1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG NGỮ THỂ HIỆN TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH 10600929

55 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Phương Ngữ Thể Hiện Trong Thành Ngữ, Tục Ngữ Nghệ Tĩnh
Tác giả Trần Thị Hương
Người hướng dẫn PGS. TS Lê Đức Luận
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 686,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên điểm khác của người Nghệ chính là dùng ngôn ngữ của địa phương mình phương ngữ để sáng tác những câu thành ngữ, tục ngữ đó.. Nghiên cứu đề tài “Đặc điểm phương ngữ thể hiện tro

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Đà Nẵng, tháng 5/ 2015

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng:

Công trình này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Đức Luận

Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015

Ký tên

Trần Thị Hương

Trang 4

Lời cảm ơn

Xin trân trọng cảm ơn:

PGS.TS Lê Đức Luận đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các cán bộ thư viện trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục khóa luận 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4

1.1 Đôi nét về vùng đất và con người Nghệ Tĩnh 4

1.1.1 Lịch sử vùng đất Nghệ Tĩnh 4

1.1.2 Diện mạo Nghệ Tĩnh qua một số bình diện văn hóa 6

1.1.3 Đặc điểm về con người Nghệ Tĩnh 8

1.2 Khái quát về thành ngữ, tục ngữ 11

1.2.1 Khái niệm thành ngữ, tục ngữ 11

1.2.2 Đặc điểm của thành ngữ, tục ngữ 12

1.2.3 Khái niệm phương ngữ và phương ngữ Nghệ Tĩnh 13

1.2.3.1 Khái niệm phương ngữ 13

1.2.3.2 Khái niệm phương ngữ Nghệ Tĩnh 14

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG NGỮ NGHỆ TĨNH TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ 16

2.1 Đặc điểm của phương ngữ Nghệ Tĩnh xét về mặt ngữ âm 16

2.1.1 Âm vị đoạn tính 16

2.1.1.1 Âm đầu 16

2.1.1.2 Âm chính 20

2.1.1.3 Âm cuối 24

Trang 6

2.1.2 Âm vị siêu đoạn tính 27

2.1.2.1 Thanh ngã thành thanh nặng 27

2.1.2.2 Thanh huyền thành thanh không 28

2.2 Đặc điểm của phương ngữ Nghệ Tĩnh xét về từ vựng 28

2.2.1 Từ đơn nghĩa 28

2.2.2 Từ đa nghĩa 30

CHƯƠNG 3 Ý NGHĨA BIỂU ĐẠT CỦA PHƯƠNG NGỮ NGHỆ TĨNH TRONG TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ 33

3.1 Biểu đạt về vùng đất và con người Nghệ Tĩnh 33

3.1.1 Vùng đất 33

3.1.2 Con người 34

3.2 Biểu đạt về cách nói năng, lối sống và phong tục tập quán 39

3.2.1 Biểu đạt về cách nói năng 39

3.2.2 Biểu đạt về lối sống và phong tục tập quán 39

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 7

ví, hát giặm, tiêu biểu như Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Trần Phú, Nguyễn Công Trứ

Vốn không được thiên nhiên ưu ái nhiều, người Nghệ Tĩnh bao đời chịu thương chịu khó, phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn nhưng tâm hồn con người vẫn luôn vui vẻ lạc quan Người Nghệ Tĩnh đã sáng tác ra những câu hát ví, hát giặm để giúp cho tâm hồn được thảnh thơi sau những giờ lao động vất vả hay để hát với nhau trong những ngày hội Người dân xứ Nghệ còn biết khắc phục hoàn cảnh bằng cách sáng tạo ra thành ngữ, tục ngữ nhằm ghi lại những kinh nghiệm quý báu để lưu giữ cho đời sau Thành ngữ, tục ngữ đối với kho tàng văn học dân gian Việt Nam dường như đã quá thân thuộc Tuy nhiên điểm khác của người Nghệ chính là dùng ngôn ngữ của địa phương mình (phương ngữ) để sáng tác những câu thành ngữ, tục ngữ đó Điều này đã làm cho những câu thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh có những nét rất riêng, rất độc đáo mà hiếm khi có thể nhầm lẫn với bất cứ vùng phương ngữ nào khác

Nghiên cứu đề tài “Đặc điểm phương ngữ thể hiện trong thành ngữ, tục

ngữ Nghệ Tĩnh” cũng chính là nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ trên bình diện

ngôn ngữ để hiểu rõ hơn về ngôn ngữ của con người nơi đây Bên cạnh đó,

Trang 8

với lòng yêu quê hương, yêu mảnh đất xứ Nghệ tha thiết, nghiên cứu đề tài này cũng là một cách để người nghiên cứu thể hiện tấm lòng ấy, đóng góp một chút công sức nhỏ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa Nghệ Tĩnh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu “ Đặc điểm phương ngữ thể hiện trong thành ngữ, tục ngữ

