Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường được sự quan tâm, giúp đỡ của khoa Địa Lý, Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá thực trạng và giải
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đà Nẵng, tháng 4/2017
Trang 2Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường được sự quan tâm, giúp đỡ của khoa Địa Lý, Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng” Để hoàn thành khóa luận này, ngoài nổ lực của bản thân, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của nhiều cá nhân và tập thể Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Qúy thầy cô giáo khoa Địa Lý, cùng toàn thể quý thầy cô và Ban giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã tận tình giảng dạy trang bị kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập và thực tập vừa qua
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Trương Phước Minh, là người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Du Lịch thành phố Đà Nẵng, Ban Quản
Lý Khu Danh Thắng Ngũ Hành Sơn và Phòng văn hóa thông tin quận Ngũ Hành Sơn đã cung cấp cho em những thông tin quan trọng thiết thực cho đề tài
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Mặc dù hết sức nổ lực và cố gắng, nhưng do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn hẹp nên đề tài không tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự chỉ đạo đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 04, năm 2017 Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang 3MỤC LỤC CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VỀ
DU LỊCH TÂM LINH 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Khái niệm về du lịch 11
1.1.2 Khái niệm tâm linh 12
1.1.3 Khái niệm du lịch tâm linh 12
1.1.4 Một số đặc điểm của loại hình du lịch tâm linh 14
1.1.5 Vai trò của du lịch và du lịch tâm linh 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Thực tiễn hoạt động du lịch tâm linh trên thế giới 17
1.2.2 Thực tiễn hoạt động du lịch tâm linh ở Việt Nam 18
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 20
2.1 Khái quát chung về Thành phố Đà Nẵng 20
2.1.1 Vị trí địa lý 20
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội 22
2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 22
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 25
2.1.4 Lịch sử hình thành 31
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng 33
2.2.1 Di tích gắn với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng 34
Trang 42.2.2 Di tích gắn với tín ngưỡng thờ Thiên Y Ana 40
2.2.3 Di tích gắn với tín ngưỡng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu 43
2.2.4 Những di tích gắn với các tôn giáo 45
2.2.4.1 Phật giáo 45
2.2.4.2 Công Giáo 51
2.2.4.3 Hội Thánh truyền giáo Cao Đài 52
2.2.5 Hệ thống nhà thờ và lăng mộ 54
2.2.5.1 Nhà thờ 54
2.2.5.2 Lăng mộ 56
2.2.6 Hệ thống các di tích lịch sử cách mạng 58
2.2.7 Những lễ hội và tập quán khác 62
2.2.8 Tài nguyên văn hóa phi vật chất 67
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng 70
2.3.1 Khách du lịch 70
2.3.2 Doanh thu du lịch 73
2.3.3 Nguồn lao động du lịch 75
2.3.4 Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 76
2.3.5 Sản phẩm phục vụ du lịch tâm linh 79
2.4 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng 80
2.4.1 Những kết quả đạt được 80
2.4.2 Những tồn tại và hạn chế 82
Trang 5CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH TẠI THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG 81
3.1 Cở sở xây dựng giải pháp 81
3.1.1 Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030……… 82
3.1.2 Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 83 3.1.2 Định hướng phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng 83
3.2 Một số giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng 85
3.2.1 Giải pháp về tổ chức quản lí và cơ chế chính sách 85
3.2.2 Giải pháp về bảo tồn 86
3.2.3 Giải pháp về đầu tư và thu hút nguồn vốn 87
3.2.4 Giải pháp về nhân lực 88
3.2.5 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật 89
3.2.5.1 Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch 90
3.2.5.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch 90
3.2.6 Giải pháp về xúc tiến tuyên truyền, quảng bá 91
Trang 6Theo các chuyên gia trên thế giới, xu hướng du lịch chung cho những năm tới chính là sự thống trị của du lịch văn hóa, trong đó có du lịch tâm linh Đây cũng là thế mạnh và cũng là yếu tố cạnh tranh của du lịch Việt Nam với nền văn hóa phương Đông giàu bản sắc Nhưng nó cũng đặt ra yêu cầu là cần phải phát hiện và
có biện pháp khai thác tối đa các điểm du lịch, khu di tích có giá trị văn hóa tâm linh đặc sắc, độc đáo để biến chúng thành các sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam
Đà Nẵng là một trong những thành phố có tiềm năng du lịch to lớn ở nước ta Tuy có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch tâm linh, nhưng trên thực tế, loại hình du lịch tâm linh ở Đà Nẵng vẫn chưa phát huy được lợi thế để hấp dẫn khách du lịch Nhưng phát triển theo hướng nào, đâu là sản phẩm đặc trưng và độc đáo mà lại có sức cạnh tranh để thu hút du khách là một vấn đề lớn cần quan tâm
và tập trung nghiên cứu Một trong những hướng phát triển hiện nay mà Đà Nẵng
đã lựa chọn là đẩy mạnh phát triển loại hình du lịch tâm linh, góp phần phát huy ngành du lịch Thành phố ngày càng phát triển và đứng vững trong thị trường du lịch Việt Nam, cũng như trên trường quốc tế
Do vậy, em đã chọn đề tài “ Đánh giá thực trạng và giải pháp phát triển du
lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng ” là đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu
Du lịch đang phát triển với tốc độ nhanh chóng trong những thập niên vừa qua đã đem lại nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập kinh tế, giải quyết sự nghèo đói, tiến bộ xã hội Để phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển du lịch tâm linh nói riêng ở thành phố Đà Nẵng đã có nhiều nghiên cứu Các nghiên cứu cho thấy tính phong phú, đa dạng, đặc thù tâm linh tại thành phố Đà Nẵng Từ đó, khai thác và bảo vệ, tôn tạo các giá trị di tích tâm linh vào các mục đích phát triển du lịch theo hướng bền vững
Các công trình nghiên cứu đáng chú ý như:
- Nguyễn Duy Hinh (2007), Tâm linh Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa và viện
văn hóa Hà Nội
- Ngô Quy Nhơn (chủ biên),(2000), Đà Nẵng bước vào thế kỷ 21,Nxb Văn nghệ
Thành Phố Hồ Chí Minh
- Phạm Thị Thủy (2012) Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại
thành phố Đà Nẵng, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng, đề tài góp phần giới thiệu và quảng bá tiềm năng và sức hút của loại hình du lịch mới này Từ đó, đề xuất những giải pháp phù hợp để phát huy hiệu quả thế mạnh của du lịch tâm linh ở Việt Nam nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
Tổng quan cơ sở lý luận về loại hình du lịch tâm linh
Trang 8 Khảo sát, đánh giá các thực trạng phát triển du lịch tâm linh ở Thành phố
Đà Nẵng
Định hướng và đề xuất một số giải pháp khả thi để khai thác có hiệu quả các tiềm năng văn hóa và thúc đẩy sự phát triển các hoạt động du lịch tạị đây
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giá trị (tự nhiên, nhân văn) đối với loại hình du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010-2016 và các giải pháp kiến nghị trong đề tài có ý nghĩa trong thời gian đến năm 2020
6 Quan điểm nghiên cứu
6.1 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
6.2 Quan điểm tổng hợp
6.3 Quan điểm hệ thống
6.4 Quan điểm lãnh thổ
6.5 Quan điểm phát triển bền vững
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp lịch sử viễn cảnh và phân tích- tổng hợp
Phương pháp này dựa trên cơ sở thu thập các thông tin liên quan đến loại hình
du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đặc biệt
là quá trình hình thành và phát triển các điểm du lịch tâm linh từ những giá trị lịch
