai
2 Mục tiêu của đề tài
Xã Hòa Tiến tuy là một xã đã được thành lập từ năm 1997 nhưng đến năm
2011 thì kinh tế của xã mới có bước phát triển vượt bậc Vì vậy, công tác bảo vệ môi trường, nhất là quản lý chất thải rắn đang gặp rất nhiều khó khăn Số lượng dân
cư đông và thành phần phức tạp chính là thách thức lớn trong việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt Trên cơ sở khảo sát hiện trạng chất thải rắn trên địa bàn xã Hòa Tiến,
đề tài tập trung vào các mục tiêu sau:
- Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến
Trang 3- Dự báo tốc độ gia tăng dân số, tốc độ phát sinh CTR của xã đến năm 2025
- Đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, thu gom, vận chuyển và xử lý theo phương thức tốt nhất Thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chất thải rắn có nhiều loại: CTR y tế, CTR sinh hoạt, chất thải rắn xây dựng,… nhưng do điều kiện về thời gian, khả năng còn hạn chế nên đối tượng tập trung nghiên cứu chủ yếu là CTR sinh hoạt bao gồm:
+ Chất thải rắn từ hộ gia đình
+ Chất thải rắn phát sinh từ chợ
+ Chất thải rắn phát sinh từ cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học
Trên cơ sở khảo sát thu thập tài liệu và số liệu sẵn có về hệ thống thu gom, vận chuyển CTR trên địa bàn xã Hòa Tiến
- Đánh giá được hiện trạng hệ thống quản lý CTRSH trên địa bàn xã (nguồn phát sinh, quá trình thu gom, vận chuyển, xử lý…)
- Dự báo tốc độ phát sinh CTR, nhu cầu vận chuyển, nhu cầu xử lý CTR đến năm
2025
- Đưa ra các biện pháp quản lý để nghiên cứu lựa chọn phương án tối ưu hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt của xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Mục tiêu chính của đề tài là nhằm thu thập thông tin đầy đủ về khối lượng và các quy trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn xã Tiến đến kiểm kê các chất thải này và dự báo sự phát sinh chất thải trong tương lai (đến năm 2025)
Việc thu gom, vận chuyển hiện nay đã được thực hiện trên địa bàn xã nhưng chưa thật sự có hiệu quả cao Trong quá trình xây dựng nông thôn mới sẽ kéo theo nhiều nhu cầu sống; gia tăng dân số, đất ở, khối lượng sản phẩm cũng như nảy sinh
Trang 4nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là vấn đề rác thải sinh hoạt phát sinh
ngày càng nhiều Vì vậy cần “nghiên cứu và cải thiện hệ thống quản lý CTR sinh
hoạt cho xã”, để đảm bảo lượng rác được thu gom một cách triệt để và giữ vệ sinh
công cộng, đem lại nguồn nguyên liệu tái chế, tái sử dụng rác hiệu quả góp phần đem lại mỹ quan đô thị cho xã nói riêng và lợi ích môi trường nói chung
4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tôi sử dụng các phương pháp
và nguồn lực hỗ trợ sau để nghiên cứu:
4.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu và tổng hợp thông tin
Phương pháp này sẽ giúp nắm bắt được những thông tin cần thiết liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu Tài liệu phục vụ cho đề tài này được thu thập từ những nguồn sau:
- Từ các báo cáo, tư liệu của huyện Hòa Vang;
- Từ các báo cáo, tư liệu của xã và các thôn trong xã Hòa Tiến;
- Từ Công ty Môi trường đô thị Thành phố Đà Nẵng;
- Từ Xí nghiệp môi trường huyện Hòa Vang;
- Từ các nguồn tài liệu khác: sách; báo, tạp chí và những tư liệu trên mạng internet
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Đây là phương pháp quan trọng nhất nhằm kiểm tra các thông tin đã thu thập được qua tài liệu và thu thập những thông tin từ thực tế để củng cố vấn đề nghiên cứu Trong thời gian làm đề tài, tôi đã đến địa phương để thu thập tất cả các thông tin cần thiết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Cụ thể là: Theo dõi hoạt động thu gom rác, khảo sát điều kiện vệ sinh môi trường của xã, qua đó đánh giá được hiệu quả của tổ vệ sinh môi trường và hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay trên địa bàn xã Các công việc thực hiện:
- Tiến hành điều tra ngẫu nhiên 100 hộ gia đình từ 11 thôn trong xã dưới hình thức dùng phiếu điều ra để lấy về một số thông tin có liên quan
Trang 5+ Sau đó từ 100 hộ gia đình trên tiến hành điều tra ngẫu nhiên 30 hộ dựa trên chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người
- Lấy mẫu rác tại các hộ gia đình
+ Chọn ngẫu nhiên 30 hộ gia đình, chia thành 3 nhóm dựa trên chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người (trong đợt phát phiếu điều tra lần 1), để tiến hành cân tất cả các loại rác do hộ gia đình thải ra trong ngày (24 giờ), liên tục trong 7 ngày
+ Trước khi cân, hướng dẫn hộ gia đình cách phân loại rác thành 4 loại là rác hữu
