1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH – DUY XUYÊN – QUẢNG NAM 10600999-mo-dau.htm

52 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Từ Ngữ Nghề Dệt Chiếu Bàn Thạch – Duy Xuyên – Quảng Nam
Tác giả Đặng Tường Vy
Người hướng dẫn TS. Trương Thi Diễm
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 774,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khảo sát vốn từ vựng nghề dệt chiếu Bàn Thạch, chúng tôi nhằm mục đích chỉ ra những đặc điểm cấu tạo cũng như đặc trưng của vốn từ vựng này để từ đó có thể tìm ra những nét tương

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4

1.1 Từ ngữ 4

1.1.1 Khái niệm từ, ngữ 4

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của từ, ngữ 6

1.2 Từ ngữ nghề nghiệp 7

1.2.1 Định nghĩa 7

1.2.2 Đặc trưng của từ nghề nghiệp 7

1.3 Vài nét về nghề dệt chiếu và làng chiếu Bàn Thạch – Duy Vinh – Duy Xuyên – Quảng Nam 9

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển nghề dệt chiếu 9

1.3.2 Vài nét về làng chiếu Bàn Thạch 11

1.3.2 Các bước dệt chiếu 13

1.4 Nguyên tắc thu thập và tiêu chí phân loại hệ thống từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch 15

1.4.1 Nguyên tắc thu thập 15

1.4.2 Tiêu chí phân loại 16

Trang 3

2.1 Đặc điểm cấu tạo của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch 17

2.1.1 Từ đơn 20

2.1.2 Từ phức 22

2.1.3 Ngữ định danh 24

2.2 Đặc điểm từ loại của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch 27

2.2.1 Danh từ, cụm danh từ 27

2.2.2 Động từ, cụm động từ 29

2.2.3 Tính từ 33

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CỦA LỚP TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH 34

3.1 Từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch trong mối quan hệ với từ toàn dân 34

3.2 Các phạm trù ngữ nghĩa của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch 35

3.2.1 Phạm trù biểu thị nguyên vật liệu và công cụ sản xuất 36

3.2.2 Phạm trù biểu thị động tác và quy trình sản xuất 40

3.2.3 Phạm trù biểu thị sản phẩm 42

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quảng Nam được biết đến như một tỉnh còn nghèo, nhưng chính cái nơi khắc nghiệt ấy lại mang một bề dày lịch sử và giàu những giá trị văn hóa kết tinh từ nắng, gió cùng với con người ở đây Về Quảng Nam mà không tìm hiểu con người, không đi đây đó tham quan các làng nghề thì coi như chưa đặt chân đến mảnh đất này bởi vì các làng nghề đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của lịch sử mỗi làng quê thôn xóm của vùng đất này

Làng chiếu Bàn Thạch thuộc thôn Vĩnh Nam, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên là một làng nghề truyền thống nổi tiếng với sản phẩm chiếu các loại Ngày nay, Bàn Thạch còn là một điểm du lịch hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hóa đặc sắc của một làng nghề Tuy nhiên,

sự xuất hiện tràn lan của chiếu Trung Quốc khiến cho đầu ra của chiếu thủ công bị thu hẹp Lớp trẻ hầu như không có nhu cầu học nghề này mà chuyển sang những ngành nghề khác có thu nhập cao và hợp thời hơn khiến cho làng nghề dệt chiếu đang đi vào tình trạng suy thoái Vì vậy, việc sưu tầm và nghiên cứu về nhóm từ vựng này là công việc cần thiết, góp phần lưu giữ một giá trị văn hóa truyền thống của cha ông

Làng dệt chiếu Bàn Thạch, thuộc thôn Vĩnh Nam, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam, là một địa danh làm chiếu nổi tiếng và có bề dày lịch sử lâu đời Vì vậy, khảo sát vốn từ vựng nghề dệt chiếu Bàn Thạch, chúng tôi nhằm mục đích chỉ ra những đặc điểm cấu tạo cũng như đặc trưng của vốn từ vựng này để từ đó có thể tìm ra những nét tương đồng và dị biệt trong cách sử dụng từ vựng nghề nghiệp so với ngôn ngữ toàn dân; những sáng tạo của họ trong quá trình định danh các sự vật và các hoạt động trong

Trang 5

lao động sản xuất Ngoài ra, đề tài còn góp phần hệ thống hóa tri thức nghề dệt chiếu bằng ngôn từ, tìm hiểu về đời sống tinh thần của người dân nơi đây.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Cho đến nay, vốn từ chỉ nghề nghiệp đã được nhiều người quan tâm

nghiên cứu như: Nguyễn Văn Tu (Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại – 1976),

Đỗ Hữu Châu (Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt – 1981), Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học tiếng Việt - 1985) và một số tác giả khác như: Mai Ngọc Chừ,

Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến… Tuy nhiên, những khái niệm lí thuyết liên quan đến từ ngữ nghề nghiệp trong Việt ngữ học còn khá khiêm tốn, mới được đa số các tác giả trên đề cập một cách chung chung Đề cập đến từ nghề nghiệp một cách riêng rẽ dường như mới chỉ có luận văn Thạc sĩ khoa học với

đề tài Cấu tạo và nghĩa của từ ngữ nghề nghiệp trong tiếng Việt của Trương

Thị Thuyết (1996)

Nghề dệt chiếu ở nước ta đã có một lịch sử phát triển hàng ngàn năm nhưng các công trình nghiên cứu về nghề dệt chiếu lại rất ít và chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sự ra đời, một số về đặc điểm của nghề dệt chiếu Trong số này

có thể kể đến công trình nghiên cứu Nghề cổ nước Việt của Vũ Từ Trang,

Nxb Văn hóa dân tộc (2011)

Gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp,

tập trung vào các nghề như: nghề mộc, nghề thêu, nghề làm bánh, nghề gốm

Các công trình này đã đi vào nghiên cứu vốn từ chỉ một nghề cụ thể, tuy nhiên theo sự tìm hiểu của chúng tôi vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu

về từ ngữ nghề dệt chiếu

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của đề tài là tất cả các từ ngữ được sử dụng trong hoạt động sản xuất có liên quan đến nghề dệt chiếu dưới dạng truyền miệng lẫn dạng viết

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện và khả năng có hạn nên chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, thống kê từ nghề nghiệp trong nghề dệt chiếu ở một làng nghề cụ thể, đó là làng dệt chiếu Bàn Thạch, Duy Vinh, Duy Xuyên, Quảng Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, miêu tả: Đây là đề tài đi vào nghiên cứu một lớp từ vựng cụ thể ở một địa phương cụ thể nên cần phải tiến hành khảo sát thực tế để thu thập ngữ liệu sau đó tiến hành thống kê, miêu tả ngữ liệu

- Phương pháp phân loại: Tập trung vào việc hệ thống hóa, phân định

hệ thống đối tượng nghiên cứu thành các cấp độ Để tiến hành quá trình phân loại này, chúng tôi chủ yếu sử dụng thủ pháp thống kê

- Phương pháp tổng hợp, khái quát: Từ việc xử lí ngữ liệu chúng tôi tiến hành phân tích tổng hợp để rút ra những nhận xét khái quát và những đặc trưng về từ nghề nghiệp trong nghề dệt chiếu

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Từ ngữ

1.1.1 Khái niệm từ, ngữ

Từ là một đơn vị tồn tại hiển nhiên sẵn có của ngôn ngữ mà ai cũng có thể nhận ra Từ được xem là vật liệu để cấu thành ngôn ngữ, vì vậy thiếu nó thì không thể có ngôn ngữ Xuất phát từ vai trò quan trọng của từ đối với ngôn ngữ nên đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đi vào nghiên cứu và tìm hiểu

về khái niệm từ Mỗi nhà nghiên cứu đều đã đưa ra cho mình một cách hiểu khác nhau về khái niệm của từ nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức nào về từ, mỗi cách định nghĩa lại nảy sinh hàng loạt vấn đề

gây tranh luận Như F.de.Sausure đã viết: “…Từ là một đơn vị luôn luôn ám

ảnh chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [15, tr.111]

Sở dĩ người ta không thể đưa ra một định nghĩa mang tính phổ quát về

từ là do “sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn ngữ” Trong các ngôn ngữ khác nhau, bản thân từ không phải trường hợp nào cũng giống nhau

Chính sự phức tạp trên đã dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất khi định nghĩa về từ Trên thực tế, theo sự thống kê hiện nay có khoảng 300 định nghĩa về từ Có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu như L Blum-phin, một

nhà ngôn ngữ thuộc trường phái cấu trúc, cho rằng: từ là “hình thái tự do nhỏ

nhất”, mà hình thái tự do là “bất kì hình thái nào có thể xuất hiện với tính cách một phát ngôn” A Mây–yê nghiêng về mặt ngữ pháp: “Từ là sự kết

Trang 8

hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp âm nhất định, có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định” Ê.Xêpia nghiêng về mặt ngữ

nghĩa: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập

và bản thân có thể làm thành câu tối giản”…[13, tr.37]

Vì vậy người ta chấp nhận một quan niệm tương đối về từ để làm việc

và tiếp tục định nghĩa về nó Riêng tiếng Việt chúng ta cũng có hàng chục

định nghĩa khác nhau về từ Theo Hồ Lê thì “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức

năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động,

có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [13, tr.104] Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [4, tr.122] Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [8, tr.61] Các định

nghĩa trên dường như vẫn chưa có một định nghĩa nào thuyết phục được tất cả mọi người Ở đây, chúng tôi lấy định nghĩa về từ của Giáo sư Đỗ Hữu Châu làm cơ sở của đề tài nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong khi làm luận văn