sử, từ đó phân tích và tổng hợp những thông tin liên quan, phân loại và xây dựng
cơ sở dữ liệu đáp ứng nu cầu hiện tại và tương lai
Trang 97.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này làm tăng độ chính xác, cụ thể, thuyết phục của các kết quả nghiên cứu cũng như tài liệu thu thập được Đồng thời kiểm tra lại độ chính xác của tư liệu nghiên cứu khác
7.3 Phương pháp bản đồ
Phương pháp này cho phép thu thập các thông tin của các điểm du lịch tâm linh thông qua các bản đồ liên quan: bản đồ hành chính, bản đồ dân cư, bản đồ du lịch… Đồng thời thể hiện trực quan kết quả nghiên cứu trên bản đồ
7.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phương pháp này vào việc thăm dò nhu cầu thị hiếu cũng như đánh giá của khách du lịch sẽ là cơ sở để đưa ra định hướng, giải pháp khái thác về loại hình du lịch này một cách khách quan, khoa học và gắn liền với thực tiễn
7.5 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp này được thể hiện thông qua sự lắng nghe các ý kiến đóng góp của các chuyên gia (văn hóa, du lịch) về việc nhìn nhận, đánh giá, về phương pháp, nội dung nghiên cứu Đây là những thông tin quý giá để vận dụng vào nghiên cứu, rút ngắn được quá trình điều tra phức tạp
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần khẳng định sự đúng đắn và tính khách quan của những lý luận về loại hình du lịch tâm linh, đánh giá thực trạng và giải pháp khai thác du lịch tâm linh có hiệu quả hơn trên lãnh thổ
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài là nguồn tư liệu quan trọng làm cơ sở cho việc khai thác có hiệu quả trong ngành du lịch của Thành phố Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin cần thiết có thể làm tư liệu tham khảo cho các sinh viên những khóa tiếp theo
Trang 109 Cấu trúc của đề tài
Đề tài khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục… thì phần nội dung chính được trình bày theo 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu về du lịch tâm
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VỀ DU LỊCH TÂM LINH
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về du lịch
Thuật ngữ du lịch: bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonus” nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành Turnur và sau đó thành Tour (tiếng Pháp) nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn Touriste là người đi dạo chơi Theo Robert Langer (1980) từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organizations: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
Tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại Rome–Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của
cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở các nước phát triển cũng như đang phát triển, trong đó có Việt nam
Trang 12Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
1.1.2 Khái niệm tâm linh
Trong Từ điển Tiếng Việt, tâm linh được giải thích theo hai nghĩa:
“1 Khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm
2 Tâm hồn, tinh thần, thế giới tâm linh.”[1]
Trong cuốn Tâm linh Việt Nam, Nguyễn Duy Hinh quan niệm: “Tâm linh là thể
nghiệm của con người (Tâm) về cái Thiêng (linh) trong tự nhiên và xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền logíc không phân biệt thiện ác.”[2]
Một quan niệm khác về tâm linh của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Văn
hóa tâm linh: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là
niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm.”[3]
Tâm linh là niềm tin thiêng liêng thể hiện ở trong nhiều mặt đời sống tinh thần Những người tin vào Phật và Chúa, đi tu, theo đạo suốt đời tâm niệm vào Phật, vào Chúa có thể giải thoát về cái chết cho mình Hoặc những người không theo tôn giáo nào, nhưng vẫn tin vào thần phật thiêng liêng, tự đến đình, chùa thắp hương khấn lễ, cầu mong sự phù hộ bình yên mạnh khỏe gặp nhiều may mắn Tâm linh được biểu hiện trong đời sống gia đình là phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha
mẹ, người thân, trong phạm vi cộng đồng là tục thờ cúng thành hoàng, các vị thần, các vị tổ sư, các vị anh hùng đã có công với nước…
1.1.3 Khái niệm du lịch tâm linh
Du lịch tâm linh là loại hình du lịch khám phá các giá trị văn hóa, lịch sử, là dịp để trải nhiệm về tín ngưỡng tôn giáo, được hòa mình vào đời sống tâm linh
Trang 13thực sự chứ không đơn thuần là tham quan, chiêm bái, hay thực dụng hơn là cầu xin tiền tài lợi lộc, mê tín dị đoan
Du lịch tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm linh–tín ngưỡng Tín ngưỡng gồm có tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian làm thỏa mãn niềm tin đối với các biểu tượng thiêng liêng mà họ mong muốn Vì vậy, điểm đến của du lịch tâm linh thường là những địa điểm mang giá trị thiêng liêng, có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng như chùa chiền, tháp, đền miếu,… Khi đến đây du khách có thể trực tiếp tham quan, nghiên cứu kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các di vật… Từ đó, họ có thể hiểu hơn về những giá trị văn hóa đặc sắc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán…
Cựu Tổng thống Ấn - độ, tiến sĩ APJ Abdul Kalam đã có phân biệt rạch ròi giữa du lịch thông thường với du lịch tâm linh: “Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các địa danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết tại nhiều địa điểm khác nhau và nhất là những nới có môi trường văn minh phong phú”
Các đối tượng tham quan của du lịch tâm linh không phụ thuộc vào thời gian
mà có thể tổ chức quanh năm ở khắp các di tích tỉnh thành trong cả nước Dựa trên các nhu cầu của khách du lịch, loại hình này được thể hiện qua các hoạt động cụ thể như du lịch tôn giáo, du lịch tham quan, du lịch lễ hội, du ngoạn, hành hương…
Dù ở hình thức nào thì du khách cũng được thỏa mãn nhu cầu tâm linh của mình Tóm lại, Du lịch tâm linh cũng là một loại hình du lịch văn hóa nhưng chủ yếu khai thác các đối tượng tôn giáo, tín ngưỡng giá trị tâm linh vào hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tham quan, tìm hiểu và nâng cao nhận thức của du khách Loại hình du lịch này hoạt động phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng và giữ gìn các giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần Trong quá trình phát triển phải không ngừng bảo tồn các di tích có ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo như: chùa, đình, đền, tháp, nhà thờ… hay các nghi lễ truyền thống, lễ hội, văn hóa nghệ thuật, ẩm thực… Vì đó là đối tượng chính tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn du khách
Trang 141.1.4 Một số đặc điểm của loại hình du lịch tâm linh
Với mỗi loại hình du lịch phát triển đều có những đặc điểm, đặc trưng riêng của nó Với loại hình du lịch tâm linh vốn xuất phát từ những hoạt động của sinh hoạt đời sống tâm linh kết hợp với du lịch để đạt được những giá trị cao nhất Đời sống tâm linh ấy chính là niền tin tôn giáo, thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc… Đó cũng chính là một đặc điểm dể thận thấy của loại hình này Du lịch tâm linh là đến những di tích, thắng tích, Phật tự - nơi các vị Đức Phật, các anh hùng, những vị cứu thế, những lễ hội mang yếu tố tâm linh tín ngưỡng để hòa mình vào cuộc sống tịnh tâm, thanh nhàn, giải thoát…
Thêm nữa,du lịch tâm linh luôn gắn với đức tin Những người khi đến các điểm, thắng tích đều thể hiện lòng thành kín, tôn trọng, họ đặt vào đó những lời nguyện ước, cầu mong cho cuộc sống yên ổn, thanh nhàn, gặp nhiều may mắn Và
họ tin rằng, có một thế giới hiển linh luôn lắng nghe và biến những lời thỉnh cầu chân thành kia thành sự thật
Du lịch tâm linh là hướng thiện Tham gia du lịch tâm linh là để có cơ hội thực hành và sống trong môi trường cảu cầu nguyện và chiêm bái, thực tập việc tu tập
và thư giãn, chăm sóc thân và tâm, tọa niềm tin và tìm nơi nương tựa, hành trì các