Nghệ Tĩnh”, chính là nghiên cứu nét riêng, nét độc đáo trong ngôn ngữ của

người dân nơi đây Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về phương ngữ trung cũng như nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ nhưng vẫn chưa có ai thật

sự nghiên cứu một cách cụ thể, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau:

Nguyễn Nhã Bản trong cuốn “Bản sắc văn hóa của người Nghệ

Tĩnh”(2001) đã đánh giá phương ngữ trong sự phát triển của tiếng Việt Cũng

trong cuốn sách này, Nguyễn Nhã Bản đã nêu rõ đặc trưng văn hóa của người Nghệ qua giọng Nghệ cũng như sự khác biệt trong cách phát âm của từng vùng đất ở Nghệ Tĩnh

Nguyễn Nhã Bản trong “Từ điển phương ngữ Nghệ - Tĩnh”(2005) đã

thống kê tương đối đầy đủ các từ địa phương ở Nghệ Tĩnh, đa số các từ đều được tác giả lấy ví dụ minh họa rất cụ thể để giúp người đọc có thể hiểu một cách cặn kẽ

Hoàng Thị Châu trong cuốn “Phương ngữ học tiếng Việt”(2004) đi vào

phân chia tiếng Việt thành ba vùng là phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam và nghiên cứu đặc điểm của ba vùng phương ngữ ấy trên các mặt như cấu trúc âm tiết, âm đệm, hệ thống phụ âm đầu và các biến thể, vần, các khuynh hướng chính của sự chuyển hóa nguyên âm và phụ âm cuối Bên cạnh đó, tác giả còn nêu ra “một vài con số thống kê” những từ địa phương được sử dụng trong một số tác phẩm văn học trước và sau Cách mạng

Trang 9

tháng Tám Từ đó kết luận rằng phương ngữ, thổ ngữ là tấm gương phản ánh quá trình phát triển của dân tộc

Đặng Thanh Hòa trong cuốn “Từ điển phương ngữ tiếng Việt”(2005)

đã thống kê khá nhiều “từ ngữ có tính chất địa phương thường gặp của ba

vùng Bắc, Trung, Nam”, cung cấp cho người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về

các phương diện của tiếng Việt, tạo cơ sở tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về phương ngữ Tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là: Từ địa phương trong thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu “Từ địa phương trong thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh” được

khảo sát trong cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh (2002), Nxb Nghệ

An, Vinh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau: Phương pháp thống kê, phân loại

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Đôi nét về vùng đất và con người Nghệ Tĩnh

1.1.1 Lịch sử vùng đất Nghệ Tĩnh

Nghệ Tĩnh là vùng đất có từ lịch sử lâu đời, bắt đầu từ thời Hùng Vương dựng nước đã là 2 trong 15 bộ của nước Văn Lang, có tên là Bộ Hoài Hoan và bộ Cửu Đức Đến thời Thục An Dương Vương, nước Âu Lạc kéo dài

về phía Nam đến dãy Hoành Sơn (đèo Ngang) Vào năm 179 trước công nguyên, Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc và chia thành hai quận là Cửu Chân và Giao Chỉ, trong đó quận Giao Chỉ bao gồm các tỉnh phía Bắc nước ta ngày nay và quận Cửu Chân bao gồm vùng đất Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh Đến năm

111 trước công nguyên, Hán Vũ Đế sai quân đánh Nam Việt và chia Nam Việt thành chín quận, trong đó ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thuộc nước ta Quận Giao Chỉ gồm có mười huyện và quận Cửu Chân có bảy huyện, trong bảy huyện của Cửu Chân thì huyện Hàm Hoan là huyện lớn nhất, tương đương với vùng Nghệ Tĩnh Cuối thế kỷ II đến thế kỷ III, triều đình Đông Hán tan rã, Trung Quốc rơi vào tình cảnh hỗn chiến thời Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô) Nhà Ngô tách quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam lập thành Giao Châu, lấy Long Biên làm châu lị Năm 271 nhà Ngô lại tách hẳn bộ phận phía nam quận Cửu Chân, ngang với Hàm Hoan cũ, đặt thành quận Cửu Đức, quận Cửu Đức bao gồm đất đai khắp Nghệ Tĩnh ngày nay Năm 280, nhà Tấn cho mở rộng quận Cửu Đức, đổi huyện Dương Thành làm Dương Toại, cắt một phần đất huyện Dương Toại lập thành huyện Phố Dương, đặt thêm huyện Nam Lăng và Đô Giao tương đương với vùng Nghi