Tương tự “từ”, ngữ cũng là khái niệm gây ra không ít những vấn đề tranh luận Sự khác nhau giữa từ và ngữ được Cao Xuân Hạo quan niệm khá

đơn giản:

Ngữ (đoạn) là một đơn vị cú pháp gồm một từ trở lên, và không thể nói

rõ số từ tối đa mà một ngữ có thể bao gồm là bao nhiêu… Dù sao thì ngữ cũng có một số lượng thành tố bất kỳ, khác với từ hay hình vị vốn có một số thành tố xác định… Nói chung một đơn vị ngôn ngữ thường có thể gồm nhiều đơn vị ở bậc dưới, nhưng một tổ hợp của nhiều đơn vị bậc dưới chỉ có thể có được tư cách của một đơn vị bậc trên khi nào nó có một hệ thống thuộc tính

Trang 9

ngữ pháp gì khác với cái tổng số đơn thuần của những đơn vị tạo thành nó, cho nên một từ tổ (hay cụm từ), dù là tổ cố định, thì dù gồm nhiều từ, cũng không làm thành một đơn vị ngôn ngữ cao hơn từ, vì nó không có một thuộc tính gì khác hơn là cái khả năng làm ngữ vốn là một thuộc tính ngữ pháp của

từ Từ tổ chẳng qua chỉ là một tổng số, một tập hợp của những từ có quan hệ ngữ pháp nhất định với nhau [11, tr.175]

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của từ, ngữ

Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm có một hoặc một số âm tiết cố định và bất biến Từ không nhất thiết phải có một âm tiết mà từ có thể có hai, ba hay

nhiều âm tiết hơn nữa Như hợp tác xã, thủ công nghiệp là những từ có ba âm tiết, xã hội chủ nghĩa, cổ sinh vật học là những từ có bốn âm tiết…

Từ có tính hoàn chỉnh về nghĩa Tuy rằng, từ có thể là một, hai, ba hoặc nhiều âm tiết hơn nữa nhưng mỗi từ đều thể hiện một ý nghĩa nhất định mà không bị chia tách hoặc phá vỡ khi giao tiếp

Từ có tính cố định hay vững chắc về cấu tạo Bất kì một từ nào cũng được xem là một khối chặt chẽ về cả nội dung lẫn hình thức cấu tạo Chúng ta không thể chia tách hoặc chêm xen bất cứ một yếu tố nào vào giữa từ Nếu cố tình chêm xen yếu tố nào vào giữa từ thì ý nghĩa và cấu tạo của từ sẽ thay đổi,

từ đó sẽ chuyển sang cụm từ

Từ có tính độc lập về cú pháp, mỗi từ là một đơn vị của ngôn ngữ Do

đó, các từ có khả năng kết hợp tự do với nhau để tạo câu và mỗi từ đều có thể đứng độc lập mà vẫn có nghĩa

Trang 10

1.2 Từ ngữ nghề nghiệp

1.2.1 Định nghĩa

Từ nghề nghiệp là một bộ phận trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Từ nghề nghiệp tuy chỉ là một bộ phận nhỏ trong toàn bộ hệ thống từ tiếng Việt nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong phú vốn từ vựng tiếng Việt Trong cách hiểu thông thường nhất, từ ngữ nghề nghiệp là từ ngữ được

sử dụng phổ biến giữa những người cùng làm trong một nghề nào đó Từ ngữ nghề nghiệp, trong nhiều trường hợp, có thể thay thế bằng: thuật ngữ nghề

nghiệp, từ nghề nghiệp, ngôn ngữ nghề nghiệp

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra khá nhiều định nghĩa khác nhau về từ ngữ nghề nghiệp

- Từ nghề nghiệp đứng từ góc độ các nhà từ vựng học:

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những

đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các nghành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, nghề văn thư…)” [3, tr 253]

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ

biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội” [7, tr 303]

- Từ nghề nghiệp đứng từ góc độ nhà phong cách học:

Tác giả Đinh Trọng Lạc: “Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị công cụ

lao động, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó, thường chỉ được những người trong ngành nghề đó biết sử dụng.” [12, tr.200]

1.2.2 Đặc trưng của từ nghề nghiệp

Trang 11

Từ nghề nghiệp là một lớp từ nằm trong vốn từ vựng tiếng Việt Khác với lớp từ toàn dân, nếu như từ toàn dân – từ ngữ văn hóa được sử dụng rộng rãi trong toàn xã hội thì từ nghề nghiệp chỉ được sử dụng trong một ngành nghề nào đó Từ nghề nghiệp cũng như thuật ngữ khoa học, chủ yếu do những người cùng một ngành chuyên môn nào đó sử dụng Và có thể nói bất cứ nhóm nghề nghiệp nào cũng sử dụng từ ngữ nghề nghiệp