lễ nghi và nạp năng lượng cho chính mình cho chuyến hành trình dài trong cả cuộc đời này Những chuyến đi nhiều khi mang lại những kết quả kỳ diệu cho khách hành hương mà không ai tin được
Hướng về cội nguồn cũng là một đặc điểm của du lịch tâm linh Những người tham gia du lịch tâm linh là quay trở về với chính mình, với cội nguồn, thoát khỏi cuộc sống thế tục Tâm và thân luôn trong trạng thái an bình, hạnh phúc của một thế giới tâm linh
Ngoài ra du lịch tâm linh gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Trang 151.1.5 Vai trò của du lịch và du lịch tâm linh
1.1.5.1 Du lịch và du lịch tâm linh đối với đời sống tinh thần con người
Du lịch tâm linh là loại hình du lịch mới với những tác dụng và ý nghĩa trong đời sống tinh thần của khách du lịch nói riêng và con người nói chung Ngoài những tác dụng vui chơi, giải trí, tham quan nghỉ dưỡng thì du lịch tâm linh còn mang lại giá trị về tâm hồn, tinh thần, cách sống, đồng thời giải quyết nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của tín đồ
Đem lại cho khách du lịch những chuyến tham gia vào chương trình du lịch tâm linh, khách hành hương được quay về với cội nguồn tâm linh của mình, được khám phá những thánh tích hay không gian tâm linh quý giá mà khách chưa một lần, hay chưa có dịp tham quan, chiêm ngưỡng
Du lịch tâm linh đến các Phật tích sẽ giúp tháo gỡ được các cảm xúc khổ đau, vun bồi tâm trí và tinh thần minh triết Du lịch tâm linh rất cần thiết cho tâm trí con người Trên thực tế cuộc sống, những chuyến du lịch tâm linh làm cho các thành viên thắt chặt tình đoàn kết, gắn bó, yêu thương nhau bởi mọi thành viên đang trở
về cội nguồn, giống như những người con của đức Phật Họ giúp nhau tu tập, giúp
đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, cả vật chất lẫn tinh thần sau khi trở về đời thường Sau mỗi chuyến đi, các thành viên thường sống tốt hơn, thân tâm được thanh lọc hơn Cuộc sống của khách hành hương sau đó trở nên an lạc và có ý nghĩa hơn
Du lịch tâm linh mang ý nghĩa giáo dục khá sâu sắc, bằng những triết lý tôn giáo, những khóa tu ngồi thiền, tụng kinh, pháp đàm, pháp thoại… khiến cho tâm hồn con người đạt trạng thái giải thoát, tịnh tâm, thoát khỏi trần tục, loại bỏ cái ác, hướng tới cái thiện
Ngoài ra du lịch tâm linh có thể ở một chừng mực nào đó nó giúp cho con người thoát khỏi bệnh tật, tạo khát vọng sống, vượt qua cuộc sống đói nghèo
1.1.5.2 Du lịch và du lịch tâm linh đối với phát triển kinh tế
Du lịch có giá trị xuất khẩu cao và hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong các hoạt động xuất khẩu dịch vụ, đặc biệt là theo góc độ thu ngoại tệ và thu hút lao động, tạo công ăn việc làm Xuất nhập khẩu dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến cán cân
Trang 16thanh toán của toàn bộ nền kinh tế Để đẩy mạnh xuất nhập khẩu dịch vụ nhằm giảm dần nhập siêu và tiến tới cải thiện cán cân dịch vụ trong thập niên này
Tính hiệu quả trong kinh doanh du lịch được thể hiện ở chỗ, du lịch là một mặt hàng “xuất khẩu tại chỗ” Ngành du lịch Việt Nam ước tính đã thu hút được
190 đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn là 4.64 tỷ USD Du lịch đã mang lại cho Việt nam cơ hội to lớn trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế
Hoạt động du lịch tâm linh phát triển, tạo nguồn ngân sách cho các địa phương từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn
Trước hết, đây là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành Nhiều khu vực khác cũng được hưởng lợi thông qua hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ hỗ
không, bưu chính viễn thông, du lịch… được khai thác và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân
1.1.5.3 Du lịch và du lịch tâm linh đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
tộc người
Du lịch tâm linh không chỉ thỏa mãn được các nhu cầu về tinh thần của con người thông qua hoạt động du lịch mà còn góp phần quan trọng trong giáo dục văn hóa, ý thức của người dân địa phương cũng như du khách trong quá trình tổ chức hoạt động du lịch Lễ hội giúp cho người tham gia hiểu rõ hơn về truyền thống của dân tộc, về tinh thần yêu nước, sự hy sinh và ý chí quật cường của thế hệ cha ông Những lễ hội từ tôn giáo, dân gian cho đến hiện đại đều có tác dụng nhắc nhở, khôi phục các giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc và giúp thế hệ tương lai cảm thấy tự hào hơn về quê hương, đất nước
Những điểm tham quan như đền, miếu, hội quán, chùa gắn liền với niềm tin tín ngưỡng của người dân địa phương và của khách du lịch, là nét riêng của mỗi dân tộc ở từng vùng miền khác nhau Việc hướng đến những hoạt động tín ngưỡng, tin tưởng vào “sự hiển linh” ở mức độ phù hợp cũng là cách để con người có thêm niềm tin, nghị lực để tồn tại và phát triển Mặt khác, dù theo tôn giáo nào chăng
Trang 17nữa thì những triết lý và niềm tin tôn giáo luôn hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ, giáo dục văn hóa tinh thần của con người từ lòng vị tha, bao dung cho đến niềm tin về cuộc sống tương lai
Đồng thời, nếu loại bỏ các yếu tố như mê tín, dị đoan để nhìn nhận đúng về vấn đề thì du lịch tâm linh sẽ giúp con người cảm thấy yêu hơn các giá trị văn hóa, nghệ thuật của dân tộc (chẳng hạn như nghi thức hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hát bội trong cúng đình và những nghi thức rước kiệu hay nghệ thuật múa lân trong các lễ hội)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực tiễn hoạt động du lịch tâm linh trên thế giới
Du lịch tâm linh là một hình thức du lịch phát triển rất mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới Du khách theo loại hình du lịch này thường tìm đến các đình, chùa, các thắng tích tôn giáo để vãn cảnh, cúng bái, cầu nguyện, Tại đây, du khách sẽ hòa vào dòng tín đồ để cảm nhận vẻ yên bình, thanh thản ở những thắng tích tôn giáo nổi tiếng
Trên thế giới gồm có 4 mô hình du lịch tâm linh phổ biến ở các quốc gia khác nhau:
- Mô hình du lịch tôn giáo (hay mô hình hành hương);
- Mô hình du lịch tham quan, tham dự sự kiện tôn giáo;
- Mô hình thiền;
- Mô hình du lịch mua sắm các sản phẩm tâm linh
Hiện nay, du lịch tâm linh đã hình thành và đang phát triển ở những quốc gia châu Á, đặc biệt những quốc gia theo Phật giáo như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… Hàng năm, các cơ quan tôn giáo Nhật Bản kết hợp với các công
ty lữ hành tổ chức tour cho trên vài ngàn khách hành hương từ Nhật Bản đến các thánh tích Phật giáo ở Ấn Độ Thái Lan, Myanmar,… ở một số nước Châu Âu hàng năm cũng đã tổ chức nhiều đoàn du khách tham gia các lễ hội tôn giáo, các
Trang 18khóa tìm hiểu và nghiên cứu tôn giáo, các khóa tu thiền tại các quốc gia châu Á từng in dấu chân của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni lúc sinh thời
Nhiều người cũng đã biết, Ấn Độ là cái nôi của các tôn giáo lớn tại khu vực Châu Á như Phật giáo, Ấn Độ giáo… Nơi đây, ngày nay trở thành địa điểm du lịch
vô cùng lý thú cho những du khách yêu thích khám phá những vẻ đẹp cổ kính, huyền bí và tâm linh Tất cả những di tích nằm trải dài khắp đất nước này như: đền Taj Mahal, pháo đài Agra và phế tích vương triều ở thành Fatehpur Sikri … đã thu hút một lượng khách khá lớn hàng năm Vì vậy, Ấn Độ là quốc gia có địa điểm linh thiêng nhiều nhất trên thế giới và thu hút lượt du khách và phật tử các tour du lịch tâm linh khá cao
Không chỉ ở Ấn Độ, tại Trung Quốc du lịch tâm linh cũng được nhiều người biết đến với những khu du lịch, địa điểm tham quan nổi tiếng như: Quảng trường Thiên An Môn, khách du lịch đến hành hương tại đây mỗi năm lên đến hàng triệu người Chùa Treo hay còn gọi là Tu Viện Treo, một trong những điểm thu hút nhiều khách du lịch nhất và là những điểm lịch sử ở Đại Đồng (Trung Quốc)
1.2.2 Thực tiễn hoạt động du lịch tâm linh ở Việt Nam