cơ (thực phẩm, rác vườn), nilon, chất thải có thể tái chế được (thủy tinh, nhôm, sắt ) và các loại rác thải còn lại
+ Mỗi ngày, mỗi hộ gia đình được phát 4 túi nilon có 4 màu khác nhau để chứa 4 loại rác theo phân loại: xanh: rác hữu cơ; trắng: rác nilon; hồng: rác tái chế; vàng: rác khác
+ Hằng ngày, cân rác vào 7 giờ 30 đến 9 giờ Ngày đầu tiên cân và bỏ đi Bắt đầu cân và được ghi chép đầy đủ vào phiếu điều tra từ ngày thứ hai
+ Các số liệu thu được từ phiếu điều tra được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học
- Tiến hành phỏng vấn người dân, phỏng vấn công nhân thu gom để đánh giá tình hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn
4.2.3 Phương pháp đánh giá, xử lý số liệu
Từ số liệu và thông tin thu được có liên quan sẽ tiến hành phân tích và so sánh, đánh giá để làm tư liệu cho đề tài
5 Đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng phát sinh và công tác quản lý CTR sinh hoạt tại xã; đề tài đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến
Trang 66 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài cung cấp một số cơ sở khoa học, biện pháp tối ưu cho công tác quản
lý chất thải rắn tại xã Hòa Tiến trên cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp tại
xã như:
- Đề xuất biện pháp phân loại rác tại nguồn;
- Nâng cao nhận thức của người dân;
- Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý;
- Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường;
Mang lại lợi ích kinh tế cho nhà nước trong chi phí xử lý rác, đồng thời tìm
ra được biện pháp để giải quyết cho vấn đề đất chôn lấp rác đang thiếu hụt do khối lượng rác gia tăng
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục chữ viết tắt, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; đề tài gồm 3 chương
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chất thải rắn
1.1.1 Khái niệm cơ bản về chất thải rắn
1.1.1.1 Định nghĩa chất thải rắn
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được
định nghĩa là: Vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị
mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy [1]
1.1.1.2 Nguồn gốc chất thải rắn
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thị bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt);
- Từ các trung tâm thương mại;
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng;
- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay;
- Từ các hoạt động công nghiệp;
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị;
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố
1.1.1.3 Phân loại chất thải rắn
Việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp xác định các loại khác nhau của chất thải rắn được sinh ra Khi thực hiện phân loại chất thải rắn sẽ giúp sẽ giúp ta dễ thực hiện việc phân loại chất thải rắn tại nguồn, tăng khả năng tái chế và tái sử dụng các vật liệu trong chất thải, đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường Các chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau nên được phân theo nhiều loại khác nhau như:
1.1.1.3.1 Theo vị trí hình thành [11]
Người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ
Trang 8* Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
* Chất thải xây dựng: Là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình…
* Chất thải nông nghiệp: Là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp, thí dụ như trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, của các lò giết mổ…
1.1.1.3.4 Theo mức độ nguy hại [11]: Chất thải rắn được phân thành các loại:
* Chất thải nguy hại: Bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe con người, động vật và cây cỏ
* Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe của cộng đồng
* Chất thải không nguy hại: Là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
1.1.1.4 Tốc độ phát sinh chất thải rắn
Việc tính toán được tốc độ phát thải là một trong những yếu tố quan trọng trong việc quản lý rác thải bởi vì từ đó người ta có thể xác định được lượng rác phát sinh trong quá trình sản xuất, tiêu dùng, đồng thời dự báo được trong tương lai để
có kế hoạch và biện pháp quản lý chặt chẽ từ khâu thu gom, trung chuyển, vận
Trang 9chuyển đến xử lý Vì thế để quản lý tốt lượng rác phát sinh ta cần biết tốc độ phát sinh chất thải rắn Phương pháp xác định tốc độ phát thải rác cũng gần giống như phương pháp xác định tổng lượng rác Người ta sử dụng một số loại phân tích sau đây để định lượng rác thải ra ở một khu vực [1], đó là:
- Đo khối lượng
Trang 101.1.1.6 Tính chất của chất thải rắn