Chức năng nổi bật của từ ngữ nghề nghiệp là giúp những người đồng nghiệp có thể dễ dàng truyền đạt thông điệp cho nhau khi cần sự cộng tác, giúp đỡ, điều hành công việc hoặc truyền nghề

Dùng từ ngữ nghề nghiệp sẽ không cần phải diễn đạt dài dòng mà vẫn đạt được hiệu quả tiếp Từ ngữ nghề nghiệp cũng là tập hợp tín hiệu giúp nhận biết tư cách thành viên của một người hoạt động trong một nghề nghiệp nào đó Để tạo sự gắn kết và phối hợp nhịp nhàng trong lao động

Nhìn chung, từ ngữ nghề nghiệp cũng chịu sự chi phối của quy luật ngữ

âm, cấu tạo từ và quy luật ngữ pháp của từng ngôn ngữ Do được xây dựng dựa trên bản ngữ nên từ ngữ nghề nghiệp phản ánh tư duy, văn hóa, đặc tính của từng dân tộc Đặc điểm này của từ nghề nghiệp không giống với thuật ngữ, vốn được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc: bản ngữ và sự giúp đỡ của các ngôn ngữ khác Sự khác nhau này đã dẫn đến những đặc trưng phân biệt

từ ngữ nghề nghiệp với thuật ngữ khoa học: Từ ngữ nghề nghiệp có tính dân tộc – thuật ngữ khoa học có tính quốc tế; Từ ngữ nghề nghiệp có tính cụ thể, gợi hình ảnh cao – thuật ngữ khoa học có tính khái quát cao

Từ ngữ nghề nghiệp thường biểu thị công cụ, sản phẩm và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Do không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân nên nó dễ dàng đi vào lớp ngôn ngữ không sử dụng hạn chế về mặt xã hội Nói cách khác, giới hạn sử dụng của từ ngữ nghề nghiệp có

Trang 12

thể đi từ một nhóm nhỏ đến một nhóm lớn hơn, kết quả là nó có thể kết thúc

địa vị đặc biệt của mình và đi vào cách sử dụng chính thức Ví dụ: đục, bào,

cưa… (trong nghề mộc) đã đi vào ngôn ngữ toàn dân trong tiếng Việt Một

đặc điểm quan trọng khác của từ ngữ nghề nghiệp, giống với thuật ngữ khoa học là từ ngữ nghề nghiệp cũng là một tiểu hệ thống trong hệ thống của từng ngôn ngữ Về mặt hình thức, tính hệ thống của từ ngữ nghề nghiệp thể hiện ở

sự lệ thuộc lẫn nhau của các hình thái ngữ pháp phát sinh trong việc cấu tạo

Phạm Ðôn Lễ (có tài liệu ghi sinh năm 1457 - không rõ năm mất) trong một gia đình nghèo khó Tương truyền bố ông họ Phạm, quê ở huyện Tứ Kỳ, sống bằng nghề chài lưới Mẹ ông người làng Hải Triều (nay là xã Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình), dựng túp lều tranh đơn sơ làm quán hàng nước để bán cho khách qua đò Ngay từ khi Phạm Ðôn Lễ còn rất nhỏ thì bố ông đột ngột qua đời Hai mẹ con đơn côi chỉ còn biết trông cậy vào quán hàng nước nghèo nàn, dột nát Càng lớn Phạm Ðôn Lễ càng khôi ngô, tuấn tú

Trang 13

Theo các tài liệu lịch sử, năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Ðức 12 - triều vua Lê Thánh Tông, triều đình mở khoa thi kén chọn nhân tài cho đất nước Phạm Ðôn Lễ lên kinh thành dự thi Cả ba khoa thi: thi hương, thi hội, thi đình ông đều đỗ thủ khoa Sử chép: Vua ngự ở Ðiện kinh thiên, thảo ra văn sách, hỏi về lý số, Phạm Ðôn Lễ đều trả lời rành mạch, lời lẽ phóng đạt trôi chảy, vua cho đỗ trạng nguyên (tiến sĩ Cập Ðệ) Truyền thuyết kể rằng: Trong thời gian về chịu tang mẹ, thấy dân làng Hải Triều có nghề dệt chiếu nhưng chiếu làm ra không đẹp, hơn nữa khung dệt lại cao, đay rùi làm cho lá chiếu không phẳng nên quan trạng đã suy nghĩ và tìm hiểu nguyên nhân Trong một chuyến đi công cán đến vùng Quảng Ðông (Trung Quốc), Phạm Ðôn Lễ thấy dân ở vùng này sống bằng nghề dệt chiếu và trồng cói, ông để tâm tìm hiểu kỹ thuật của họ Khi về nước ông đem truyền lại những bí quyết đã học hỏi được cho dân làng Hới