Việt Nam có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch tâm linh thể hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng Sự đa dạng và phong phú của các thắng tích tôn giáo và với số lượng lớn các tín ngưỡng, lễ hội dân gian được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước Nhu cầu du lịch tâm linh của người Việt Nam đang trở thành động lực thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển Ngày nay du lịch tâm linh ở Việt Nam đang trở thành xu hướng phổ biến
Số lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa Số khách du lịch đến các điểm tâm linh tăng cho thấy du lịch tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống
xã hội
Trong số 62 triệu khách du lịch nội địa năm 2016 chỉ tính riêng số khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) có khoảng 30,5 triệu lượt; tương đương 45,5% Một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2016 đón một lượng khách lớn như lễ hội Chùa Hương (1,5 triệu lượt), Chùa Bái Đính (5 triệu lượt năm
Trang 192015), Đối với khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích tâm linh không nhiều, trong số 10 triệu lượt khách đến Việt Nam năm 2016 ước tính có khoảng 16% khách du lịch có đến các điểm du lịch tâm linh.[18]
Nhu cầu và du lịch tâm linh ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ hoạt động gắn với tôn giáo mà ngày càng mở rộng tới các hoạt động, sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc và những yếu tố linh thiêng khác Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng chủ động, có chiều sâu và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân
Hoạt động kinh doanh, đầu tư vào du lịch linh ngày càng đẩy mạnh thể hiện ở quy mô, tính chất hoạt động của các khu, điểm du lịch tâm linh Ra đời và phát triển ngày càng nhiều các điểm du lịch tâm linh ở hầu hết các địa phương, vùng, miền trên phạm vi cả nước, tiêu biểu như: Đền Hùng (Phú Thọ); Yên Tử (Quảng Ninh); Chùa Hương (Hà Nội); Phát Diệm (Ninh Bình); Núi Bà Đen, Thánh thất Cao Đài (TâyNinh); Chùa Bái Đính (Ninh Bình); Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương); Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang); Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương); Tây Thiên (Vĩnh Phúc); Đền Trần - Phủ Dầy (Nam Định)
Du lịch tâm linh ngày càng được xã hội tiếp cận và nhìn nhận tích cực cả về khía cạnh kinh tế và xã hội Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển
du lịch tâm linh và coi đó là một trong những giải pháp đáp ứng đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời với việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị nhân văn cao cả
Trang 20
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Khái quát chung về Thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Vị trí địa lý
đến 108°20' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam và phía Đông giáp biển Đông Thành phố tọa lạc tại trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc Nam về đường bộ, đường sắt ,đường biển,
và đường hàng không Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam và cách thành phố Huế- từng là thủ đô cận đại của Việt Nam 108km về hướng Tây Bắc Đặc biệt, Đà Nẵng còn là trung điểm của bốn di sản thế giới miền Trung: Động Phong Nha- Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn (Quảng Nam)
Trang 21Bản đồ hành chính Thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng với 6 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ và 2 huyện: Hòa Vang, huyện đảo Hoàng Sa
Tầm quan trọng của vị trí địa lý Đà Nẵng đối với Miền Trung và cả nước:
- Đà Nẵng là đầu mối của các trục giao thông Đông Tây với hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thủy, hàng không đồng bộ Sân bay Đà Nẵng là sân bay quốc
tế được trang bị hiện đại, cảng Tiên Sa là một cảng du lịch kết hợp với cảng Liên Chiểu nằm trên tuyến đường hàng hải thuận lợi nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Bên cạnh đó với triển vọng của đường bộ xuyên Á nối Lào với Đông Bắc Thái Lan, Đà Nẵng đã được coi là “cánh cổng thứ 3 vào Đông Dương”
- Đà Nẵng là hành lang phát triển kinh tế, thương mại và chuỗi đô thị hạt nhân, là trung tâm giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của miền Trung
- Đà Nẵng giữ vị trí chiến lược trong an ninh, quốc phòng Trong chiến tranh,
Đà Nẵng đã là nơi nổ súng và đổ bộ đầu tiên của thực dân Pháp năm 1858 và đến năm 1965 một lần nửa đế quốc Mĩ lại chọn Đà Nẵng để xây dựng căn cứ hỗn hợp
Trang 22quân sự lớn nhất ở Miền Trung, từ đó làm bàn đạp để đánh vào Miền Nam Việt Nam
- Từ những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội cùng với sự phong phú của tài nguyên du lịch liền kề với trung tâm du lịch Huế đã đem lại cho Đà Nẵng vị trí đầu mối trung tâm quan trọng về hoạt động du lịch Đà Nẵng trở thành nơi trung chuyển khách, nơi hội tụ du khách các nơi về dự hội thảo, hội nghị, nghiên cứu…và là trục giao lưu chính trong các tuyến du lịch Miền Trung
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội
*Địa hình đồi núi
Địa hình đồi núi đã đem lại cho Đà Nẵng nhiều thắng cảnh đẹp, rất có giá trị, Đèo Hải Vân cao 500 m nằm trải dài theo sườn núi Hải Vân (dài khoảng 20 km)
Trang 23được tạo thành do các nhánh núi đâm ngang có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đã được mệnh danh: “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”, đầu năm 2017 đèo được công nhận là di tích cấp quốc gia Bà Nà là một vùng núi non trùng điệp ở phía Tây thành phố Đà Nẵng dựa lưng vào dãy Trường Sơn, trên đỉnh có địa hình bằng phẳng như một vùng cao nguyên nhỏ Đứng trên đỉnh Bà Nà, du khách có thể ngắm cảnh núi sông như đang bồng bềnh giữa đám mây trôi, bởi mây chỉ ở lưng chừng núi mà trên đỉnh cao trời luôn quang rạng Ngũ Hành Sơn lại nằm ngay trong lòng đồng bằng thành phố Đà Nẵng với 5 ngọn núi đá hoa cương mang tên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ có truyền thuyết rất thú vị về sự hình thành Núi Sơn Trà có cảnh trí đẹp nhô ra biển, cùng với Ngũ Hành Sơn tạo nên sự tương phản sâu
sắc với đồng bằng
*Địa hình bờ bãi biển
Khu vực bờ bãi biển của thành phố Đà Nẵng dài hơn 150km (trong đó ở địa phận của tỉnh Quảng Nam là 125km) Dưới tác động của nội lực, quá trình san bằng đã làm cho các bãi cát nối liền lại với nhau tạo cho vùng nhiều bãi tắm đẹp liên tục kéo dài như: Nam Ô - Xuân Thiều, Mỹ Khê, Mỹ An, Non Nước…
Địa hình bờ bãi biển với nhiều bãi tắm đẹp, tạo thuận lợi cho Đà Nẵng trong phát triển các loại hình du lịch biển, nghỉ dưỡng, lặn biển,…
Khí hậu
Khí hậu Đà Nẵng mang tính chất nhiệt đới gió mùa và là nơi đánh dấu sự chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu khác biệt: miền Bắc và miền Nam Việt Nam Khí hậu phân hóa theo không gian và thời gian tạo nên 2 dạng khí hậu rõ rệt, khí hậu nhiệt đới ven biển (ở các vùng đồng bằng ven biển) và một ít khí hậu ôn đới vùng cao (khu vực Bà Nà – Đà Nẵng) Mùa hạ của Đà Nẵng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 với đặc trưng thời tiết hầu như khô ráo, nóng, cuối mùa thường có bão Mùa đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong mùa đông có thể phân thành thời kỳ chính đông, thời kỳ chuyển tiếp từ hạ sang đông và thời kỳ chuyển tiếp từ đông sang hạ
Trang 24Với đặc điểm khí hậu như trên, Đà Nẵng có khả năng phát triển tốt các loại hình du lịch biển do nền nhiệt cao, số giờ nắng trong ngày nhiều, tập trung vào các tháng mùa hạ Tổ chức được loại hình du lịch núi vì có khí hậu ôn đới ở khu vực núi cao Tuy nhiên vào những thời điểm xảy ra các hiện tượng thời tiết bất thường như lũ lụt, mưa, bão, nắng nóng có thể gây ách tắc giao thông, hạn chế các hoạt động tham quan ngoài trời và gây khó chịu cho du khách
Thủy văn