Trang 11

Xuân, Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà Đến 470, nhà Tống tách Hợp Phố sát nhập vào nội địa Trung Quốc, vùng Nghệ Tĩnh vẫn mang tên Cửu Đức, song thay đổi một số huyện trong quận Nhà Tống đặt thêm huyện Tống Thái, Tống Xương, Hi Bình và gộp huyện Dương Toại vào với huyện Phố Dương Sau khi lên thay nhà Tống, nhà tề đã bỏ huyện Tống Thái, Tống Xương và Hi Bình Đến năm 523, nhà Lương chia Giao Châu cũ ra làm thành nhiều châu huyện mới, đổi Cửu Chân thành Ái Châu và Cửu Đức thành Đức Châu Năm

607, vua Tùy bỏ các châu cũ và đặt lại thành các châu quận Giao Châu chia

ra làm bảy quận, trong đó quận Nhật Nam gồm tám huyện thì Cửu Đức tương đương với Nghệ An, Kim Ninh, Năm Lãng, Phúc Lộc tương đương với Hà Tĩnh Đến năm 618, nhà Đường thay nhà Tùy tiếp tục đô hộ nước ta, các quận lại được đổi thành các châu như cũ Vào năm 622, nhà Đường đổi Giao Châu làm An Nam tổng quản lĩnh mười châu Nhật Nam được đổi tên thành Đức Châu, năm 627, đổi Đức Châu thành Hoan Châu Năm 679, nhà Đường đặt

An Nam đô hộ phủ gồm 12 châu, 59 huyện và 41 châu Vùng Nghệ Tĩnh lúc

đó gồm hai châu là Diễn Châu và Hoan Châu Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, đã mở ra trang sử mới cho đất nước ta, bắt đầu từ thời Tiền Lê, Lê Hoàn đã chia nước ta thành các lộ, phủ, châu Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ là Hoan Châu và Diễn Châu, sau đó Lê Hoàn lại cắt một phần đất của Hoan Châu lập ra châu Thạch Hà Đến đời nhà Lý, Nghệ An, Thanh Hóa được gọi là “trại” Năm 1010, nhà Lý chia nước ra thành các lộ thì Diễn Châu

và Hoan Châu là hai lộ Năm 1025, Lý Thái Tổ lập ra trại Định Phiên ở biên giới Châu Hoan, châu Thạch Hà được đổi sang làm huyện Năm 1036, Lý Thái Tông đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An, đến năm 1101, Lý Nhân Tông nâng châu Nghệ An thành phủ Nghệ An Năm 1225, nhà Trần tiếp quản việc trị vì đất nước của nhà Lý, năm 1231 nhà Trần đổi trại Định Phiên thành châu Nhật Nam, đến nửa sau thể kỷ XIV, nhà Trần lại đổi Nghệ An làm trấn,

Trang 12

năm 1375, trấn Nghệ An được thành ba lộ đó là Nghệ An bắc, Nghệ An trung

và Nghệ An nam và không lâu sau đó Nghệ An lại trở về là trấn Nghệ An Vào năm 1397, Nghệ An được đổi làm trấn Lâm An, phủ Diễn Châu thành trấn Vọng Giang, ít lâu sau Hồ Quý Ly đổi phủ Diễn Châu thành phủ Linh Nguyên Tháng 4 năm 1407 nhà Minh đổi nước làm quận Giao Chỉ, dưới quận có các phủ, châu, huyện Nước ta được chia làm 15 phủ và Nghệ Tĩnh có hai phủ là Diễn Châu và Nghệ An Năm 1417, quân Minh tách Quỳ Châu trong phủ Diễn Châu sát nhập vào phủ Thanh Hoa, phủ Diễn Châu còn lại hai huyện là Phù Lưu và Quỳnh Lâm Đến 1428, sau khi thống nhất đất nước, Lê Lợi chia nước ta ra làm 5 đạo là Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo, Hải Tây đạo, trong đó Nghệ An và Diễn Châu thuộc đạo Hải Tây Năm 1469, Lê Thánh Tông cho Châu Hoan và Châu Diễn hợp làm thừa tuyên Nghệ An gồm

9 phủ, 25 huyện, 2 châu Thời vua Minh Mệnh, chia cả nước lại thành 29 tỉnh, dưới các tỉnh là các phủ, huyện, châu, tổng và xã Năm Minh Mệnh thứ 12, nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa của Nghệ An lập thành tỉnh mới

là Hà Tĩnh Đến 1852, vua Tự Đức lại bỏ phủ Hà Tĩnh, đem Đức Thọ nhập vào Nghệ An và lấy phủ Hà Hoa làm thành đạo Hà Tĩnh gồm 3 huyện: Thạch

Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Năm 1875, vua Tự Đức lại lập lại tỉnh Hà Tĩnh Năm 1976, Nghệ An và Hà Tĩnh được gộp lại thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh Đến

1991, Nghệ An và Hà Tĩnh lại được tách ra và tồn tại cho đến ngày nay.[3, tr ]