Ðồng thời ông còn cải tiến khung dệt chiếu thấp xuống, lại làm thêm ngựa đỡ đay ở trên khung, giúp cho sợi dây thêm căng, đồng thời dùng nêm tre để nêm chèn ở phần cuối khung chiếu, giúp cho sợi đay trên khung không

bị chùng xuống Từ đó chiếu của làng Hới làm ra vừa phẳng, vừa đẹp Không chỉ có vậy ông còn hướng dẫn cho dân làng cách dệt chiếu Ðậu (đay đôi, cỏ đôi), chọn cỏ cói vừa đều, vừa hồng, vừa đẹp, đồng thời phổ biến cách dệt chiếu cải chữ hoa và cách nhuộm cói Không những thế ông còn hướng dẫn dân trồng cói ở các vùng nội đồng giáp sông Cói trồng ở đây khi thu hoạch, chẻ cói ra đem phơi được nắng thì cói vừa hồng, vừa bền, vừa đẹp, lại không

bị mốc Kỹ thuật nhuộm màu tinh sảo, lá chiếu Ðậu được dệt ra trung bình

dùng được từ 5 - 7 năm mới phải thay chiếu khác Xưa kia vẫn truyền câu ca:

“Ăn cơm hom nằm giường hòm đắp chiếu Hới”

Trang 14

Hàng năm để tưởng nhớ đến ông vào ngày mùng sáu tháng Giêng (ngày mất của tam nguyên Phạm Ðôn Lễ nhân dân làng Hải Triều, Bùi Xá,

Hà Xá, Thanh Triều, Kiều Thạch, Mỹ Ðại, Xuân Hải, Xuân Trúc… đều tổ chức lễ hội để tưởng nhớ tới ông trạng chiếu - một con người hiếu học - tài năng hết lòng vì dân và được coi là vị tổ nghề chiếu của quê hương, đất nước Dân gian gọi đền thờ ông là đền quan trạng chiếu Tại đền còn lưu giữ đựơc các đạo sắc phong, nhiều câu đối ca ngợi công lao của thị lang thượng thư Phạm Ðôn Lễ với nghề chiếu của làng Hới Thần phả triều Nguyễn còn ghi:

“Trạng nguyên khoa Tân Sửu Phạm Ðôn Lễ thi hương, thi hội, thi đình đều

đỗ đầu, làm quan tới chức thị lang, phụng mệnh sang sứ Bắc Quốc, học được nghề dệt, về dạy người bản xã và trong tổng Nhiều người nhờ nghề ấy làm kế sinh nhai, sau khi chết dân nhớ công ơn lập đền thờ, bản triều (nhà Nguyễn)

“Không chiếu nào đẹp bằng chiếu Bàn Thạch

Không lạch nào sâu bằng lạch Bùng Binh”

Trang 15

Tuy nhiên, để có được một tấm chiếu đẹp, người thợ đã phải bỏ ra rất nhiều công sức Có ai đó nặng lòng với chiếu Bàn Thạch đã từng viết:

“Quê anh Tây Bắc Hòa Vang

Thuốc ngon khét tiếng, ruộng vườn phì nhiêu

Quê em Bàn Thạch chiếu nhiều

Canh đay chỉ lác dệt nghìn đắng cay”

Và sau những thăng trầm, làng chiếu Bàn Thạch đang được chính quyền và người dân đầu tư để khôi phục, phát triển

“Anh về Bàn Thạch em trải chiếu cho anh nằm

Tình sâu nghĩa nặng mấy con trăng rằm không phai”

Câu ca dao ngày xưa ấy vẫn còn vang vọng, sâu lắng trong mỗi người dân Bàn Thạch Với niềm tự hào về mãnh đất con người một thời vang bóng trên bến dưới thuyền của làng Với lợi thế giao thông cả đường bộ lẫn đường thủy, đặc biệt là đường thủy với sông Thu Bồn, Trường Giang, Li Li thông với Thương cảng Hội An xuôi về cửa Đại Bàn Thạch đã hình thành nên trung tâm buôn bán sầm uất Vào đầu thế kỷ XVI nguồn gốc các tộc họ ở Duy Vinh bây giờ từ Thanh Hóa, Thái Nguyên, Nghệ Tĩnh đã vượt núi trèo đèo qua ải Vân Nam đến địa hạt phủ Thăng Hoa (Quảng Nam - Đà Nẵng) nhận thấy long thổ hợp lưu địa lợi nên dừng chân vùng đất này để xây dựng cơ nghiệp Với lòng quả cảm, tinh thần lao động cần cù thông minh sáng tạo Các bậc tiền nhân đã cải đất hoàn thành ruộng vườn, đất bải vời ven sông thành những cánh đồng cói Gầy dựng nghề dệt chiếu và hình thành làng nghề dệt chiếu Bàn Thạch Tại nhà thờ tộc Võ Văn ở thôn Hà Thuận xã Duy Vinh có ghi hai câu đối :

Trang 16

“Địa sanh cảnh trí giang sơn nhứt mạch thái nguyên lai.