Mạng lưới sông ngòi của thành phố Đà Nẵng bắt nguồn từ phía Tây và Tây Bắc, Tây Nam của thành phố Đà Nẵng Sông ngòi mang đặc điểm của sông ngòi Việt Nam, đó là đặc điểm của sông ngòi một miền núi dốc, phản ánh cấu trúc của địa hình, lưu lượng nước lớn, nhiều phù sa, thủy chế theo sát nhịp điệu mùa mưa
và khô của khí hậu
Có thể thấy mạng lưới sông ngòi của Đà Nẵng phân bố khá đều, chủ yếu chảy theo hướng Tây, Tây Nam đến Bắc, Đông Bắc Bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây, phần trung và hạ nguồn của các sông thường chảy quanh co qua các vùng có cảnh quan đẹp, trung tâm thành phố trước khi đổ ra biển Thành phố Đà Nẵng có 2 sông chính là Sông Hàn ( dài khoảng 7,2km) và sông Cu Đê ( dài khoảng 38km) Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông : Sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc Đây là điều kiện thuận lợi để tổ chức các tuyến du lịch trên sông
Khu vực phía Tây Bắc của Đà Nẵng, mạch nước khoáng nóng có giá trị như: nguồn nước khoáng Phước Nhơn ( Hòa Vang – Đà Nẵng) gần hồ Đồng Nghệ có nhiệt độ 43o C, chứa nhiều khoáng chất chữa bệnh Nguồn nước khoáng này có chất lượng khá tốt, suối nước khoáng thường gắn với hồ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm du lịch nghỉ dưỡng
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15000km2, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loại… với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải sản các loại
Trang 25Với đặc điểm thủy hải văn như vậy, đã tạo điều kiện thích hợp cho phát triển các hoạt động du lịch tắm biển, lặn biển, lướt ván, du thuyền, tham quan đáy biển… vì nước biển ven bờ vào mùa hè có nhiệt độ, độ mặn, độ đục, sóng rất thích hợp
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
*Đặc điểm kinh tế
Đà Nẵng có vị trí chiến lược là thành phố động lực của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên, cửa ngõ phía Đông của tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây, cửa vào của các di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới ở miền Trung
Từ lợi thế đó, Đà Nẵng có điều kiện để mở rộng giao thương, giao lưu kinh tế, văn hóa, thể thao và là điểm du lịch hấp dẫn với cả hai miền Bắc và Nam, với các nước trong khu vực và thế giới
Đà Nẵng có mức tăng trưởng kinh tế khá ổn định và khá cao trong cả nước, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố năm 2016 tăng 9,04% so với năm 2015.Đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự tăng trưởng này, trước hết phải kể đến sự dịch chuyển cơ cấu của ngành dịch vụ và ngành công nghiệp, tổng giá trị sản xuất tính theo giá hiện hành vào năm 2016 ước tính là 69.806 tỷ đồng, tăng hơn 10% so năm 2015 trong đó giá trị sản xuất công nghiệp ước tăng 11,57%,
với năm 2015 Cũng như một vài tỉnh khác thuộc miền Trung, hoạt động xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng ngày càng khởi sắc bằng chứng là kim nghạch xuất nhập khẩu tăng trưởng đều, tổng kim nghạch xuất khẩu hàng hóa năm 2016 ước đạt 1.246 triệu USD tăng 4,94% so với năm 2015 Thị trường xuất khẩu được mở rộng
ra 93 quốc gia và vùng lãnh thổ
Đà Nẵng có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hiện đại, đồng bộ, có đủ 4 loại
Trang 26đường giao thông thông dụng là đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, các công trình được quan tâm, đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới, bước đầu đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện lớn
về văn hóa, thể thao và du lịch
Mạng lưới đường bộ của thành phố Đà Nẵng bao gồm các đường quốc lộ, đường tỉnh và đường đô thị với tổng chiều dài khoảng 480 km Đường quốc lộ 1A
và 14B được xây dựng như là đường bộ liên tỉnh đi qua địa phận thành phố Đà Nẵng Đường tỉnh chủ yếu nối các quận trong đô thị với khu vực miền núi ở huyện Hòa Vang và tỉnh Quảng Nam Đường bộ đối ngoại thành phố Đà Nẵng gồm Quốc
lộ 1A dài 36,2 km, đường tránh thành phố Đà Nẵng từ Hầm Hải Vân đến Túy Loan dài 18,2 km và Quốc lộ 14B dài khoảng 30 km Ngoài ra, tương lai còn có đường
Hồ Chí Minh (nhánh phía đông) với 45 km trong địa phận Đà Nẵng từ đèo Đê Bay qua đèo Mũi Trâu, cắt QL 14B tại Hòa Khương và đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi (tính đến ranh giới Đà Nẵng – Quảng Nam dài 5 km) Bên cạnh đó là
hệ thống giao thông đối nội hiện nay có nhiều công trình quan trọng đã hoàn thành
và đưa vào sử dụng như: đường Nguyễn Tất Thành, Phạm Văn Đồng…cầu Sông Hàn, cầu Rồng, đặc biệt là cầu vượt Ngã Ba Huế là công trình được đưa vào sử dụng năm 2015
Bên cạnh hệ thống đường bộ, Đà Nẵng còn có đường sắt Bắc Nam chạy qua với tổng chiều dài 30km điểm dừng chính là ga Đà Nẵng, ga Đà Nẵng là ga lớn thứ
3 của cả nước, phục vụ nhu cầu đi lại của một bộ phận khách du lịch, chủ yếu là khách nội địa
Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng nằm ngay sát trung tâm thành phố thuộc quận Thanh Khê và một phần thuộc quận Hải Châu Sân bay có 2 đường băng song song gần nhau đều dài 3047m, sân bay Đà Nẵng là một trong ba sân bay ở Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế, các loại máy bay hiện đại như: B747, B767, A320…
Trang 27đều có khả năng cất và hạ cánh Hiện nay sân bay quốc tế Đà Nẵng đang ngày càng nâng cấp và mở rộng hơn để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa, đặc biệt phục vụ các đoàn khách cấp cao đến Đà Nẵng dự hội nghị cấp cao APEC vào năm 2017
Với một vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thông đường biển, hiện cảng Đà Nẵng có 2 khu thương cảng chính là cảng Tiên Sa (nằm ở bán đảo Sơn Trà) và cảng sông Hàn Trong đó, cảng Tiên Sa là cảng biển lớn nhất khu vực miền Trung Việt Nam Hệ thống giao thông đường biển đã xây dựng cảng Đà Nẵng trở thành cảng tổng hợp quốc gia và đây cũng là cảng thương mại lớn thứ ba ở Việt Nam sau cảng Sài Gòn và cảng Hải Phòng
Hệ thống đường giao thông trong và ngoài thành phố không ngừng được mở rộng và xây dựng mới, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi về giao thông và phát triển du lịch mà còn tạo cảnh quan, làm thay đổi cơ bản diện mạo của một đô thị lớn nhất miền Trung Việt Nam
Hệ thống thông tin liên lạc
Cùng với tốc độ phát triển thông tin liên lạc nhanh chóng của cả nước, trong thời gian qua nghành bưu điện Đà Nẵng đã có nhiều cố gắng tận dụng mọi nguồn lực, đảm bảo chất lượng, mở rộng mạng lưới bưu chính viễn thông
Hiện nay Đà Nẵng đã trở thành một trung tâm viễn thông quốc gia và quốc tế lớn thứ 3 của cả nước, là trạm tiếp sức rất quan trọng của hệ thống thông tin viễn thông toàn quốc và là đầu mối viễn thông quốc tế Có trạm cáp quang biển quốc tế SE-ME-WE3, đường truyền quốc tế tốc độ 355Mbps với chất lượng tốt hàng đầu trong các nước Đông Nam Á
Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, đã cung cấp cho khách hàng những dịch
vụ thông tin mới như: mạng điện thoại di động, nhắn tin toàn quốc, dịch vụ truyền
Trang 28số liệu, mạng Internet, thư điện tử, tạo điều kiện cho khách hàng có thể tiếp cận với một dịch vụ tiên tiến nhất, phù hợp với nhu cầu và khả năng sử dụng của họ
Hệ thống điện, nước
Nguồn điện tiêu dùng hiện nay của Đà Nẵng chủ yếu được lấy từ lưới điện quốc gia Lưới điện đã được kết nối tại thành một mạng lưới thống nhất như lưới điện 110kv nội tỉnh, thành phố, lưới điện 220kv nằm trong mạng lưới từ Đồng Hới đến Đa Nhim, đường dây 500kv quốc gia được hòa vào lưới điện khu vực miền Trung thông qua trạm tiếp nhận Cầu Đỏ
Hệ thống cấp thoát nước của Đà Nẵng – Quảng Nam dựa trên nguồn nước mặt và nước ngầm trên địa bàn Nguồn nước mặt sử dụng cho sinh hoạt chủ yếu được lấy từ sông Hàn và sông Thu Bồn, công suất 500,000 m3/ngày Được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, mạng lưới cung cấp điện, nước của thành phố đã được đầu tư hoàn chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố
Các dịch vụ hỗ trợ đầu tư: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… Hầu hết các ngân hàng và các công ty tài chính lớn của Việt Nam đều có chi nhánh tại Đà Nẵng Một