Là vùng đất có lịch sử lâu đời và chứng kiến bao biến động của lịch sử,

xứ Nghệ vẫn hiên ngang, anh hùng và lưu giữ biết bao giá trị văn hóa, trong

đó có ngôn ngữ Sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền không làm mất đi bản sắc riêng mà trái lại còn tô đậm thêm cho ngôn ngữ nơi đây trở thành một nét riêng, nét độc đáo tồn tại đến ngày nay

1.1.2 Diện mạo Nghệ Tĩnh qua một số bình diện văn hóa

Trang 13

Nghệ Tĩnh là một trong những vùng đất còn lưu giữ được rất nhiều truyền thống văn hóa lâu đời Trải qua bao thăng trầm của lịch, bao thay đổi của đất nước nhưng người Nghệ vẫn lưu giữ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Mỗi năm ở vùng đất Nghệ Tĩnh có rất nhiều những lễ hội khác nhau như lễ hội chùa Hương Tích, lễ hội Chiêu Trưng ở Lộc Hà, Hà Tĩnh, lễ hội Cầu Ngư ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, hội đền Bà Hải, tại Kỳ Anh, …ở Nghệ An

có các lễ hội như lễ hội đền Nguyễn Xí, lễ hội đền Cuông, lễ hội làng Sen, lễ hội Mai Hắc Đế,…vv Lễ hội là dịp để người dân xứ Nghệ nói riêng và người dân cả nước nói chung bày tỏ lòng biết ơn, tưởng nhớ về công ơn của các vị anh hùng đã hi sinh vì đất nước hay là dịp để người dân cầu mưa gió thuận hòa cho việc làm ăn thuận lợi

Văn hóa Nghệ Tĩnh còn thể hiện ở những làn điệu dân ca như hát ví, hát dặm, lời ca ví dặm ngọt ngào sâu lắng thể hiện những nội dung rất phong phú trong tâm hồn người Nghệ, đó là sự tôn trọng, biết ơn đối với bậc sinh thành, là sự ca ngợi lòng chung thủy trong tình yêu, đó còn là cách ứng xử giữa con người với con người trong sinh hoạt đời thường Ví dặm là nét văn hóa trong những hội làng xưa được bảo tồn và phát triển đến ngày nay, là nét

tự hào của mỗi người dân xứ Nghệ

Nói đến văn hóa không thể không nhắc đến văn hóa ẩm thực của người Nghệ Tuy rằng nơi đây không có sự tỉ mỉ hay những món ăn đặc sắc như ở miền Bắc nhưng ẩm thực vẫn là một nét đáng chú ý Người xứ Nghệ vẫn quen

ăn những món giản dị như tương, nhút, dưa, cà,… Với riêng món nhút, người Nghệ có vô số thực phẩm có thể làm ra các loại như nhút hoa chuối, nhút măng tươi, nhút tổng hợp, nhút xơ mít, nhút rau muống,…mà mỗi loại đều có

vị ngon rất riêng, rất hấp dẫn

Trang 14

Tuy ngày thường rất giản dị nhưng những ngày lễ tết, người Nghệ luôn

có thói quen bày biện mâm cao cỗ đầy và trong bữa ăn ngày tết ấm áp đó không thể thiếu đi món dưa hành, dưa hành ngoài khiến cho bữa ăn ngày tết không bị ngán thì đó còn như lời nhắc nhở người dân Nghệ Tĩnh không được quên đi những lúc đắng cay, vất vả, quên đi những nhọc nhằn để biết quý trọng niềm vui hiện tại

Nơi đây còn nổi tiếng với đặc sản kẹo cu đơ Kẹo cu đơ là sự hòa trộn của đường và lạc (đậu phộng) tạo nên hương vị rất riêng, đặc biệt khi mùa đông về ngồi nhâm nhi kẹo cu đơ với chén chè xanh thơm phức:

“Chè xanh thêm chút gừng cay

Cu đơ Hà Tĩnh làm say lòng người”

Dư vị mà ẩm thực xứ Nghệ để lại cho cho ai đã từng thử qua vị đặm đà của tương, của cà, vị ngọt của kẹo Cu đơ ắt hắn sẽ lưu luyến mãi không quên

1.1.3 Đặc điểm về con người Nghệ Tĩnh

Vốn không được thiên nhiêu ưu ái, khí hậu hai mùa lại có sự khác biệt

vô cùng rõ rệt khi mùa hè rất nóng và mùa đông rất lạnh và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đặc điểm con người xứ Nghệ Người dân xứ nghệ nổi lên với một số đặc điểm như sau:

Đặc điểm đầu tiên của người dân xứ Nghệ đó chính là sự cần cù, chịu khó Quanh năm phải đối mặt với sự khắc nghiệt của khí hậu, nắng nhiều, mưa nhiều và bão cũng nhiều khiến cuộc sống của người dân nơi đây vô cùng khó khăn Tuy nhiên sự khắc nghiệt của khí hậu lại càng rèn luyện thêm ý chí kiên cường cho họ Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn vượt lên và đặc biệt hơn đó chính là tinh thần lạc quan, yêu đời Sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã khiến cho người dân xứ Nghệ biết chắt chiu từng hạt gạo, biết quý trọng từng hạt mồ hôi, sự cần kiệm đã trở thành đức tính của mỗi con người nơi đây Những người không hiểu sẽ nghĩ rằng người Nghệ bủn xỉn, keo kiệt, tằn tiện

Trang 15

đến mức “cá gỗ”, tuy nhiên phải sống ở đất Nghệ mới biết, mới cảm nhận được hết bao đắng cay, chua xót mà người Nghệ trải qua từng ngày

Nói đến con người xứ Nghệ, chúng ta không thể không nhớ đến nơi đây chính là cái nôi sinh ra bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc:

Non nước châu Hoan đẹp tuyệt vời Sinh ra trung nghĩa biết bao người Thơ vịnh gươm rồng đầy khí tiết

Sở truyền bảng hổ lắm anh tài…

(Nguyễn Xuân Ôn)

Đó là chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại đem lại độc lập tự do cho dân tộc, đó là cụ Phan Bội Châu với tấm lòng yêu nước thương nòi, luôn tìm cách đưa dân ta thoát khỏi xiềng xích Đó là tổng bí thư Trần Phú, người bí thư tài giỏi, sáng suốt hay anh hùng trẻ tuổi Lý Tự Trọng, đã chiến đấu hết mình vì độc lập dân tộc,…Mỗi chặng đường dân tộc đi qua đều gắn với những tên tuổi và cả những chiến sĩ không biết tên của người xứ Nghệ, họ đã chiến đấu cùng đội, đã hi sinh thân mình cho cuộc sống chúng ta ngày hôm nay Đó chính là đức tính kiên cường bất khuất của người dân Nghệ Tĩnh Sự kiên cường bất khuất không chỉ được thể hiện trong thời kì chiến tranh:

Cảnh sông Lam trên bến dưới đò

Thuyền bè qua lại tiếng hò rền vang

Thằng tây đưa lính về làng

Ta rệt một trận chạy sang cầu Trù

(Ca dao Nghệ Tĩnh) Hay:

Chặt tay năm ngón mà chưa Chớ trêu quân Nghệ Tĩnh hắn muối dưa đi giừ

(Ca dao Nghệ Tĩnh)

Trang 16

Ngay cả trong cuộc sống hòa bình hôm nay đức tính ấy vẫn tồn tại trong mỗi con người Nghệ Sống trong vùng có khí hậu khắc nghiệt, không chỉ cần có sự cần cù chịu khó mà còn phải có sự kiên cường Mỗi năm không biết bao nhiêu cơn bão đia qua, gây thiệt hại rất nhiều cho người dân Nghệ Tĩnh, khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng không vì thế mà nản lòng, người Nghệ vẫn ngày ngày cần cù làm việc và ngày hôm nay chúng ta đã có thể chứng kiến xứ Nghệ đang thay đổi từng ngày, đang dần cởi đi chiếc áo tơi rách nát để thay vào đó một diện mạo mới, khang trang hơn, tươi đẹp hơn bởi

họ kiên cường bất khuất, họ đón nhận sự khắc nghiệt của tự nhiên và tìm cách khắc phục nó, họ biết tìm ra những loại cây trồng, những biện pháp canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên Sự kiên cường bất khuất, cần cù chịu khó đã dần đem đến những quả ngọt cho người xứ Nghệ

Xứ Nghệ còn là vùng đất với truyền thống hiếu học, ca dao dân gian đã từng ghi lại rằng:

“Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời”

“Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan”

(Ca dao xứ Nghệ) Hiểu được những khó khăn, vất vả của quê hương, con em xứ Nghệ luôn ý thức được sự quan trọng của việc học, cố gắng phấn đấu vươn lên bằng con đường khoa bảng:

“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà”

“Con ơi mẹ dạy câu này Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm Làm người đói sạch rách thơm

Trang 17

Công danh là nợ nước non phải đền”

(ca dao Nghệ Tĩnh)

Ở thời đại nào chúng ta cũng thấy được xứ Nghệ luôn đóng góp cho đất nước những anh tài, những người con ưu tú Truyền thống hiếu học đó dường như đã ăn sâu vào máu thịt và được truyền lại qua từng thế hệ cho đến ngày hôm nay