1.1.1.6.1 Tính chất vật lý
Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn đô thị gồm: khối lượng riêng, độ ẩm, kích thước và độ xốp Trong đó khối lượng riêng và độ ẩm là những tính chất được quan tâm nhất trong công tác quản lý CTR đô thị ở Việt Nam
- Khối lượng riêng: hay mật độ của rác thải thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của chất thải Khối lượng riêng là thông số quan trọng phục vụ cho công tác thu gom vận chuyển và xử lý Qua đó có thể phân bố và tính được nhu cầu trang thiết bị chuẩn cho công tác thu gom, vận chuyển rác thu gom, thiết kế quy mô bãi chôn lấp Đối với rác thực phẩm, khối lượng riêng khoảng 100-500 kg/m3 Khối lượng riêng của chất thải sinh hoạt thay đổi từ 120-590 kg/m3 Đối với xe vận chuyển rác có thiết bị ép rác lên đến 830 kg/m3 [12]
- Độ ẩm: Là thông số có liên quan đến giá trị nhiệt lượng của chất thải rắn, được xem xét khi lựa chọn phương án xử lí, thiết kế bãi chon lấp và lò đốt Độ ẩm rác thay đổi theo thành phần và theo mùa trong năm Rác thải thành phố có độ ẩm từ 50-80%, rác thải là thủy tinh, khối lượng có độ ẩm thấp Độ ẩm trong rác cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật kỵ khí phân hủy gây thối rữa [2,4]
1.1.1.6.2 Tính chất hóa học và giá trị nhiệt lượng
Khi lựa chọn phương án xử lí chất thải, thời gian thu gom, vận chuyển rác thông thường, rác thải có giá trị nhiệt lượng cao như: gỗ, cao su, trấu,…sẽ được sử dụng làm chất đốt, rác thải có thành phần lữu cơ dễ phân hủy phải thu gom trong ngày và ưu tiên xử lí theo phương pháp sinh học Để có số liệu về tính chất hóa học
và giá trị nhiệt lượng người ta thường xác định thông số sau:
* Tính chất hóa học [11,12]
- Thành phần lữu cơ: được xác định là thành phần thất thoát (chất bay hơi) sau khi nung rác ở nhiệt độ 9500C
- Thành phần vô cơ: là thành phần tro còn lại sau khi nung rác thải
- Thành phần phần trăm của C, H, O, N, S và tro được xác định để tính nhiệt lượng của rác
Trang 11Bảng 1.2.Số liệu thường thấy khi phân tích các thành phần cơ bản của chất thải đô thị
(Nguồn: Environment engineering,Gerad Kiely, 1998)
* Giá trị nhiệt lượng [12]
Theo Frank Kreith, giá trị nhiệt lượng trong thành phần rác thải đô thị được trình bày trong bảng 1.3
Bảng 1.3.Giá trị nhiệt lượng trong thành phần của rác thải đô thị
Thành phần Giá trị nhiệt lượng (Btu/1b)
Khoảng giá trị Trung bình
Trang 121 1.1.6.3 Tính chất sinh học
Tính chất sinh học quan trọng nhất của phần hữu cơ trong chất thải rắn đô thị hầu như tất cả các hợp phần hữu cơ đều có thể bị phân hủy sinh học tạo thành các khí đốt và khí trơ, các chất rắn vô cơ có liên quan đến Thành phần chất rắn dễ bay hơi được xác định bằng cách đốt ở 5500C, thường được sử dụng như một thước đo khả năng phân hủy sinh học của phần hữu cơ trong chất thải rắn đô thị [12]
Bảng 1.4.Khả năng phân hủy sinh học của chất hữu cơ dựa vào thành phần lignin
Hợp phần Chất rắn bay hơi
(% tổng chất rắn)
Thành phần lignin (% chất rắn bay hơi)
Phần phân hủy sinh học
(Nguồn: George Tchbanous, etal, Mc Graw - Hill inc, 1993)
Khả năng phân hủy chung của các hợp chất hữu cơ trong chất thải rắn đô thị dựa vào thành phần lignin được trình bày ở bảng 1.4 Những chất hữu cơ có thành phần lignin cao, khả năng phân hủy thấp đáng kể so với chất khác
1.1.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường
1.1.2.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước
Chất thải rắn đặc biệt là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy nhanh chóng Tại các bãi rác, nước trong bãi rác sẽ tách ra kết hợp với các nguồn nước khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt, hình thành nước rò rỉ Nước rò rỉ
di chuyển trong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như trong quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh
Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá trình phân hủy sinh học, hóa học Nhìn chung mức độ ô nhiễm trong nước rò rỉ rất cao (COD: từ 3000-45000 mg/l; N-NH3: từ 10-800 mg/l; BOD5: từ 2000-30000
Trang 13mg/l; TOC (cacbon hữu cơ tổng hợp): từ 1500-20000 mg/l; phospho tổng cộng: từ 1-70 mg/l; …và lượng lớn các vi sinh vật) [1,4]
Đối với bãi rác thông thường các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu vào nước ngầm gây ô nhiễm cho tầng nước ngầm và sẽ rất nguy hiểm cho con người khi sử dụng tầng nước này phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt Ngoài ra chúng còn rỉ ra bên ngoài bãi rác gây ô nhiễm nguồn nước mặt
Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng lên men acid sẽ cao hơn so với giai đoạn lên men metan Các hợp chất hydroxyt vòng thơm, acid humic và acid fulvic có thể tạo phúc với Feralit, Pb, Cu, Cd, Mn, Zn… Vì vậy khi kiểm soát chất lượng nước ngầm trong khu vực bãi rác phải kiểm tra xác định nồng
độ kim loại nặng trong thành phần nước ngầm [9]
Ngoài ra, nước rò rỉ có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại: chất hữu cơ bị Halogen hóa, các hyrocacbon đa vòng thơm, chúng có thể gây đột biến gen, gây ung thư
1.1.2.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất ở hai điều kiện hiếu khí và kị khí, khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra các hàng loạt sản phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản H2O, CO2, CH4,…
Với một lượng rác và nước rỉ rác vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành những chất ít ô nhiễm hoặc không ô nhiễm Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Các chất ô nhiễm này cùng với kim loại nặng, các chất độc hại cùng với vi trùng theo nước trong đất chảy xuống nguồn nước ngầm làm ô nhiễm nguồn nước
1.1.2.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có một phần có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có thể có những chất thải có khả năng phát tán vào không khí gây ô nhiễm không khí trực tiếp, cũng có loại rác dễ phân trong điều kiện nhiệt
độ và độ ẩm thích hợp (nhiệt độ tốt nhất là 350C và độ ẩm thích hợp là 70-80%) [9]
Trang 14sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo mùi hôi, nhiều loại khí ô nhiễm có tác động xấu đến môi trường độ thị, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người Thành phần khí thải chủ yếu được tìm thấy ở các bãi chôn lấp rác được thể hiện ở bảng 1.5
Bảng 1.5.Thành phần khí thải chủ yếu ở bãi chôn lấp
1.1.2.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe con người
Chất thải phát sinh từ các đô thị nếu không được thu gom, vận chuyển và xử
lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, tạo mỹ quan xấu và nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng
Thành phần chất thải rắn rất phức tạp, có vô số mầm bệnh nguy hiểm tiềm ẩn
do chất thải phát sinh từ nhiều nguồn Khi chúng phân hủy sẽ tạo ra nhiều khí độc, trong đó có cả vi khuẩn, vi sinh vật và kí sinh trùng gây bệnh cho con người Nhiều thống kê cho thấy rằng người dân sống gần các bãi rác bừa bãi, mất vệ sinh thường
có nguy cơ nhiễm bệnh do sinh vật gây ra hơn nơi khác Một số bệnh mắc phải như sốt rét, sốt xuất huyết, thương hàn, tiêu chảy, giun sán, và một số bệnh ngoài da…[12]
Một cách ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng khác là sự giải phóng mùi hôi thối Mùi hôi thối có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và thể trạng của con người, cũng như gây ảnh hưởng trực tiếp về kinh tế lên giá trị các khu nhà đất xung quanh
1.1.3 Quá trình thu gom – Vận chuyển chất thải rắn
1.1.3.1 Quá trình thu gom
(Nguồn: Handbook of solid waste management, 1994)
Trang 15Thu gom chất thải là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà dân, các công sở hay từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển tiếp, trung chuyển hay chôn lấp
Dịch vụ thu gom rác thải có thể chia ra thành hai loại: sơ cấp và thứ cấp
- Thu gom sơ cấp (thu gom ban đầu) là thu gom rác thải từ nguồn phát sinh ra nó và chở đến bãi chứa chung, các địa điểm hoặc bãi chuyển tiếp [1]
- Thu gom thứ cấp (thu gom ban đầu) là thu gom các loại chất thải rắn từ các điểm thu gom chung (điểm cẩu rác) trước khi vận chuyển chúng theo từng thành phần hoặc cả tuyến thu gom đến một trạm trung chuyển, một cơ sở xử lý hay bãi chôn lấp bằng các loại phương tiện chuyên dụng có động cơ [1]
1.1.3.2 Quá trình vận chuyển
Quá trình vận chuyển bao gồm bốc xếp chất thải rắn từ thùng lên xe rồi chuyển chở chất thải rắn từ các vị trí đặt các thùng chứa tới điểm tập trung (trạm trung chuyển, trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp) Thời gian thao tác tại bãi thải bao gồm thời gian bốc dỡ và thời gian chờ đợi Ngoài ra quá trình vận chuyển còn tính đến thời gian hoạt động ngoài hành trình (thời gian tính toán đển kiểm tra phương tiện, thời gian đi từ cơ quan tới vị trí bốc xếp đầu tiên, thời gian khắc phục do ngoại cảnh gây ra, thời gian bão dưỡng, sửa chữa thiết bị…) [11]
Sơ đồ tổng quát của quá trình vận chyển chất thải rắn:
Hình 1.1.Sơ đồ tổng quát quá trình vận chuyển chất thải rắn
1.1.4 Các phương pháp xử lý chất thải rắn
1.1.4.1 Phương pháp ổn định CTR bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng tại Hoa Kỳ (2/1996), công nghệ này nhằm xử lý chất thải rắn đô thị kể cả rác độc hại thành các sản phẩm phục vụ xây dựng, làm vật liệu, …