số chi nhánh ngân hàng nước ngoài và công ty bảo hiểm quốc tế cũng đang hoạt động có hiệu quả tại thành phố Các dịch vụ này ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư Hiện nay tại Đà Nẵng có khoảng 47 chi nhánh ngân hàng cấp I, 9 công ty bảo hiểm và 4 công ty kiểm toán đang hoạt động
Với nhứng điều kiện thuận lợi như vậy, không chỉ góp phần đẩy mạnh Đà Nẵng phát triển nền kinh tế mở, thu hút những dự án có quy mô lớn, mở rộng vốn đầu tư từ các tổ chức cá nhân ở trong nước mà còn trong khu vực và trên thế giới
Từ đó một phát triển thành phố năng động không chỉ là một trung tâm kinh tế lớn của đất nước mà còn mang tầm cỡ khu vực
*Đặc điểm dân cư- xã hội
Trang 29Theo các tài liệu sử học, địa chí và những phát hiện về khảo cổ học tại Đà Nẵng đã cho thấy vùng đất này đã có dấu vết con người sinh sống từ cách đây khoảng 5000 năm Đà Nẵng còn là một vùng đất của xứ Quảng, vậy nên khi nói đến mảnh đất này người ta thường gắn với cách gọi chung “Văn hóa Quảng Nam-
Đà Nẵng” Trải qua những đổi thay của tiến trình lịch sử, cho tới nay cộng đồng dân cư Đà Nẵng đã không ngừng thay đổi và phát triển
Đà Nẵng là đơn vị hành chính trực thuộc Trung Ương, bao gồm 6 quận nội thành, 1 huyện ngoại thành và 1 huyện đảo.Theo kết quả điều tra năm 2015, thành phố Ðà Nẵng có 1.046.876 người sinh sống trên tổng diện tích 1.285,4 km2
Đại đa số người dân Đà Nẵng – Quảng Nam hiện nay có nguồn gốc lâu đời từ đất Bắc, nhất là từ hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An do các công cuộc di dân xuống phía Nam từ các đời nhà Hồ, nhà Lê… Ở các huyện miền núi phía Tây có đồng bào các dân tộc Cà Tu, Ve, Tày (ở huyện Hòa Vang) Từ nhiều đời nay, đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc đều chung sống trong tình anh em, đoàn kết, cùng chiến đấu chống giặc ngoại xâm và cùng nhau xây dựng quê hương đất nước
Với người Đà Nẵng hôm nay, đã có 42 năm sống trong hòa bình, 20 năm thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, cuộc sống của người dân Đà Nẵng ngày càng khá hơn, và hình ảnh về một tính cách, con người Đà Nẵng chân chất, hiền hậu, hiếu khách được khắc họa rõ hơn bao giờ
*Đặc điểm văn hóa
Đà Nẵng là nơi hội tụ, giao lưu những nét văn hóa của hai dân tộc: tộc người
Ca Tu và cùng với người dân bản xứ gốc Chăm với nhiều phong tục, tập quán, lễ hội… độc đáo Những phong tục tập quán này có giá trị thu hút cao bởi nó phản ánh được một lối sống, một nền văn hóa đặc sắc riêng, tạo cho du khách một cảm hứng, một nổi khát khao tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống của từng dân tộc Để thuận tiện cho việc khai thác loại hình tham quan đời sống văn hóa của
Trang 30đồng bào dân tộc ít người, hiện nay trên địa bàn Đà Nẵng đã hình thành các làng văn hóa các dân tộc thiểu số, những nơi vẫn còn lưu giữ phong tục, tập quán, lối sống bản địa, lại nằm trong khu vực có cảnh quan thiên nhiên núi đồi hẹp, hoặc gắn với các di tích lịch sử và khá thuận lợi cho tổ chức tham quan như: Làng dân tộc Hòa Bắc, Hòa Vang… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình tham quan, nghiên cứu, giao lưu văn hóa kết hợp với du lịch sinh thái
Đà Nẵng là khu vực có nhiều lễ hội truyền thống, có sự đan xen văn hóa của các dân tộc khác nhau Theo thống kê sơ bộ của Sở Văn Hóa thông tin Đà Nẵng, trên địa bàn có trên 80 lễ hội Ngoài những lễ hội có tính chất chung cả nước như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ, lễ Phật Đản, lễ Giáng Sinh,… Ở những địa phương còn có những lễ hội mang tính chất đặc trưng của mình, tạo ra sức hấp dẫn riêng đối với du khách Hầu hết các lễ hội trên địa bàn Đà Nẵng đều là các lễ hội dân gian với nhiều loại, diễn ra ở khắp nơi như: Lễ hội Quán Thế Âm, Lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh, Thành Hoàng, các vị thần,… lễ hội tưởng niệm vị tổ
sư làng nghề, lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội mùa…
Cho tới nay trải qua thời gian thăng trầm của lịch sử nhiều quận, huyện trên địa bàn Đà Nẵng vẫn còn lưu giữ được nhiều nghề truyền thống quý giá của cha ông để lại và tiếp tục phát huy ra các sản phẩm nổi tiếng như: đá mỹ nghệ Non Nước (Hòa Hải), nước mắm Nam Ô, chiếu Cẩm Nê, thuốc lá Cẩm Lệ, bánh tráng Túy Loan…Tất cả đã nói lên được sự tài hoa và khéo léo, tinh xảo của người dân nơi đây
Một trong những sản phẩm văn hóa của làng quê Việt Nam nói chung và của
Đà Nẵng nói riêng là đình làng Nó được hình thành bởi con tim khối óc và bàn tay
kỳ diệu của con người.Với những mái ngói cổ kính, rêu phong, hàng chục ngôi đình chùa ở Đà Nẵng được bảo vệ di tích là niềm tự hào của người dân Đà Nẵng
Đó là đình làng Túy Loan, đình làng Bồ Bản, đình làng Nại Nam…
Trang 31Đà Nẵng là vùng đất giàu có về các loại hình sân khấu truyền thống với các
thể loại như: nghệ thuật hát tuồng, hát hò khoan, đối đáp, hò mái nhì, hát bài chòi,
hát lý, múa bả trạo, nói vè, các điệu múa cổ Chăm Pa…
Bên cạnh các biểu hiện phong phú về tài nguyên văn hóa được kể ở trên Đà
Nẵng còn được biết đến là nơi có nhiều đặc sản ăn uống ấn tượng, bắt mắt có thể
kể tên như: chả bò, nem tré, nước mắm Nam Ô, bánh khô mè Cẩm Lệ, bánh tráng
cuốn thịt heo, mì Quảng, bánh xèo, bánh đập… và đặc biệt là các loại hải sản như
tôm, cua ghẹ, nghêu ở dạng tươi sống và phơi khô
Từ những nét văn hóa mang đậm bản sắc truyền thống của thành phố Đà
Nẵng, đã thể hiện một phần trong tổng thể nền văn hóa Việt Nam Không chỉ thế
đó còn là những đặc điểm văn hóa làm tiền đề cho sự phát triển du lịch tại thành
phố mà trong đó có cả du lịch tâm linh
2.1.4 Lịch sử hình thành
Nguồn gốc từ "Đà Nẵng" là biến dạng của tiếng Chăm cổ danak, nghĩa là
vùng nước rộng lớn hay "sông lớn", "cửa sông cái" Năm 1306, Huyền Trân công
chúa (nước Đại Việt) kết duyên cùng Chế Mân (nước Chiêm Thành), cuộc hôn
nhân này đã mang về cho Đại Việt một lãnh thổ rộng lớn là Thuận Châu và Hóa
nhập vào Đại Việt (1306-1471), từ phía nam Hải Vân trở vào vẫn là miền biên
viễn, luôn bị quấy nhiễu và cướp phá Chỉ sau cuộc xuất chinh vĩ đại bình Chiêm
của Lê Thánh Tôn (1470) vùng đất này mới được bình ổn, biên cương Đại Việt
được mở rộng đến Mũi Nạy (giữa Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay) và bắt đầu có
những cuộc khai phá mở mang Tháng 6 năm 1471, Lê Thánh Tôn lập thêm đạo
Thừa Tuyên Quảng Nam, Đà Nẵng lúc này vẫn thuộc Thừa Tuyên Thuận Hóa
Vào giữa thế kỷ XVI, Hội An đã là thương cảng, trung tâm buôn bán sầm uất,
trong khi Đà Nẵng chỉ mới giữ vai trò là vị trí tiền cảng, trung chuyển hàng hóa và
tu sửa tàu thuyền Với họ, Hội An là cửa ngõ của Đà Nẵng còn Đà Nẵng là sân sau
của Hội An Đến đầu thế kỷ XVIII, khi Hội An bắt đầu sa sút thì vị trí tiền cảng
của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ
thuật đóng tàu Châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào
vịnh Đà Nẵng dễ dàng
Trang 32Năm 1858, cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam khởi đầu bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng Đến năm 1888, số phận của mảnh đất này nằm trong vận mệnh chung của dân tộc khi dải đất hình chữ S trở thành thuộc địa của Pháp Sau khi xâm chiếm toàn bộ Việt Nam, Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam Và từ đây Đà Nẵng trở thành “nhượng địa” của Pháp với tên gọi mới là Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn Quyền Đông Dương Cái tên gọi Tourane bắt nguồn từ việc phát âm từ “Cửa Hàn” của người Pháp
Đầu thế kỷ 20, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương và trở thành một trong năm thành phố hiện đại đầu tiên ở Việt Nam
Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu, sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ được hình thành và phát triển, cùng với Hải Phòng và Sài Gòn,Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng của cả nước
Cương quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, nhân dân Đà Nẵng