Bên cạnh những đức tính tốt đẹp ấy, người xứ Nghệ vẫn còn tính xấu như gia trưởng, tiết kiệm đến mức keo kiệt, bủn xỉn Tuy nhiên, đó chỉ là ở một số người, chúng ta phải cùng ăn, cùng ở, cùng giao lưu với người Nghệ thì mới hiểu hết được con người họ, từ đó có cái nhìn chính xác nhất về con người nơi đây

1.2 Khái quát về thành ngữ, tục ngữ

1.2.1 Khái niệm thành ngữ, tục ngữ

Về khái niệm thành ngữ, tục ngữ có nhiều ý kiến khác nhau Theo cuốn

“Từ điển Tiếng Việt”, do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng (2010) thì thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà ý nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên, ví dụ: Đứng mũi chịu sào, Mẹ tròn con vuông,…vv [16, tr 1118] Còn tục ngữ là những câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân, ví dụ: Uống nước nhớ nguồn; Ác tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa,…vv [16, tr 1361]

Trong cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin (2010), tác giả Nguyễn Lân cho rằng thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm, ví dụ: ba vuông bảy tròn; nằm sương gối đất,…vv Còn tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, hoặc một lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về

Trang 18

nhận thức tự nhiên hay xã hội Ví dụ: Đồng tiền liền khúc ruột; Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay; Ở hiền gặp lành,…vv.[12, tr 6]

Thành ngữ và tục ngữ đều là những câu nói ngắn gọn, cô đọng, súc tích

mà nhân dân ta đã đúc kết từ những kinh nghiệm trong ứng xử, trong lối sống

và trong lao động sản xuất

Như vậy “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc Ví dụ: Vui như mở cờ trong bụng; đen như cột nhà cháy; Đẹp như tiên; Xấu như ma lem; Vắng ngắt như chùa Bà Đanh,…” [11, tr 297] Còn tục ngữ

là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền, ví dụ: Tre già măng mọc; Nói ngọt lọt tận xương; Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ; Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng,…”[11,

tr 377]

1.2.2 Đặc điểm của thành ngữ, tục ngữ

Về hình thức, thành ngữ chỉ là một cụm từ hay ngữ cố định Còn tục ngữ chủ yếu được làm theo hình thức ngắn gọn có vần hoặc không vần (đa số

là loại câu từ 4 đến 10 tiếng) nhưng cũng có những câu dài gồm 2 hoặc 3 vế (từ 20 tiếng trở lên, có khi lên tới 20 tiếng) Tục ngữ dù ngắn hay dài thì mỗi đơn vị tục ngữ cũng đều được gọi là câu chứ không gọi là bài

Về nội dung, thành ngữ không diễn đạt được một ý nghĩa trọn vẹn, chỉ

nhằm nhấn mạnh ý nghĩa mà thôi Ví dụ: “ba chìm bảy nổi” được nhấn mạnh

có nghĩa là vất vả, bấp bênh, tương đương với từ “lận đận” “ Đẹp như tiên” được nhấn mạnh có nghĩa rất đẹp Còn tục ngữ, nội dung của mỗi câu tục ngữ đều diễn đạt trọn vẹn một ý, một kinh nghiệm, một tri thức,…nhằm giáo dục,

Trang 19

khuyên răn, truyền đạt kinh nghiệm cho con người trong các lĩnh vực như giao tiếp, ứng xử, chăn nuôi,…Ví dụ:

“Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

Về ngữ pháp, thành ngữ tương đương với một từ trong câu, nhưng là từ

đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động và có nghệ thuật Còn tục ngữ là một câu ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, có hình ảnh,

dễ truyền đạt, mỗi câu tục ngữ là một mệnh đề hoàn chỉnh Bởi vậy có thể coi tục ngữ là tác phẩm văn học, là một thể loại của văn học dân gian giống như các thể loại khác

1.2.3 Khái niệm phương ngữ và phương ngữ Nghệ Tĩnh

1.2.3.1 Khái niệm phương ngữ

Phương ngữ không chỉ có nhiều cách gọi khác nhau như tiếng địa phương, phương ngôn mà đến khái niệm của nó cũng là một vấn đề rất phức

tạp Đã có rất nhiều khái niệm của các tác giả khác nhau Theo “Từ điển

Tiếng Việt” của Nhà xuất bản Đà Nẵng thì phương ngữ là “biến thể của một

ngôn ngữ được sử dụng theo địa phương hoặc theo tầng lớp xã hội” Trong cuốn “Từ điển tiếng địa phương Nghệ-Tĩnh”, Nguyễn Nhã Bản cũng đưa ra khái niệm về phương ngữ như sau: “Từ địa phương là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa” Nói đến phương ngữ chính là nói đến từ ngữ mà một địa phương cụ thể sử dụng, ngôn ngữ đó tuy biểu đạt ý nghĩa giống với từ ngữ toàn dân nhưng về ngữ âm lại có cách đọc hoàn toàn khác Phương ngữ của mỗi vùng lại có những nét khác biệt, có những nét đặc sắc riêng không thể nhầm lẫn