Bản chất của công nghệ là nghiền nhỏ CTR sau đó hoà polyme và sử dụng
Trung
Trang 16áp lực lớn nén, ép, định hình các sản phẩm CTR sau khi được thu chuyển về nhà máy, chất thải rắn không cần phân loại được đưa vào cắt, nghiền nhỏ sau nó chuyển tới thiết bị trộn băng tải Chất thải lỏng được pha trộn trong bồn phản ứng, các chất trung hoà và khử độc xảy ra trong bồn Sau đó, chất thải lỏng từ bồn phản ứng được bơm vào các thiết bị trộn; chất thải kết dính với nhau sau khi thành phần polymer được cho thêm vào Sản phẩm ở dạng bột được chuyển đến nhà máy ép khuôn và cho ra sản phẩm mới, công nghệ này an toàn về mặt môi trường và không độc hại [11,1]
1.1.4.2 Phương pháp đốt
Đốt CTR là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại chất thải nhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác Đây là quá trình sử dụng nhiệt để chuyển đổi chất thải từ dạng rắn sang dạng khí, lỏng và tro…đồng thời giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt Các chất khí được làm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí, CTR còn lại thì được mang đi chôn lấp [11]
- Ưu điểm:
+ Xử lý triệt để các chất độc hại của chất thải đô thị;
+ Thu hồi năng lượng nhiệt để tái sử dụng vào mục đích quan trọng;
+ Hiệu quả xử lý cao đối với loại chất hữu cơ có vi trùng lây nhiễm như chất thải y
tế cũng như chất thải nguy hại khác
- Nhược điểm:
+ Vốn đầu tư ban đầu cao hơn rất nhiều so với các phương pháp xử lý khác và việc
Trang 17thiết kế lò đốt phức tạp đòi hỏi năng lực kỹ thuật cao;
+ Đối với chất thải có hàm lượng ẩm cao, hay các thành phần không cháy cao thì việc đốt rác không thuận lợi
1.1.4.3 Phương pháp sinh học
Phương pháp sinh học với sự tham gia của các vi sinh vật, xử lý bằng phương pháp này thực chất là một công nghệ khép kín Chất thải rắn sinh hoạt sau khi thu gom sẽ được băng tải để phân loại Chất thải rắn hữu cơ được tách riêng sau
đó được nghiền nhỏ rồi đem ủ Trong khoảng 10 – 12 ngày sẽ diễn ra quá trình lên men sinh học kỵ khí và hiếu khí
Quá trình phân hủy sinh học sẽ sinh ra các loại khí sinh học trong đó có khí metan Ở những quy trình lâu năm khí metan có thể lên tới 60 - 65% Còn tại quá trình lên men hiếu khí CTR hữu cơ sẽ được chuyển hóa thành phân vi sinh Xử lý bằng công nghệ sinh học đã đem lại hiệu quả kinh tế hết sức thuyết phục nó có rất nhiều ưu điểm vượt trội như:
+ Tuy so vốn đầu tư ban đầu cao hơn 2 – 3 lần bãi chôn lấp nhưng tính tổng thể lượng thời gian sử dụng thì rẻ hơn các bãi chôn lấp rất nhiều Nhà máy chỉ cần 20% diện tích bãi chôn lấp nên tiết kiệm được 80% đất đai;
+ Sản xuất được lượng phân bón và nhiệt đáng kể để phục vụ đời sống Theo các nhà chuyên môn thì 1 tấn rác thải tạo ra 1,854 m3 khí; mỗi m3 khí sẽ cho khoảng 1.27kWh điện và 5.600 kcal nhiệt trị
1.1.4.4 Phương pháp chôn lấp
Chôn lấp là phương pháp cổ điển nhất, kinh tế nhất và có thể chấp nhận được
về mặt môi trường Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm thiểu lượng chất thải, tái sinh, tái sử dụng và cả kỹ thuật chuyển hoá chất thải, việc thải bỏ phần chất thải
còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu trong chiến lược quản lý tổng hợp CTR [1]
- Ưu điểm:
+ Phù hợp với vùng có diện tích đất rộng;
+ Xử lý được tất cả các loại CTR kể cả CTR mà các phương pháp khác không thể
xử lý triệt để hoặc không xử lý được;
Trang 18+ Sau khi đóng cửa BCL có có thể sử dụng với mục đích khác nhau như: bãi giữ xe, sân chơi, công viên Vốn đầu tư ban đầu, chi phí hoạt động BCL thấp hơn so với
các phương pháp khác;
+ Thu hồi năng lượng từ khí gas
- Nhược điểm:
+ Tốn rất nhiều diện tích đất, nhất là nơi tài nguyên đất khan hiếm;
+ Khó khăn trong việc kiểm soát lượng khí thải và nước rỉ rác;
+ Có nguy cơ gây cháy nổ nguy hiểm do phát sinh khí CH4, H2S;
+ Phải quan trắc chất lượng môi trường sau khi đóng cửa
1.1.4.5 Phương pháp nhiệt phân
So với phương pháp chôn lấp và phương pháp đốt, phương pháp nhiệt phân với nhiệt độ thấp tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn như: cho ra sản phẩm chính là than tổng hợp có hàm lượng lưu huỳnh thấp có thể dung làm nhiên liệu cho nhà máy nhiệt điện, quy trình xử lý đơn giản, vì xử lý trong nhiệt độ thấp (khoảng 50oC) nên tránh được các nguy cơ phản ứng sinh ra chất độc hại và hiệu quả xử lý cao [11]
1.1.5 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thành phố Đà Nẵng
1.1.5 1 Thực trạng phát thải CTR tại Thành phố Đà Nẵng