Thiên khôi đường đàng cơ sở thiên thu Bàn Thạch điện ”

Sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng Đảng bộ và nhân dân Duy Vinh bắt tay vào khôi phục và phát triển nghề dệt chiếu truyền thống Tính đến nay diện tích đất trồng cói trên 80 ha, thu hoạch và chế biến gồm 1200 tấn lác khô, hằng năm dệt gồm 400.000 đôi chiếu các loại giá trị 12 tỷ đồng Tổ

chức OPEC đã tài trợ hơn 6,6 tỷ đồng cho dự án “Khôi phục và phát triển

làng nghề chiếu cói Bàn Thạch” Và đây sẽ là động lực vững chắc để thứ có

giá trị văn hóa này không bị mai một

Hiện nay trên thị trường tràn lan các loại chiếu nhựa, chiếu trúc Trung Quốc, những tưởng chiếu lác Bàn Thạch khó có thể trụ vững Nhưng thực ra thứ sản phẩm ấy vẫn luôn củng cố được vị trí của mình Phải chăng vì trong

đó kết tinh bao giọt mồ hôi và cả tấm lòng của con người xứ Quảng gởi đến mọi miền Tổ quốc…

Ta cất tiếng khóc chào đời trên chiếc chiếu đơn sơ mộc mạc Những chiếc chiếu đưa ta vào giấc ngủ êm đềm và cũng chính nó ôm ấp ta về với lòng đất mẹ… Trong thâm tâm con người xứ Quảng sẽ mãi thơm thảo một tấm lòng hướng về những giá trị truyền thống xưa - nay

1.3.2 Các bước dệt chiếu

Để hoàn thành xong một sản phẩm chiếu, người thợ phải làm qua các công đoạn sau:

Công đoạn 1: Mắc giàn sân

Công đoạn này quyết định kích cỡ của chiếc chiếu, loại chiếu mà người thợ muốn làm Kích cỡ phụ thuộc vào độ dài của khổ, khoảng cách giữa hai đường đay dọc hai mé ngoài khi giăng đay

Trang 17

Đay được cắt ra từ cuộn, chắp lại thành từng bó, độ dài khoảng 1,5 đến

2 mét Bó đay được cắt ra đó gấp lại làm đôi, vắt qua đòn đông nằm ngang ở một đầu của giàn đay Các đầu dây đay sau khi gấp lại sẽ đực luồn qua các lỗ

và khe go (mỗi dây được luồn qua thanh go là khe và lỗ của các thanh tre đặt

so le) Số lượng dây tuỳ thuộc vào kích cỡ của chiếu

Thanh đòn đông ở đầu còn lại của giàn dệt cũng được mắc đay theo cách tương tự các đầu dây đay được căng ra, buộc vào những đầu dây ở đầu thứ nhất (trước đó đã luồn qua khổ) Kéo căng các dây khi nối, tương tự cho đến khi mắc xong sợi sân trên giàn

Chống con ngựa nằm ngang, vào giữa giàn sân Lúc này người thợ có thể dệt

Ghế ngồi của người dập khổ cũng được đặt vào giữa giàn đay, gần một đầu của giàn (ghế ngồi của người dập khổ chỉ được đặt vào khi chiếu đã được dệt một đoạn nhất định, khi mà người dập khổ ngồi ở bên ngoài không với tới khổ) Ghế ngồi cách con ngựa 0,6 đến 0,8 mét

Chiếu dệt tới đâu ghế và con ngựa di chuyển tới đó

Trang 18

ra sau khi dập sẽ được quấn vào khe 2 dây đay mép ngoài cùng Gốc lác thì không phải quấn)

Dập khổ phải đều tay, lực phân bố đều cả hai bên tay

Người đưa lác ngồi bên cạnh, phía tay phải của người dập khổ Khi nào thanh go được đẩy ra thì đưa lác (khổ úp thì trô gốc lác vào trước, khổ ngửa thì trô ngọn vào trước)

Công đoạn 3: Ghim chiếu

Khi chiếu được dệt xong, đủ kích thước cần thiết, người thợ tháo chiếu

ra khỏi giàn, những đoạn đay thừa ra khoảng 10 – 15 cm được cắt ra từ hai đầu đòn đông được ghim lại

Dụng cụ để ghim chiếu là một que nhỏ, nhẵn, nhọn ở một đầu Người ghim túm 4 đến 5 dây đay thừa đó quấn lại; thanh ghim được chọc qua lớp lác 10cm; đặt mấy đay đã túm trước đó vào đuôi ghim rồi cầm đầu ghim kéo qua

lỗ được tạo bởi lớp chiếu

1.4 Nguyên tắc thu thập và tiêu chí phân loại hệ thống từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch

1.4.1 Nguyên tắc thu thập

Nghề dệt chiếu thủ công đã được hình thành từ lâu đời và trải qua nhiều giai đoạn phát triển và cho đến bây giờ đã bị mai một rất nhiều Để có được nguồn ngữ liệu cần thiết chúng tôi chủ yếu điều tra trên thực địa thông qua phỏng vấn những người có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là các bậc cao niên; trực tiếp chỉ vào các sản phẩm, các công cụ và các động tác của họ và nhờ họ gọi tên, giải thích

Để hạn chế thấp nhất việc thiếu sót ngữ liệu, với từng đối tượng được phỏng vấn, chúng tôi đưa ra những câu hỏi:

Trang 19

- Dệt chiếu cần những nguyên vật liệu gì?