Trang 20

Như vậy “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [6, tr 29]

1.2.3.2 Khái niệm phương ngữ Nghệ Tĩnh

Tiếng Việt của chúng ta được chia thành ba vùng phương ngữ lớn: Phương ngữ Bắc (gồm các tỉnh ở Bắc Bộ), phương ngữ Trung (bao gồm các tỉnh Bắc Trung Bộ, từ Thanh hóa đến đèo Hải Vân) và phương ngữ Nam (từ đèo Hải Vân đến miền cực nam của đất nước)[6, tr 88] Sự phân chia thành

ba vùng như trên là phù hợp với ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu và quan niệm của dân gian Nếu như phương ngữ Bắc là phương ngữ cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học, phương ngữ Nam là phương ngữ mới được dần hình thành trong vòng năm thế kỷ gần đây thì phương ngữ Trung lại là nơi bảo lưu nhiều yếu tố cổ của Tiếng Việt, nơi có nhiều yếu tố cổ để có thể tìm hiểu kỹ hơn về Tiếng Việt Nghệ Tĩnh nằm trong khu vực Phương ngữ Trung

Phương ngữ Nghệ Tĩnh là từ địa phương được sử dụng trong địa bàn Nghệ Tĩnh có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa

Tiểu kết:

Tiếng Việt có nhiều vùng phương ngữ Có nhiều quan điểm khác nhau

về việc phân chia các vùng phương ngữ nhưng quan điểm chia thành ba vùng phương ngữ là tương đối thống nhất Trong phương ngữ Trung lại có thể chia thành hai vùng, phương ngữ Nghệ Tĩnh nằm vùng phương ngữ Bắc miền Trung Phương ngữ Nghệ Tĩnh vừa mang những đặc trưng của phương ngữ Bắc miền Trung lại mang những nét đặc sắc riêng của vùng đất Nghệ Tĩnh Phương ngữ được đưa vào thành ngữ, tục ngữ lại làm cho thành ngữ, tục ngữ

xứ Nghệ có sự khác biệt mang sắc thái, đặc trưng cho vùng đất Nghệ Tĩnh nhưng cũng có những đặc điểm chung với thành ngữ, tục ngữ Việt

Trang 22

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG NGỮ NGHỆ TĨNH

Phụ âm tiền ngạc ở vùng Nghệ Tĩnh không có những phụ âm như C, Z,

S như phụ âm tiền ngạc Bắc Bộ mà có thêm cấu âm quặt lưỡi, có nghĩa là lưỡi uốn cong về phía dưới của đầu lưỡi tiếp xúc hoặc gần chạm ngạc: t, s, z Sự khác biệt với phụ âm tiền ngạc Bắc Bộ thể hiện ở chổ Z có giá trị chính tả được ghi bằng gi, còn z có giá trị chính tả ghi bằng r, ví dụ: trong trắng [tongm

tắng], rì rào [zì zàw] [6, tr 137, 138]

Bên cạnh đó, phương ngữ Nghệ Tĩnh còn có phụ âm bật hơi [ph] [kh],

ví dụ: phá phách [phá phéch], khó khăn [khó: khăn] Thanh niên có khuynh hướng phát âm thành phụ âm xát: [f] [x] hay tắc xát [pf], [kx].[6, tr 138]

Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, những phụ âm đứng đầu những từ như

da dẻ và gia đình đều được phát âm là [z].[6, tr 139]

Đối chiếu hệ thống phụ âm đầu của phương ngữ Nghệ Tĩnh và ngôn ngữ toàn dân, chúng tôi thấy được hệ thống phụ âm đầu của phương ngữ Nghệ Tĩnh có rất nhiều biến thể, cụ thể như sau:

a Biến đổi phụ âm đầu

-|l| - /ʈ/: lông – trồng:

Kê chớ lông tra (già)

Trang 23

Cà chớ lông non

-|ʈ| - /z/: tra – già, trùn – giun, trửa – giữa:

- Bày chó tra liếm cối

- Tra hột đúc mau moọc (mọc)

- Tra ngài (người) mà không tra dại

- Tra ngay dày kén

- Tra rồi còn đeo hoa trập trội

- Béo như trùn đụa

- Ngồi chóc bóc như cóc ngậm trùn

- Muốn ăn hoét phải đào trùn

- Như cá trửa vời

- Ruộng đồng, chồng trửa làng

- Trửa mắt mà bắt không ra

- Lấy chồng trửa làng bằng vàng treo trửa ngọ

-|ʈ| - |c|: trự – chữ, trậm – chậm, tra – cha, chày – trày, truồng – chuồng,

triều – chiều, trùa – chùa:

- Cậu bụng trự không bằng mự bụng lòng

- Trự được trự mất

- Một rương vàng không bằng một nang trự

- Bệnh gấp lành mau, đau lâu trậm khỏi

- Con gấy (gái) mà lấy tra dòng

Như nước mắm cốt chấm lòng lợn siu (thiu)

- Dân chợ Cày, vắt cổ trày lấy nác (nước)

Trang 24

-|c| - |ɲ|: chánh – nhánh:

Đui đầu chánh nè, què đầu lẻ (que) củi

-|ʈ |- |ʐ |: trấn – rận, troi – ròi:

- Béo như trấn mấn (váy)

- Phéc (vạch) rọt (ruột) cho troi ruông

-|ʈ |- |ş|: trọ – sọ , tráo – sáo, tràng – sàng:

- Đém trọ lọ đuôi, không ai nuôi cũng nậy

- Nói như tráo sành

- Ăn gấu nhớ kẻ đâm xay dần tràng

- Khăm đụa không bổ (ngã)

- Trời thấp phải đi còm

Trang 25

Đi ngúc trôốc ngúc tai -|c| - |v|: chùng – vụng:

Đói ăn chùng, cùng ăn trộm

- Ai lanh tay thì tày đụa (đũa)

- Đời cha ăn lạt, đời con biếu cổ

-|k| - |γ|: cọng – gọng :

Anh xanh cọng, nóng nác (nước), khái (hổ) vác anh vô lòi

(lùm cây)

-|ɲ| - |c|: nhởi – chơi:

- Ăn có nơi, nhởi có chốn

- Ngày ba bựa (bữa) ăn khoai

Tối theo trai đi nhởi

- Quảy trù đến nhởi

b Cùng âm vị phụ âm đầu, khác âm tố:

- /ɣ/: g/gh:

- Bán chị em ngái (xa) mua láng giềng ghin

- Ghin tre che một phía

- Ngái (xa) thì thương, ghin thì thường

Trang 26

2.1.1.2 Âm chính

Hệ thống nguyên âm trong phương ngữ Nghệ Tĩnh cũng đã có nhiều biến đổi so với từ ngữ toàn dân, một số nguyên âm trong ngôn ngữ toàn dân khi sang phương ngữ Nghệ Tĩnh có xu hướng mở dần hoặc khép dần, cụ thể như sau:

a Nguyên âm đôi biến thành nguyên âm đơn:

- /ε/-/iê/: méng/ miếng, mẹng/ miệng:

- Ăn ba méng, uống ba chén, sôống ở với làng, chết ra cồn Chủi

- Đồng tiền như méng chín

- Lớ ngớ vớ đước méng ngon

- Ăn của trùa ngoọng mẹng

-/a/-/ɯɤ/: lả/ lửa, nác/ nước, mạn/ mượn, náng/ nướng, đàng/ đường, ngài/ người, nhạ/ nhựa, ná/ nứa:

- Làm quan có mả, thổi lả có nòi

- Canh tập tàng, cơm rang, cá náng

- Áo rách vai đứng đàng mô (đâu) cụng (cũng) chộ (thấy)

Trang 27

- Cày lặp lắm ló, nói lặp khó nghe

- Cá đơm đó ló đi cày

- Cấy dày đầy ló

- Da đen khu (mông, đít) đỏ lắm ló lắm tiền

Ngày đăng: 09/05/2022, 00:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên)(1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hoá Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1999
2. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên)(2005), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
3. Nguyễn Nhã Bản (2001) Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
4. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt (In lần thứ 3), Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1996
5. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
6. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học Tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
7. Việt Chương (2003), Từ điển thành ngữ, tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2003
8. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
9. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học Tiếng Việt, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
10. Đặng Thanh Hòa (2005), Từ điển phương ngữ Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phương ngữ Tiếng Việt
Tác giả: Đặng Thanh Hòa
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2001), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
12. Nguyễn Lân (2010), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2010
13. Lê Đức Luận ( 2005), Bài giảng Văn học dân gian (lưu hành nội bộ), Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Văn học dân gian
14. Lê Đức Luận ( 2009), Bài giảng Thi pháp văn học dân gian (lưu hành nội bộ), Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Thi pháp văn học dân gian
15. Lê Đức Luận (2012), Điểm nhìn nghiên cứu văn học ( Tái bản), Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm nhìn nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2012
16. Hoàng Phê (2010), Từ điển Tiếng Việt (tái bản), Nxb Đà Nẵng, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2010
17. Hoàng Thị Thân (2005), Bài giảng ngữ âm Tiếng Việt (lưu hành nội bộ), Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng ngữ âm Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Thân
Năm: 2005
18. Nguyễn Thị Trúc (2007), Bài giảng dẫn luận ngôn ngữ học (lưu hành nội bộ), Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thị Trúc
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w