Bảng 1.6.Khối lượng CTR phát sinh và tỷ lệ thu gom tại TP Đà Nẵng
Năm Phát sinh (tấn/ngày) Thu gom (tấn/ngày) Tỷ lệ thu gom (%)
( Nguồn: Công ty Môi trường Đô thị thành phố Đà Nẵng)
Tổng thải lượng chất thải rắn của thành phố Đà Nẵng ước khoảng 260.000 – 280.000 tấn/năm, chỉ bằng 1/10-3/10 so với Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao: 77,23% [10] trong tổng lượng rác thải của thành phố
Tỷ lệ này cho thấy rác thải ở Đà Nẵng chủ yếu là chất thải hữu cơ
Tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo đầu người ở Đà Nẵng thay đổi từ 0,83 kg/ng/ngày (ở đô thị) và 0,4 kg/người/ngày (ở nông thôn) [10], xấp xỉ tỷ lệ phát
Trang 19sinh rác thải tại các đô thị thuộc các quốc gia đang phát triển và thấp hơn rất nhiều
so với các đô thị của các quốc gia phát triển
Trong tương lai không xa, thành phố Đà Nẵng sẽ phát triển các khu đô thi mới thì tổng lượng rác, chủng loại rác và tỷ lệ phát sinh rác thải sẽ gia tăng nhanh chóng Điều này đặt chúng ta trước những thách thức môi trường trong việc quản lý chất thải rắn
1.1.5.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
1.1.5.2.1 Lực lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Đà Nẵng
Hiện nay, chất thải rắn trên địa bàn thành phố do công ty Môi trường Đô thị
Đà Nẵng chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý với 694 công nhân trực
tiếp làm công tác vệ sinh môi trường đô thị cho 6 quận và 1 huyện
1.1.5.2.2 Công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Đà Nẵng
Hiện nay công ty Môi trường đô thị thành phố Đà Nẵng thu gom chất thải rắn bình quân được 692 tấn/ngày [10], tỷ lệ thu gom khoảng 90-92% lượng rác phát sinh trên địa bàn thành phố (gồm 6
quận và 1 huyện) Toàn bộ chất thải
rắn thu gom chưa tiến hành phân loại
tại nguồn
* Hình thức thu gom: 3 hình thức
- Thu gom bằng xe thô sơ bagac kéo
và đạp có trang bị thùng 660L thông
qua trạm trung chuyển trước khi vận
chuyển lên bãi đổ bằng hệ thống
Container và vận chuyển bằng xe Hoolik
- Thu gom bằng xe cuốn ép trực tiếp có còi loại xe 3,5 tấn Loại xe này sử dụng thu gom tại các vùng ven, ngoại ô thành phố
- Thu gom trực tiếp bằng thùng 240L được đặt dọc trên các đường chính và các khu dân cư, tái định cư mới mở
Hình 1.2.Xe bagac có gắn thùng chứa
660L
Trang 20- Thu gom bằng thùng 660L bằng xe bagac đưa về điểm trung chuyển và tất cả 2 loại thùng 240L và 660L đều được nâng gấp và vận chuyển lên bãi rác Khánh Sơn bằng xe Huyndai 5 tấn và Hino 9 tấn dọc các đường phố bắt đầu từ 7 giờ sáng hôm nay đến 2 giờ sáng hôm sau
* Quy trình thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Dựa trên tuyến thu gom chính, việc bố trí quy trình thu gom và vận chuyển rác được khái quát bằng sơ đồ như sau:
Xe nâng thùng
Trạm trung chuyển
Xe Container
Bãi chôn lấp Khánh Sơn
Rác thải sinh hoạt
Hình 1.3.Xe cuốn ép Hình 1.4.Xe nâng
Hình 1.5.Quy trình thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt tại thành phố Đà Nẵng
Trang 211.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Hòa Tiến
- Phía Bắc giáp với xã Hòa Thọ
- Phía đông giáp xã Hòa Châu
- Phía Nam giáp xã Điện Hòa, Điện
Tiến, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam
- Phía Tây giáp xã Hòa Khương, Hòa
Phong
Là một xã có địa hình đồng bằng
hẹp, tương đối bằng phẳng, có tiềm
năng để phát triển các vùng sản xuất
chuyên canh và chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng công nghiệp, với quy mô hộ gia đình, nông trại vừa và nhỏ với tổng diện tích đất tự nhiên của Hòa Tiến là 1449
ha chiếm 1,89% diện tích tự nhiên của huyện Hòa Vang Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 55,45%, đất chuyên dùng 14,35%, đất lâm nghiệp 3,19%, đất ở chiếm 17,72
%, đất chưa sử dụng chiếm 9,29 % [7] Đất đai của Hòa Tiến gồm các loại đất chủ yếu sau: đất phù sa, đất cát, đất đỏ vàng, đất xám, đất mùn trong các loại đất trên, nhóm đất phù sa chiếm tỷ trọng cao nhất, thích hợp cho việc trồng cây lương thực, thực phẩm và các loại cây công nghiệp hàng năm
1.2.1.2 Điều kiện khí tượng, thủy lợi
1.2.1.2.1 Điều kiện khí tượng
Xã Hòa Tiến nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới điển hình, có mùa mưa và
Hình 1.6.Bản đồ xã Hòa Tiến
Trang 22mùa nắng rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 và mùa nắng từ tháng 2 đến tháng 9, đặc biệt từ tháng 12 đến tháng 2 thường xuất hiện các đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa và nhiệt độ xuống thấp, thỉnh thoảng xuất hiện các đợt rét đậm, nhiệt độ xuống dưới 200C ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp [7] Mạt khác, nằm trong khu vực miền Trung nên Hòa Tiến còn chịu ảnh hưởng của bão, trung bình hằng năm khu vực miền Trung có khoảng từ 2 đến 6 cơn bão sẽ ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp của khu vực 1.2.1.2.2 Chế độ thủy lợi