đã đứng lên đấu tranh bằng nhiều hình thức khác nhau, tham gia các phong trào đấu tranh do những văn phu dưới ngọn cờ Cần Vương hay những sĩ phu có tư tưởng Duy Tân lãnh đạo Mặc dù vậy, những phong trào này lần lượt thất bại dưới
sự thống trị của thực dân Pháp và triều đình phong kiến tay sai
Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) và Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam (28/ 2/1930) ra đời đã đánh mốc son quan trọng, mở ra thời kỳ đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Ngày 26/8/1945, khi tiếng còi của thành phố vừa vang lên cũng là lúc lực lượng tự
vệ và nhân dân đồng loạt nổi dậy giành chính quyền Cách mạng thành công, từ đây, mảnh đất “nhượng địa” của thực dân hoàn toàn trở về với Tổ Quốc
Thất bại sau 80 năm cai trị, thực dân Pháp vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam Sáng ngày 20/12/1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Đà Nẵng thực sự bùng nổ Trong thời gian từ 1946-1954, quân và dân Đà Nẵng đã cùng với nhân dân cả nước tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ làm nên thắng lợi “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp
Trang 33phải ký hiệp định Giơnevơ (7/1954) đồng thời trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại
Thất bại của Pháp chính là cơ hội can thiệp của Đế quốc Mỹ mà từ lâu đã muốn dòm ngó mảnh đất này Chính vì thế, nhân dân Đà Nẵng đã sẵn sàng cho cuộc đương đầu với kẻ thù hung bạo và tàn ác hơn này Tháng 3 năm 1965 các đơn
vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân
sự hỗn hợp lớn Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định là thành phố trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng…
Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát rẻn thành phố đã đạt được nhiều thành tựu, nhất là thời kỳ đổi mới, sau năm 1986
Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Namvà thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương
Ngày 1/1/1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương Ngày 15/7/ 2003, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại I
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Đà Nẵng
Trang 34Bản đồ các điểm du lịch thành phố Đà Nẵng 2.2.1 Di tích gắn với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng
“Thành hoàng” là từ Hán Việt, “Thành” là cái thành, “hoàng” là cái hào đào sâu bao quanh thành, tức vị thần trông coi, bảo trợ cho thành trì Tục thờ Thành hoàng có nguồn gốc ở Trung Quốc Tín ngưỡng Thành hoàng xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc (thế kỷ V TCN) được du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc Nhưng trước đó ở Việt Nam đã có tín ngưỡng thờ thần Nên tín ngưỡng Thành hoàng ở Việt Nam mang yếu tố ngoại lai nhưng lại mang nội hàm bản địa sâu sắc không giống với tín ngưỡng Thành hoàng Trung Quốc Để tỏ rõ uy quyền của mình đối với làng xã, triều đình phong kiến đã sắc phong cho các vị thần, xếp thành ba hạng: Thượng Đẳng thần; Trung Đẳng thần; Hạ Đẳng thần
Trong kí ức sâu thẳm của tâm hồn người Việt, hình ảnh quê hương thân thương luôn hiện ra với “Cây đa, bến nước, sân đình” Hình ảnh đó đã in sâu vào tâm khảm của mỗi người, hiện hữu, sừng sững giữa làng quê Việt như một biểu tượng của khối cộng đồng Đình làng Đà Nẵng hình thành cùng với quá trình mở rộng đất đai của người Việt, ngoài các chức năng hành chính, văn hóa thì đình làng trở thành nơi thiêng liêng thờ cúng Thành hoàng, trung tâm sinh hoạt của cả cộng đồng Đà Nẵng hiện có trên 20 ngôi đình, đang được trùng tu, tôn tạo, phát triển trở
Trang 35thành nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, đặc biệt là lễ hội Thành hoàng Hệ thống thần Thành hoàng ở Đà Nẵng khá đông đảo và có thể phân thành:
Thành hoàng có nguồn gốc Thần Thánh
Các vị thần có nguồn gốc từ “trời” đầu thai xuống hạ giới giúp đỡ dân gian như: Thiên Y ANa Diễn Ngọc Phi; Cửu thiên huyền nữ được thờ ở hầu khắp các đình làng Đà Nẵng (đình Mỹ Khê, An Hải Tây, Túy Loan, Bồ Bản…)
*Đình làng Bồ Bản
Đình làng Bồ Bản được xây dựng đầu tiên vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh (1800) bằng tranh tre tại gò miếu Tam Vị ở phía đông làng, là nơi thờ thần, tổ chức sinh hoạt lễ hội hằng năm và thờ cúng các vị tiền hiền của làng, nhân dân địa phương Do nhiều nguyên nhân nên đình này đã được nâng cấp và tu sửa nhiều lần
Đình Bồ Bản kiến trúc theo kiểu 3 gian 2 chái; dài 9,7 mét; rộng 14,5 mét Tường dày 20-30 cm Bên trong kiến trúc theo dạng 3 gian 4 vị Chính điện rộng 3,1 mét; dài 8,3 mét Giữa đặt bàn thờ hương án thờ Thành hoàng bổn xứ Bàn thờ phía tả ban có 2 chữ “quan tiền” thờ các vị tiền hiền Bàn thờ phía hữu ban có 2 chữ “dũ hậu” thờ các vị hậu tiền Trên trính có một hoành phi ghi “Bồ Bản đình” Bên trong gian giữa có 8 cây cột cái cao 4,5 mét; cột lồng nhì trước sau 8 cây cao 3,5 mét; cột lồng ba trước sau 8 cay cao 2,3 mét; cột đấm 4 cây; cột quyết 4 cây; cửa hông 4 cột Tất cả 36 cây làm băng gỗ mít và kiền kiền Phía dưới chân cột đứng trên đá tạc thành quả bí (đỏ) chạm trổ hoa văn lạ mắt Mái hiên đình kiến trúc theo kết cấu chồng rường giả thủ, kèo giao kỷ 4 trụ, chạm hình quy cánh quạt, 4 cây chính giữa chạm đầu rồng, bụng kèo chạm tứ quý xuân, hạ, thu, đông, mai, điểu, tùng, lộc Đường nét chạm trổ tinh xảo tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc theo lối kiến trúc của thế kỷ thứ XIX, mang đậm bản sắc dân tộc Bên ngoài đình, trên nóc đắp nổi theo kiểu lưỡng long tranh châu, giữa đắp lưỡng phụng tranh châu, kim quy cá gáy, phi cầm tẩu thú nằm phủ dưới mái thuyền chờ ngày hóa tứ linh Cuối mái đắp cặp lân chầu phên bất Mặt tiền phía tả đắp Thanh long, phía hữu đắp bạch hổ (gọi tắt là Tả thanh long, hữu bạch hổ) Tiền đình có sân rộng 14,5 mét; dài 19,6 mét; có một bức bình phong dài 3 mét; cao 2 mét; mặt
Trang 36ngoài đắp phù điêu hình một con hổ; mặt trong hình con rùa Cả hai được đắp ghép nổi bằng nghệ thuật sành sứ
Đình làng Bồ Bản không chỉ là nơi linh thiêng mang dấu ấn tín ngưỡng địa phương, thờ kính đa thần và những người có công với làng nước, là nơi hội hè đầu năm, tế lễ xuân thu, họp làng, bàn việc làng việc xóm mà còn là nơi xuất phát, hội
tụ của dân làng trong công cuộc bảo vệ làng nước Đình làng Bồ Bản được Nhà nước công nhận là di tích cấp quốc gia, có thể được quy hoạch phát triển du lịch tâm linh
*Đình Nại Nam
Đình làng Nại Nam được xây dựng năm 1905 từ công sức đóng góp của dân địa phương, thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng Đình làng Nại Nam nay ở khối phố Nam Sơn, phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Đình hướng về phía Đông Nam, được xây dựng hoàn toàn bằng vật liệu gạch ngói và gỗ, mái lợp ngói âm dương Đình có sân rộng và tường xây bao bọc, cổng đình có bốn trụ vuông, mỗi trụ cao khoảng 5m Hai trụ chính giữa tạo lối đi chính vào đình, trên đỉnh trụ có đúc hình hai con lân, hai trụ tả hữu gắn liền với tường thành, đỉnh trụ được tạo hình búp sen Trên các trụ giữa có cặp câu đôí ghép bằng
phù điêu hổ, mặt sau là hình long mã được đắp khảm sành sứ Hiên của chính điện
có lầu chiêng gác trống được xây cao, trên có hình dơi ngậm đào Chính điện có lối kiến trúc ba gian hai chái với kiểu vi kèo chuyền Nhiều cấu kiện gỗ được chạm trổ khéo léo, tinh xảo với các hình tượng cá chép hóa rồng, các hoạ tiết hoa văn hoa lá, cây cỏ chim muông mai điểu, tùng lộc… Trong chính điện treo các hoành phi, câu đối
Trong một năm có hai lễ cúng lớn tại đình Nại Nam vào rằm tháng 2 (âm lịch)
là lễ Cầu an và lễ cuối 30, mồng 1 Tết Nguyên đán Trong lễ Cầu an, vào chiều ngày 14 tháng 2 (âm lịch) nhân dân tập trung tại đình để đi thỉnh sắc tại nhà thờ Tiền hiền về cúng tại đình đến chiều ngày 15 hôm sau thì đi trả sắc
Trang 37Di tích đình Nại Nam, ngoài giá trị của một di tích kiến trúc - nghệ thuật còn
là một trong những đình làng cổ tiêu biểu còn lại khá nguyên vẹn trong nội thành
Đà Nẵng Đình Nại Nam được Bộ Văn hoá Thể thao công nhận Di tích cấp quốc gia vào ngày 04/01/1999
Thành hoàng có nguồn gốc Nhiên thần
Ở Đà Nẵng, Thành hoàng có nguồn gốc Nhiên thần khá đông đảo, chủ yếu là Thành hoàng có nguồn gốc Sơn thần như Cao Các; Sơn Lâm; Thành hoàng có nguồn gốc Thủy thần: Đại Càn Quốc gia Nam Hải; Đông Hải cự tộc Ngọc Lân; Thái giám Bạch Mã…(đình An Hả, Hoà Mỹ, Xuân Dương, Tuý Loan…); Thành hoàng có nguồn gốc thổ thần được thờ từ trước như: thổ công thổ chủ; Đương kiển Thành hoàng; Thổ địa…
Đình được xây dựng vào những năm cuối thế kỷ 18, đến năm Mậu Tý (1888) được trùng tu lại Đình lập ra để thờ thần Thành hoàng bổn xứ,các vị tiền hiền, hậu hiền có công khai khẩn, cư dân lập ấp kiến thiết nên làng Túy Loan Vật liệu chủ yếu để xây dựng là gạch, vôi và gỗ Mái lợp ngói âm dương, tường dày 30 cm Với diện tích trên 110m² trong khuôn viên rộng hơn 8.000m², ngôi đình tọa lạc ở vị thế rất thoáng đãng, mặt quay ra sông, nhìn về núi, sát đường lớn và đặc biệt có cây đa
cổ thụ cành lá xum xuê đã hơn trăm tuổi tỏa bóng mát quanh sân đình Trước sân đình là một bình phong theo kiểu cuốn thư, cao 3m, rộng 2m Mặt trước đắp nổi
Trang 38hình long mã Mặt trong đắp nổi hình con lân Tất cả được lắp ghép bằng nghệ thuật sành sứ Hai bên bình phong có 4 trụ biểu Mặt tiền bên tả đình đắp nổi hình con hổ, mặt tiền bên hữa đắp nổi hình cá hóa long Phần nóc có 4 mái, đầu nóc bên
tả hình gia thu, bên hữu hình cuốn thư Bờ nóc chính là lưỡng long tranh châu, bờ nóc phụ thể hiện lưỡng long tranh nguyệt, hai đầu hiên thể hiện hình rồng Nội tẩm
và hậu tẩm có nóc riêng, bên trong đình chia làm 3 gian 2 chái Chính điện rộng 3,1m, dài 2,7m Hậu tẩm rộng 2,7 mét; dài 2,4 mét có 4 hàng cột; mỗi hàng 6 cây toàn bằng gỗ mít Phía dưới chân cột kê đá chạm hình quả bí Kết cấu của kèo là chồng rường giả thủ Các giả thủ được chạm trổ hoa lá, chân giả thủ chạm hình quả
bí Hai đầu các con rường chạm đầu rồng Kẽ hiên cũng được chạm trổ hình hoa lá Nơi thờ có nội tẩm, hậu tẩm, tả ban, hữu ban Trên nội tẩm có một khán thờ bằng
gỗ nơi để thờ các vị thần đình Diềm trên chạm lưỡng long chầu nguyệt, dưới là hoa lá Cửa có hai cánh theo kiểu thượng song hạ bản Giữa là bàn thờ chung (hội đồng ) có cặp hạt đứng chầu Hai bên tả hữu còn cặp hạt bằng gỗ, treo trên trính giữa là bức hoành phi có 3 chữ Túy Loan đình Toàn bộ cửa đình được làm bằng
gỗ mít và kiền kiền Tại văn bia đặt trong đình có bài ký của Tam giáp tiến sĩ Nguyễn Khuê ghi lại việc lập đình năm 1889 Tuy nhiên, điểm đặc biệt nhất của đình Túy Loan là vẫn còn lưu giữ 20 sắc phong thần, sắc xa nhất đời Minh Mạng (1826), sắc gần nhất đời vua Khải Định (1924) Đây chính là nét độc đáo và khác biệt của đình Túy Loan so với các ngôi đình khác của làng quê Việt Nam
Đình Túy Loan, nơi sinh hoạt văn hóa – lễ hội dân gian Hằng năm có 2 lễ lớn: tế xuân và tế thu Vào ngày mồng 9 tháng Giêng, làng cổ Túy Loan cúng đầu năm và lễ hội đình cũng được tổ chức dịp này với nhiều hoạt động văn hóa - thể thao bổ ích, vui nhộn như: đua thuyền, hát hò khoan đối đáp, thi nướng bánh tráng thu hút dân làng trong vùng và khách du lịch thập phương đến dự hội chung vui Đến ngày 11-12 tháng 8 âm lịch, người dân làng cổ Túy Loan lại long trọng thiết lễ tế đình để tỏ lòng biết ơn các vị tiền hiền đã có công khai khẩn lập làng và cầu mong quốc thái dân an Ngoài chức năng phản ánh sinh hoạt văn hóa tinh thần của dân làng, đình làng Túy Loan nói riêng và đình trên địa bàn huyện Hòa Vang nói chung còn có chức năng lịch sử Với các sự kiện lịch sử gắn với đình làng suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ đặt tại nhà tuyền thống xã Hòa Phong, nhằm tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ
Trang 39Đây còn là một di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, trở thành địa chỉ nghiên cứu, tham quan có giá trị cao về kiến trúc và truyền thống
Thành hoàng có nguồn gốc Nhân thần
Ở Đà Nẵng, Thành hoàng có nguồn gốc Nhân thần rất ít, chủ yếu là các vị thần do cư dân Thanh Hóa, Nghệ An mang vào như Phi Vận tướng quân Tùng Giang Văn Trung; Đông chinh Thành hoàng; Dực thánh Thành hoàng…các vị tiền hiền, hậu hiền Qua cách phân loại trên, chúng ta thấy Thành hoàng ở Đà Nẵng có nguồn gốc khác nhau, xuất hiện khá muộn, thường là vô nhân xưng, được người dân mang vào trong quá trình mở cõi tạo nên nét đặc trưng riêng của Thành hoàng
Đà Nẵng
*Đình làng Thạc Gián
Làng Thạc Gián hình thành sau khi vua Lê Thánh Tôn mở mang bờ cõi đất
nước về phương Nam vào năm Canh Thìn – 1470 Hiện nay, làng ở Tổ 5, Phường
Chính gián, Quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng Đình làng Thạc Gián có diện tích 2.131,4m2, đã được xây dựng rất lâu đời, thuở ban sơ ngôi đình làng được dựng lên bằng tranh tre, trải qua thời gian đã được tôn tạo bằng cột sườn gỗ, mái lợp tranh Đến năm Khải Định nguyên niên (tức năm 1916), dân làng Thạc Gián đã cùng nhau góp sức, góp công, đóng tiền của, vật chất trùng tu xây dựng nên ngôi đình gạch ngói và ngôi đình làng này
Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Thạc Gián (phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng) đã được xếp hạng Di tích quốc gia vào tháng 8-2007
Năm 2011, tại đình làng Thạc Gián, Ủy Ban Nhân Dân quận Thanh Khê (Đà
Nẵng), đã long trọng tổ chức Lễ hội đình làng Thạc Gián lần thứ I và đón nhận Bằng xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia
Lễ cúng Thành hoàng
* Phần lễ Lễ cúng
Thành hoàng được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu (Xuân thu nhị kỳ) vào ngày sinh hóa của thần nhằm tỏ lòng biết ơn thần thánh, cầu mong mọi điều tốt đẹp đến với cộng đồng Phần lễ trong lễ hội không đơn lẻ, nó là một hệ thống liên kết
Trang 40chặt chẽ Quan trọng nhất trong phần lễ là nghi thức rước thần và tế thần Trước khi tiến hành lễ phải có một đội ngũ gia lễ gồm: chủ tế, bồi tế, các học trò lễ Việc lựa chọn đội ngũ này cũng phải tuân theo quy định
* Phần hội
Phần hội diễn ra sau phần lễ hoặc đan xen với phần lễ, tùy thuộc vào mỗi đình làng Phần hội là dịp để mọi người cùng nhau sinh hoạt thể hiện tài năng của mình qua các trò chơi như hát bội, kéo co, đập om, chạy việt dã, lắc thúng, làm bánh…Mỗi đình làng đều có những nét riêng tạo nên những nét riêng độc đáo
Nghi lễ thờ thần là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện tình cảm của cộng đồng đối với Thành hoàng Tùy đặc điểm của mỗi làng, mỗi vùng, sự tích của thần mà nghi lễ này được tổ chức khác nhau Quan trọng nhất trong nghi lễ thờ thần là nghi lễ rước thần và tế thần, thể hiện sự nguyên hợp giữa người với thần Nghi lễ thờ thần được tổ chức theo một hệ thống quy củ, chặt chẽ, trang trọng có
âm nhạc, được quy định trong sách “Khâm định Đại Nam hội điện sử lệ”, năm 2009
Tín ngưỡng Thành hoàng trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Đà Nẵng, có tác động hết sức sâu sắc đến mọi mặt đời sống của con người Tín ngưỡng Thành hoàng tạo ra sự cố kết cộng đồng, sinh hoạt vui chơi, bổ ích, xua tan đi những nhọc nhằn của đời sống thường ngày, mọi lo toan vất vả đều xếp lại, mọi người đều hướng về lễ hội Tín ngưỡng Thành hoàng thỏa mãn được nhu cầu tinh thần của con người, cầu cho người an vật thịnh, hướng con người đến một lý tưởng chân, thiện, mỹ Vì thế, thờ cúng Thành hoàng không chỉ
có ý nghĩa phồn thực mà còn có ý nghĩa về mặt đạo đức, giáo dục đạo lý “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ trẻ, biểu lộ sự nhớ ơn của cộng đồng đối với Thành Hoàng, các vị tiền hiền, hậu hiền và tổ tiên
2.2.2 Di tích gắn với tín ngưỡng thờ Thiên Y Ana
Nữ thần Thiên Y Ana còn gọi là PôInưNagar ( tiếng Chăm gọi pô là ngài, là bà; Inư là mẹ; Nagar là xứ sở, đất nước hay đô thị) Bà được xem là Thần Mẹ xứ sở của người Chăm, là vị nữ thần bản địa có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Chăm Theo thời gian, sự biến đổi từ Mẹ xứ sở/ Pô