- Dệt chiếu cần những công cụ gì?

- Dệt chiếu cần những thao tác và quy trình như thế nào?

- Bàn Thạch có những sản phẩm (chiếu) gì?

- Những kinh nghiệm để làm chiếu là gì?

1.4.2 Tiêu chí phân loại

Cùng với thu thập và thống kê, phân loại là thao tác tiếp theo cần phải làm khi nghiên cứu một lớp từ vựng cụ thể Ở đây chúng tôi tiến hành phân loại theo tiêu chí chức năng ý nghĩa:

- Từ ngữ chỉ nguyên vật liệu sản xuất

- Từ ngữ chỉ công cụ sản xuất

- Từ ngữ chỉ động tác và quy trình sản xuất

- Từ ngữ chỉ sản phẩm

Trang 20

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LỚP TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH 2.1 Đặc điểm cấu tạo của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch

- Sợi đay - Vỏ đay

- Sợi sân - Cuộn sân

Lò hấp Nồi hấp Con quay

Khuôn đồng Bàn chiếu

- Cái chêm - Cái kẹo

- Răng khổ - Khe khổ

- Vỏ khổ - Mặt khổ

- Khổ nhứt - Khổ trung

- Khổ chiếu chỏng - Cây lao

- Cây lụi - Que ghim

- Đòn đông trong - Đòn đông ngoài

- Phơi đay -Tước sợi

Trang 21

- Mắc sân biên - Mắc sân trong

- Mắc giàn sân - Giăng sân

- Dệt ngửa - Cuốn chiếu

- Cải hai - Cải ba

- Cải chữ thọ - Cải hoa

- Mặt chính - Mặt phụ

- Gáy chiếu - Cuống chiếu

- Đôi chiếu

Trang 22

Chiếu trơn Chiếu trắng Chiếu bông dâu Chiếu bùa

Chiếu đốt Chiếu cạp điều Chiếu đậu Chiếu nhát

Trang 23

Từ thống kê trên, ta có bảng tổng hợp số liệu về đặc điểm cấu tạo của

13 động từ: bó, giang, se, chắp, trổ, cải, in, hấp, ghim, cuốn, bung, trô, dệt

9 tính từ: loang, lệch, dày, mỏng, méo, đều, bóng, trơn, chín

Do được tạo thành từ một tiếng/hình tiết nên từ đơn không có quan hệ hình thái nội tại Song một số từ lại là thành tố cấu tạo của nhiều từ phức trong hệ thống từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch, tạo nên sự lệ thuộc lẫn nhau của các hình thái ngữ pháp phát sinh

- khổ: khổ nhất, khổ trung, khổ chiếu chỏng, mặt khổ, răng khổ, dập

khổ, khe khổ, vỏ khổ…

- cải: cải hai, cải ba, cải hoa, cải chữ thọ…

Trang 24

- dệt: khung dệt, dệt chiếu

Khổ: Là thanh gỗ dài, dẹp, to bản Ở phần rìa được gia công thành lỗ

hình răng lược Các kẽ hở răng lược được tạo thành các khoảng cách đều nhau, độ chênh lệch cao thấp giữa các lỗ tựa hình dích dắc

Khổ nhất: là khổ kích thước 1m6

Khổ trung: là khổ có kích thước 1m4

Khổ chiếu chõng: là khổ ngắn nhất, trước kia thường dùng để dệt

những chiếc chiếu nhỏ bỏ trên võng, nằm cho êm

Mặt khổ: hai mặt hai bên của khổ, được tạo thành bởi hai hàng răng khổ Răng khổ: là những thanh tre nhỏ được sắp đều nhau, chúng đều có

những lỗ nhỏ bên trong để sợi đay chạy qua, gọi là răng khổ

Khe khổ: Giữa các răng khổ có một khoảng cách Khoảng cách đó được

bỏ bạt, thêu đâm xô, thêu sa hạt, thêu kim tuyến…hay từ “khuôn” trong nghề

đúc đồng Huế cũng có khả năng kết hợp tương tự: khuôn nặn, khuôn sống,

khuôn chín, khuôn bền, giáp khuôn, thét khuôn, chèn khuôn, bố khuôn, vỗ khuôn…

Trong số những từ đơn này, có những từ đã trở nên quen thuộc đối với đời

sống của con người như: dao, liềm, rựa, dầu…nhưng cũng có những từ hoàn toàn xa lạ, chỉ được dùng trong nghề như: khổ, trổ, cải, trô…

Trang 25

Có những từ đã trở nên quen thuộc với con người vì chúng nằm trong

hệ thống ngôn ngữ toàn dân Nước ta là một nước có nền văn hóa lúa nước từ lâu đời các công cụ, sản phẩm, quá trình của nghề nông dường như đã trở thành quá quen thuộc đối với toàn xã hội Nghề dệt chiếu cũng là một nghề rất gần với nông nghiệp mà nhất là việc sử dụng các công cụ để sản xuất Do đó một số từ chỉ dụng cụ và nguyên vật liệu của nghề dệt chiếu đương nhiên trở thành quen thuộc đối với mọi người và đó cũng chính là những từ bắt nguồn

từ ngôn ngữ toàn dân Bên cạnh đó cũng có những từ bắt nguồn từ phương ngữ của vùng, gắn liền với đời sống của người dân bản địa Có thể kể đến các

từ: trô, giang, khổ

2.1.2 Từ phức

Với 23 từ phức mà chúng tôi thu thập được đa số là những từ chỉ sản phẩm và công cụ sản xuất Ở đây từ ghép đẳng lập là rất ít, chỉ có 1/ 23 từ chiếm 4,5%, trong khi đó 22 từ còn lại là từ ghép chính phụ, chiếm 93,5% Điều này không khó lí giải, theo tác giả Đỗ Hữu Châu: từ ghép phân nghĩa – từ ghép chính phụ là những từ ghép được cấu tạo hai hoặc hơn hai hình vị theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hiện tượng, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành nhưng loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau, và độc lập với loại lớn Còn các từ ghép hợp nghĩa – từ ghép đẳng lập, là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó không có hình

vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa Như vậy từ ghép đẳng lập là những từ ghép luôn biểu thị ý nghĩa bao quát, rộng lớn,

và từ ghép chính phụ thì ngược lại, biểu thị những ý nghĩa cụ thể, mang tính chất giới hạn về sự vật, hiện tượng Mà ở đây phần lớn các từ chỉ công cụ và sản phẩm đều mang ý nghĩa cụ thể Điều đó có thể lí giải tại sao từ trong nghề dệt chiếu Bàn Thạch hay các từ chỉ nghề khác đa số là từ ghép chính phụ và ngữ định danh

Trang 26

- Từ ghép đẳng lập:

Phơi phóng: Từ ghép được cấu tạo theo phương thức ghép, thành tố

gốc là động từ, hai từ tố gần nghĩa nhau

Ví dụ:

Sau khi nhuộm lác phải phơi

Hoặc:

Sau khi nhuộm lác phải phơi phóng

Từ ghép chính phụ: Phẩm nhuộm, dây néo, khung dệt, con ngựa, lò

hấp, nồi hấp, con quay, khuôn đồng, bàn chiếu, chiếu đơn, chiếu kép, chiếu trổ, chiếu cải, chiếu bùa, chiếu đốt, chiếu cạp điều, chiếu đậu, chiếu nhát, chiếu hoa, chiếu trơn, chiếu trắng, chiếu bông dâu

Từ ghép chỉ nghề dệt chiếu Bàn Thạch có các dạng ghép phân nghĩa phổ biến sau:

Danh từ + Danh từ

Con ngựa Khuôn đồng Bàn chiếu Chiếu đậu

Chiếu bùa Chiếu hoa Chiếu đốt

Chiếu nhát Chiếu cạp điều Chiếu bông dâu

Danh từ + Động từ

Phẩm nhuộm Dây néo Lò hấp Nồi hấp

Chiếu cải Chiếu trổ Khung dệt Con quay

Danh từ + Tính từ

Chiếu trơn Chiếu kép Chiếu trắng Chiếu đơn

Ngày đăng: 09/05/2022, 00:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ở bình diện hình thái cấu trúc, cơ chế của ngữ định danh tương tự như từ  ghép  chính  phụ  theo  quan  điểm  của  Nguyễn  Hữu  Châu,  nghĩa  là  chúng  được cấu tạo từ hai hoặc hơn hai từ tố/hình tiết “có quan hệ chính phụ - ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH – DUY XUYÊN – QUẢNG NAM  10600999-mo-dau.htm
b ình diện hình thái cấu trúc, cơ chế của ngữ định danh tương tự như từ ghép chính phụ theo quan điểm của Nguyễn Hữu Châu, nghĩa là chúng được cấu tạo từ hai hoặc hơn hai từ tố/hình tiết “có quan hệ chính phụ (Trang 27)
Giăng sân Bôi dầu Chép hình - ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH – DUY XUYÊN – QUẢNG NAM  10600999-mo-dau.htm
i ăng sân Bôi dầu Chép hình (Trang 29)
chép hình - ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH – DUY XUYÊN – QUẢNG NAM  10600999-mo-dau.htm
ch ép hình (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w