Trên địa bàn xã có 01 trạm bơm lớn (Đập Dâng), 02 trạm bơm nhỏ, hệ thống kênh chính được bê tông hóa, năng lực tưới tiêu tương đối đảm bảo Diện tích sản xuất nông nghiệp của xã 803,4 ha; trong đó diện tích cấy lúa 500ha Có 58,6 km kênh mương thủy lợi Hiện nay, hệ thống kênh do địa phương quản lý chưa được kiên cố [16]
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tăng lên nhanh Tổng giá trị sản xuất năm 2012 đạt 112,2 tỷ đồng [16] tăng 12% so với năm 2011
Hiện nay cơ cấu kinh tế của xã đã có những bước chuyển dịch sang hướng tăng các ngành tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng các ngành nông nghiệp Các số liệu tổng hợp được thể hiện ở bảng 1.7
Bảng 1.7.Cơ cấu các ngành kinh tế ở xã Hòa Tiến
Các ngành kinh tế Năm 2004 Năm 2010 Năm 2012
Dân số xã Hòa Tiến là 16.668 người với 4264 hộ, sinh sống tại 11 thôn Trong
đó, thôn có số hộ đông nhất là thôn Lệ Sơn 1 có 1.853 hộ, ít nhất là thôn Bắc An có
Trang 2394 hộ [16] Với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên là 1,08% vào năm 2011
Nguồn lao động của xã khá dồi dào Thống kê đến hết năm 2012, toàn xã có
9853 người lao động chiếm 59,1% dân số…
Năm 2012, bình quân lương thực đầu người đạt 412,5 kg/người; thu nhập bình quân đầu người đạt 21,63 triệu đồng/người/năm [16] Các chính sách xã hội được thực hiện đầy đủ Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
1.2.2.3 Tình hình phát triển văn hóa - xã hội
Giáo dục và đào tạo: Hiện nay toàn xã có 2 trường mẫu giáo chính quy và một trường mẫu giáo tư thục, 2 trường tiểu học,1 trường THCS Ngoài ra xã còn có trung tâm học tập cộng đồng hàng quý có mở các lớp bổ túc văn hóa cấp III, 01 lớp nghề điện dân dụng
Y tế: Xã có một trạm y tế được xây dựng và tầng hóa với quy mô 12 giường bệnh Tổng số cán bộ nhân viên là 11 người, trong đó có một bác sỹ, hai y sĩ
Văn hóa: Hòa Tiến có 11/ 11 thôn văn hoá và 3825/4264 hộ được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa đạt 89,7% so với số hộ trên địa bàn xã [16] Trên địa bàn xã có thư viện, tủ sách xã, điểm bưu điện văn hoá xã và câu lạc bộ thôn, xã Đình làng thôn Yến Nê được công nhận là di tích lịch sử đình làng cấp thành phố
Hệ thống phát thanh của xã luôn đảm bảo các Nghị định, chính sách của Đảng và Nhà nước đến sớm với người dân Các phong trào văn hóa văn nghệ, phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa…từng bước phát triển làm chuyển hóa mạnh mẽ đời sống văn hóa của người dân, góp phần lành mạnh hóa đời sống
và tích cực phòng chống các tệ nạn xã hội
Ngoài ra , trên địa bàn xã còn có 3 hợp tác xã với 02 hợp tác xã nông nghiệp thực hiện tốt chức năng bà đỡ cho hộ xã viên sản xuất nông nghiệp, 01 hợp tác xã nấm tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường và tăng thu nhập cho người lao động
1.2.2.4 Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng
Giao thông: Hoà Tiến có những điều kiện thuận lợi về giao thông như là đường giao thông liên tỉnh đi Quảng Nam và Hoà Tiến chỉ cách trung tâm thành phố Đà Nẵng có 14 km nên có những thuận lợi trong phát triển kinh tế Hòa Tiến được thừa hưởng phần thuận lợi khi có tuyến đường liên xã nối giữa quốc lộ 1A và 14B (đường Miếu Bông – Hòa Khương) dài 4 km Đoạn đường tỉnh lộ DT 605 (Cầu
Trang 24Đỏ đi Điện Tiến) với chiều dài 4km Điều kiện giao thông thuận lợi này có ảnh hưởng đến sinh hoạt, kinh tế cũng như đời sống xã hội của người dân Hiện nay, 100% con đường trong xã đã được rải nhựa và bê tông hóa Năm 2012 xã đã tiến hành thi công mở rộng và nâng cấp 4.873m đường giao thông kiệt trong xóm [16]
Đảm bảo nền đường rộng 5m
Cấp điện, nước: Toàn xã có 8 trạm biến áp với tổng công suất 1.850KVA, có
hệ thống đường dây nhánh trung thế 15KV dài 5.280m, đường dây hạ thế 0,4KV dài 23.750 đi đến các thôn Đến nay, 100% số hộ trong xã được cấp điện bằng mạng lưới điện quốc gia Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch trên địa bàn xã tính đến năm 2012 là 88,7% [16]
Trang 25Chương 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI
XÃ HÒA TIẾN - HUYỆN HÒA VANG - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Nguồn phát sinh, khối lượng, thành phần chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến - huyện Hòa Vang - thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã
Theo kết quả nghiên cứu, các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến gồm:
- Chất thải đổ ra từ 11 thôn (4.264 hộ) Trong đó có:
+ 3006 hộ gia đình (13.839 người) sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ Các nghề phụ như: xay xát, làm mộc dân dụng, may mặc, giết mổ gia súc, buôn bán hàng tiêu dùng,…
+ 323 hộ gia đình kinh doanh (1.298 người) Các hộ kinh doanh bao gồm: nhà hàng
ăn uống, phương tiện vận tải bộ, sửa chữa cơ khí, xăng dầu, vật liệu xây dựng, kinh doanh hàng điện tử…trong đó có 14 công ty trách nhiệm hữu hạn chủ yếu là thuộc lĩnh vực vật liệu xây dựng
+ 935 hộ gia đình công nhân viên chức (1531 người)
- Chất thải phát sinh từ 2 chợ lớn (Lệ Trạch, Yến Nê 1) và một số chợ nhỏ;
- Chất thải từ các nhà trẻ, mẫu giáo, 2 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở, 1 trụ sở, 1 trạm y tế của xã…
2.1.2 Khối lượng, thành phần chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã
2.1.2.1 Khối lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn
Tiến hành khảo sát điều tra 30 hộ từ 100 hộ trong đợt phát phiếu lần 1, một cách ngẫu nhiên theo bình quân thu nhập hàng tháng của mỗi hộ
Trang 26Bảng 2.1.Khối lượng CTR sinh hoạt từ các hộ gia đình có mức thu nhập khác nhau
Mức thu nhập
( đồng)
Số hộ (hộ)
Số người trung bình /hộ (người)
Khối lượng bình quân (kg/hộ/ngàyđêm)
Lượng rác thải bình quân (kg/người/ngày)
(Nguồn: Sinh viên thực hiện)
Lượng rác thải bình quân của mỗi người tại xã Hòa Tiến là 0,42 kg/người/ngày Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trong toàn xã:
0,42 x 16.668 = 7.000,56 (kg/ngày) làm tròn 7.001 (kg/ngày)
Hàng năm lượng rác thải của xã Hòa Tiến là:
7.000,56 x 365 ngày = 2.555.204,4 (kg) = 2.555,2 (tấn) Với lượng rác thải bình quân tại xã Hòa Tiến là 0,42 (kg/người/ngày) so với kết quả nghiên cứu của một số đề tài về hiện trạng phát sinh rác nông thôn ở một số khu vực khác như: xã Kim An - huyện Thanh Oai - tỉnh Hà tây (0,5-0,8 kg/người/ngày);
xã Nghi Hương - thị xã Cửa Lò - tỉnh Nghệ An (0.96 kg/người/ngày) thì lượng rác thải bình quân tại xã Hòa Tiến Là tương đối thấp do:
- Xã Hòa Tiến tuy thành lập từ năm 1997 nhưng đến năm 2011 thì mới thực sự có bước phát triển, hơn nữa xã thuộc một huyện ngoại thành; vì vậy điều kiện kinh tế -
xã hội không bằng một số khu vực nông thôn phát triển trong thị xã hay thị trấn (tốc
độ tăng trưởng kinh tế tại xã Nghi Hương: 19 %/năm; xã Kim An:17%/năm; xã Hòa Tiến: 12%/năm)
- Với mức thu nhập thấp, người dân xã Hòa Tiến tận dụng thức ăn thừa để chăn nuôi gia súc, gia cầm và đốt rác vườn để lấy tro phục vụ cho trồng trọt
Trang 272.1.2.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã
Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát được thể hiện ở biểu đồ sau:
tỷ lệ của rác nilon và các loại rác còn lại Nhóm hộ thứ 3 có thành phần rác nilon chiếm tỷ lệ cao nhất
Đặc biệt là thành phần của rác thải hữu cơ, đối với nhóm hộ có mức thu nhập bình quân hàng tháng từ 3.500.000 đồng đến 5.000.000 đồng thì rác thực phẩm chiếm tỷ lệ lớn về khối lượng nhưng thành phần này hầu như được tận dụng ở nhóm hộ có mức thu nhập bình quân hàng tháng từ 1.000.000 đồng đến 2.500.000 đồng Tuy nhiên các hộ này lại thải ra một lượng rác vườn rất lớn
Hình 2.1.Biểu đồ khối lượng thành phần
rác sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến
Trang 28Bảng 2.2.Thành phần CTR sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến
Rác có khả năng tái chế (Giấy, bìa, chai nhựa, ) 5%
(Nguồn: Sinh viên thực hiện)
Việc phân tích số liệu và khảo sát thực địa cho thấy các thôn có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau thì lượng rác phát sinh cũng khác nhau kể cả khối lượng và thành phần nhưng nhìn chung chủ yếu vẫn là thành phần rác hữu cơ chiếm 67,3% Rác vườn là các cành cây, hoa lá, gỗ, đất, đá chiếm thể tích lớn Thành phần
có khả năng tái chế như giấy, bìa cactông, chai nhựa, chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 5%) Còn lại là rác khó phân hủy đặc biệt là nilon tuy nhẹ nhưng lại chiếm thể tích lớn nên với tỷ lệ trên thì nó chiếm một diện tích lớn trên bãi thải
2.2 Hiện trạng tồn lưu chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Hòa Tiến
2.2.1 Tồn lưu chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình
Hiện tại, các gia đình thường sử dụng những thùng nhựa có nắp đậy, xô, thùng sơn không có nắp đậy, sọt nhựa, chậu, Các thiết bị lưu chứa này thường được đặt phổ biến ở trong nhà hoặc đưa ra trước cửa do đó thường phát sinh mùi hôi
Hình 2.3.Tồn lưu chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình