1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III) 10600852

142 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Liên Kết Văn Bản Hành Chính (Khảo Sát Các Văn Bản Hành Chính Nhà Nước Lưu Hành Tại Học Viện Chính Trị Khu Vực III)
Tác giả Trương Phương Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Đức Luận
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 4,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III, trước hết tác giả luận văn muốn làm rõ hơn về đặc điểm liên kết của văn bản hành chính, đó là nghiên cứu về tính chất kết hợp, gắn bó r

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRƯƠNG PHƯƠNG THẢO

ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành

tại Học viện Chính trị khu vực III)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRƯƠNG PHƯƠNG THẢO

ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành

tại Học viện Chính trị khu vực III)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ ĐỨC LUẬN

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Đức Luận, giảng viên Khoa Ngữ Văn-Trường Đại học

Sư Phạm Đà Nẵng

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Tác giả luận văn

Trương Phương Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Đức Luận, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài Đồng thời thầy đã luôn khuyến khích, định hướng cho tôi phương pháp nghiên cứu khoa học

Và để hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng cảm ơn các quý thầy, cô trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã cung cấp những kiến thức nền tảng để tôi nghiên cứu được đề tài và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô đã dành thời gian quý báu của mình để đọc và góp ý cho đề tài của tôi và cho tôi những kinh nghiệm quý báu

Đà Nẵng, ngày 17 tháng 7 năm 2017

Trương Phương Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của luận văn 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN BẢN VÀ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 6

1.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN 6

1.1.1 Khái niệm văn bản 6

1.1.2 Đặc trưng văn bản 7

1.1.3 Các loại văn bản 10

1.2 HỆ THỐNG LIÊN KẾT VĂN BẢN 12

1.2.1 Khái niệm liên kết và vai trò liên kết văn bản 12

1.2.2 Các mặt liên kết văn bản 13

1.2.3 Các cấp độ liên kết văn bản 17

1.2.4 Các quan hệ liên kết 17

1.2.5 Các phần kết cấu văn bản 18

1.3 ĐẶC ĐIỂM VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 19

1.3.1 Khái niệm văn bản hành chính 19

1.3.2 Phân loại văn bản hành chính 20

1.3.3 Đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính 24

1.3.4 Học viện Chính trị khu vực III và các loại văn bản hành chínhlưu hành tại cơ sở 27

1.4 TIỂU KẾT 29

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 30

Trang 6

2.1 PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT NỘI DUNG 30

2.1.1 Liên kết chủ đề 30

2.1.2 Liên kết lôgic 35

2.2 PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT HÌNH THỨC 37

2.2.1 Phép lặp 38

2.2.2 Phép thế 46

2.2.3 Phép nối 47

2.2.4 Phép nghịch đối 58

2.2.5 Phép tỉnh lược 59

2.2.6 Phép liên tưởng 60

2.3 TIỂU KẾT 62

CHƯƠNG 3 CÁC CẤP ĐỘ LIÊN KẾT VÀ KẾT CẤUVĂN BẢN HÀNH CHÍNH 63

3.1 CÁC CẤP ĐỘ LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 63

3.1.1 Liên kết liên câu và liên kết liên đoạn 63

3.1.2 Liên kết tổng thể 74

3.2 KẾT CẤU VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 80

3.2.1 Các phần kết cấu văn bản 80

3.2.2 Các kiểu kết cấu nội dung văn bản 81

3.3 TIỂU KẾT 85

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

1.1 Phân tích các thể loại văn bản hành chính 28

2.1 Thống kê phương thức liên kết chủ đề xuất hiện trong văn

2.6 Tỷ lệ xuất hiện của phép nối qua các kiểu quan hệ thường

gặp giữa các câu liên kết với nhau 54 2.7 Các từ ngữ nối được sử dụng trong các văn bản hành chính 54

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn bản hành chính có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan nhà nước, là phương tiện kiểm tra theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản

lý Mặt khác, văn bản hành chính thường là tiếng nói của tổ chức, đơn vị đại diện cho quyền lực nhà nước nên càng ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội.Văn bản hành chính là công cụ chủ yếu của công tác quản lý hành chính và điều hành mọi hoạt động xã hội Do vậy, văn bản hành chính ngày càng trở nên quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu thông tin và quản lý

Văn bản hành chính có chức năng xã hội, được điều hành bằng luật pháp, văn bản hành chính quy định, ràng buộc mối quan hệ giữa các tổ chức nhà nước với nhau, giữa các cá nhân với nhau trong khuôn khổ hiến pháp và các bộ luật, văn bản dưới luật từ Trung ương đến địa phương Để đáp ứng thiết thực cho việc soạn thảo, ban hành, lưu trữ các văn bản hành chính, Chính phủ đã ban hành những quy định, hướng dẫn về thể chế, quy phạm của các thể loại văn bản Hơn nữa, nhiều tác giả đã cho xuất bản các công trình nghiên cứu của mình về tổ chức xây dựng văn bản, về ngôn ngữ văn bản hành chính, về liên kết văn bản… Dù vậy, nhiều văn bản hành chính hiện hành vẫn còn nhiều sai sót, đặc biệt là sai sót về liên kết bao gồm các quy phạm về thể loại văn bản, về cấp độ câu lẫn cấp độ tổ chức văn bản

Học viện Chính trị khu vực III là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện và sở, ban ngành trên địa bàn miền Trung và Tây Nguyên Do vậy, Học viện đã ban hành nhiều thể loại văn bản hành chính thông thường Tuy nhiên, trong thời gian qua, chưa có một công trình nào nghiên cứu về đặc điểm liên kết văn bản hành chính tại Học viện Vì vậy, nghiên cứu về đặc điểm liên kết văn bản hành chính thông qua việc khảo sát các văn bản hành

Trang 9

chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III, trước hết tác giả luận văn muốn làm rõ hơn về đặc điểm liên kết của văn bản hành chính, đó là nghiên cứu về tính chất kết hợp, gắn bó ràng buộc qua lại giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản; sự kết hợp, gắn bó giữa các câu trong đoạn, giữa các đoạn, các phần, các chương, các điều với nhau, xét về mặt nội dung cũng như hình thức biểu đạt; nghiên cứu các phương thức liên kết văn bản hành chính; nghiên cứu các cấp độ liên kết và kết cấu văn bản hành chính

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nhằm phục vụ cho việc hệ thống hóa thể thức, kết cấu, nội dung của các loại văn bản hành chính cơ bản, thông dụng hiện nay để có cái nhìn tổng thể, đầy đủ hơn về văn bản hành chính nói chung và văn bản hành chính lưuhành tại Học viện Chính trị khu vực III nói riêng

Qua khảo sát, phân tích, đánh giá, luận văn sẽ rút ra những nhận xét về đặc điểm liên kết văn bản hành chính qua việc khảo sát các văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III để từ đó khắc phục những lỗi thường gặp, góp phần chuẩn hóa các văn bản hành chính, phục vụ tốt hơn nữa công tác hành chính, công tác quản lý của Học viện

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu về các đặc trưng của văn bản và văn bản hành chính;

- Các phương thức liên kết văn bản hành chính;

- Các cấp độ liên kết và kết cấu của văn bản hành chính

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III

từ năm 2011 đến năm 2016

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đặc điểm liên kết văn bản hành chính (khảo sát các văn bản hành chính nhà

nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III) từ năm 2011 đến năm 2016

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, trước tiên chúng tôi tìm hiểu cơ sở lý thuyết: khái niệm về văn bản, văn bản hành chính, đặc trưng của phong cách ngôn ngữ hành chính, các loại văn bản hành chính, đồng thời nắm vững lý thuyết về ngữ pháp văn bản và tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết của từng thể loại văn bản hành chính

Ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp miêu tả, phân tích để miêu tả các đặc trưng của văn bản hành chính và văn bản hành chính nhà nước, phân tích các phương thức liên kết văn bản hành chính bao gồm phương thức liên kết nội dung và phương thức liên kết hình thức Phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ các cấp độ liên kết và kết cấu văn bản hành chính, cách sử dụng câu, từ ngữ, từ khóa trong văn bản hành chính

- Phương pháp thống kê, phân loại để thống kê các loại văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III

- Phương pháp tổng hợp, khái quát để khái quát hóa các đặc điểm cơ bản của văn bản hành chính và đặc điểm liên kết văn bản hành chính từ đó phát hiện những lỗi thường gặp trong công tác soạn thảo văn bản hành chính

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm

03 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về văn bản và văn bản hành chính

Chương 2: Các phương thức liên kết văn bản hành chính

Chương 3: Các cấp độ liên kết và kết cấu văn bản hành chính

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Cùng với sự phát triển của đất nước, công tác hành chính nói chung, công tác soạn thảo văn bản hành chính nói riêng là một trong những yêu cầu cần thiết đáp ứng cho công tác quản lý, lãnh đạo của các cấp, các ngành Trong những năm gần đây, Nhà nước đã thực hiện chính sách cải cách hành chính, trong đó cải cách về văn bản hành chính cũng là vấn đề được đặc biệt chú ý Theo đó, đã có nhiều

Trang 11

sách,báo, tài liệu về văn bản và soạn thảo văn bản hành chính ra đời, đồng thời, đã

có một số công trình khoa học nghiên cứu văn bản, liên kết văn bản ở góc độ ngôn ngữ học Các công trình này góp phần đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, ứng dụng vào trong thực tế nhằm không ngừng nâng cao chất lượng văn bản hành chính

Đầu tiên phải kể đến cuốn sách “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” của

GS.TSKH.VS Trần Ngọc Thêm (xuất bản đầu tiên năm 1985, tái bản lần 2 năm

1999, lần 3 năm 2006) là một công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về văn bản Tác giả đã có những kiến giải sâu sắc về hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt Sự thành công của cuốn sách này không chỉ ở thời điểm nó ra đời, mà cho đến nay, những kết quả trình bày trong đó vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn

Sách “Các phương tiện liên kết và tổ chức Văn bản” của tác giả Nguyễn Chí

Hòa chủ biên (2006), trong cuốn sách này tác giả trình bày theo hướng hệ thống hóa những phương thức liên kết từ câu ghép có kết từ đến câu ghép không có kết từ, thể thống nhất trên câu được trình bày xen cài với các quan hệ của câu ghép nhằm giúp người học nắm được cách dùng cụ thể của chúng

Sách “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”, của tác giả Diệp Quang Ban

(2010), Nxb Giáo dục Việt Nam, tác giả trình bày theo bài mục để tiện dùng cho người đọc Mỗi bài mục được chia thành hai phần: phần giới thiệu những kiến thức phổ biến và phần tham khảo dành riêng cho những ai muốn tìm hiểu Sách được chia thành 3 phần, ở đấy, các kiến thức về văn bản, về cấu trúc ngoài liên kết được vận dụng Qua cuốn sách, những kiến thức cũng góp phần giúp người dạy - học có những kiến thức tương ứng

Trong các cuốn giáo trình "Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt" của

Cù Đình Tú (2002), "Phong cách học tiếng Việt" của Đinh Trọng Lạc (chủ biên)

(1999) v.v Các công trình này khảo sát các phong cách dựa vào các đặc điểm ngôn ngữ như: Ngữ âm chính tả, từ vựng, ngữ pháp, diễn đạt v.v Do phạm vi của một giáo trình nên có thể nói không quá rằng, các đặc điểm ấy được đề cập đến một cách giản lược

Tác giả Nguyễn Văn Thâm với công trình "Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý

Trang 12

Nhà nước", in lần đầu năm 1992, và được Nxb Chính trị quốc gia tái bản nhiều lần

(2001, 2003) có thể coi là người đầu tiên nghiên cứu về các văn bản hành chính tương đối kỹ Tại đây, các văn bản hành chính được xem xét trong mối quan hệ với pháp lý, quyền hạn, nhiệm vụ và kể cả công tác soạn thảo Do xem xét đối tượng trên một bình diện rộng, cho nên đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính được nhắc đến quá ít

Bùi Khắc Việt (1998) với cuốn "Kỹ thuật và ngôn ngữ soạn thảo văn bản

quản lý Nhà nước", bằng một văn phong hướng dẫn khoa học, ông đã khái quát các

đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính chủ yếu là để thực hành

Nguyễn Văn Khang (chủ biên) (2002) công trình "Tiếng Việt trong giao tiếp

hành chính", tác giả đã tập hợp được một số bài viết về giao tiếp hành chính, nhìn

chung công trình này rất công phu

Ngoài các công trình trên, còn có các công trình nghiên cứu và một số bài viết

về văn bản và ngữ pháp văn bản:

Ðỗ Hữu Châu (1994), Ngữ pháp văn bản, Vụ Giáo viên;R.Galperin (1987),

Văn bản với tư cách đối tượng ngôn ngữ học, Nxb.KHXH.; O.I.Moskalskaja

(1996), Ngữ pháp văn bản, Trần Ngọc Thêm dịch, Nxb Giáo dục; Lê Đức Luận,

Giáo trình ngữ pháp văn bản, Khoa ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Đà

Nẵng;Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2005), Giáo trình giản yếu

về ngữ pháp văn bản, Nxb Đà Nẵng;Lê Văn In (Chủ biên), Nghiêm Kỳ Hồng, Đỗ

Văn Học (2013), Giáo trình văn bản quản lý nhà nước và kĩ thuật soạn thảo văn

bản, Nxb.ĐHQG TP Hồ Chí Minh;

Trên cơ sở kế thừa về mặt lý thuyết của các công trình đi trước, luận văn sẽ khảo sát đặc điểm liên kết văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III Lần đầu tiên, tác giả mạo muội khảo sát và đưa ra những nhận xét về đặc điểm liên kết trong các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện, với mong muốn đóng góp một phần cho việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng các văn bản hành chính của Học viện

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN BẢN VÀ VĂN BẢN

HÀNH CHÍNH

1.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN

1.1.1 Khái niệm văn bản

Hiện nay, chưa có định nghĩa nào về văn bản được tất cả các nhà ngôn ngữ học chấp nhận Thuật ngữ “văn bản” trong các ngôn ngữ Ấn-Âu đều bắt nguồn từ chữ La-tinh “textus” có nghĩa là “dây bệnvải” Trong ngôn ngữ học, “ văn bản” đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

I R Galperin cho rằng:“Văn bản - đó là tác phẩm của quá trình sáng tạo lời,

mang tính cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và một loạt đơn vị riêng, hợp nhất lại bằng những loại hình liên hệ khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng” [25,38]

O.I Moskalskaja cho rằng: “Đơn vị cơ bản của lời nói thể hiện một nội dung

hoàn chỉnh không phải là câu mà là văn bản Câu hoặc phát ngôn chỉ là một đơn vị

cá biệt và văn bản là đơn vị cao nhất.” [33]

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn bản

Tác giả Diệp Quang Ban trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Đồng

thời với quá trình đưa văn bản vào vị trí đối tượng của ngôn ngữ học và tiếp sau đó, một loạt định nghĩa về văn bản đã xuất hiện Số lượng các định nghĩa đã nhanh chóng lớn lên đến mức không dễ dàng kiểm đếm được Đằng sau các định nghĩa là những quan niệm,những cách hiểu khác nhau về đối tượng ngôn ngữ học mới mẻ này.”[5]

Đinh Trọng Lạc quan niệm: “Văn bản… là một thể thống nhất toàn vẹn được

xây dựng theo những quy tắc nhất định.”[27] Hữu Đạt thì cho rằng: “Văn bản là

Trang 14

một tập hợp các câu (hay phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác” [18]

Trần Ngọc Thêm quan niệm: “Văn bản là chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội

dung và hình thức”, nhưng ông cũng khẳng định thêm: “Văn bản là một hệ thống

mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.”[42]

Mặc dù không có khái niệm văn bản hoàn chỉnh nhưng một số học giả đưa ra những thuộc tính của văn bản như thuộc tính biểu thị, phân giới và cấu trúc mà một văn bản phải có

Từ những định nghĩa trên về văn bản, chúng ta có định nghĩa “Văn bản là sản

phẩm của quá trình sáng tạo lời, mang tính cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và một loạt đơn vị riêng, hợp nhất lại bằng những liên

hệ khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng”

Bên cạnh khái niệm văn bản, trong một số tài liệu giáo khoa, các chuyên luận

về ngữ pháp văn bản, còn xuất hiện khái niệm ngôn bản Khái niệm ngôn bản được hiểu theo hai nghĩa cơ bản: Thứ nhất, nó được hiểu đồng nhất với khái niệm văn bản Thứ hai, nó được hiểu trong mối quan hệ đối lập với văn bản Theo cách hiểu thứ hai, ngôn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn, thể hiện dưới dạng

âm thanh Còn văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn, thể hiện dưới dạng chữ viết Ở đây, khái niệm văn bản được quan niệm đồng nhất với khái niệm ngôn bản

1.1.2 Đặc trưng văn bản

a Sản phẩm của hoạt động giao tiếp dưới dạng văn tự

Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng chỉ sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dưới dạng văn tự (chữ

Trang 15

viết tay, in ấn ) mới được coi là văn bản Vì tồn tại dưới dạng văn tự nên văn bản

thường được trau chuốt văn chương theo đặc điểm của một thể loại nhất định Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản đều nhất trí văn bản là sản phẩm

của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nhưng nhiều người còn cho rằng văn bản có

thể tồn tại cả dưới dạng viết lẫn dạng nói, nghĩa là văn bản gồm văn bản nói và văn

bản viết Các tác phẩm dân gian tồn tại dưới dạng nói, khi chúng được sưu tầm và in

viết ra thì gọi là văn bản Trần Ngọc Thêm cho rằng:“Văn bản - cái nằm ở cấp độ

trên cùng của cấp hệ ngôn ngữ - là đơn vị duy nhất trực tiếp tham gia vào giao tiếp,

có tính độc lập giao tiếp Tất cả những đơn vị dưới nó muốn tham gia vào giao tiếp

thì trước hết phải trở thành một bộ phận của văn bản hoặc, nếu đủ điều kiện, trở

thành chính văn bản Văn bản, và chỉ có văn bản, mới vừa là phương tiện giao tiếp

vừa là chính đơn vị của giao tiếp…Nếu sản phẩm ngôn ngữ được thể hiện dưới

dạng lời nói thì ta sẽ có hành vi giao tiếp lời nói, gọi tắt là hành vi lời nói Còn nếu

sản phẩm ngôn ngữ thể hiện dưới dạng văn bản thì ta sẽ có hành vi giao tiếp văn

bản, gọi tắt là hành vi văn bản.”[41]

b Tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức

Văn bản là một thể thống nhất hoàn chỉnh về nội dung và hình thức

- Về mặt nội dung: Một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi đề tài và chủ đề

của nó được triển khai một cách đầy đủ, chính xác và mạch lạc Nếu đề tài, chủ đề

triển khai không đầy đủ, vượt quá giới hạn hay thiếu chính xác, mạch lạc thì văn

bản sẽ vi phạm tính hoàn chỉnh

Xét về mặt cấu trúc, một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi các phần, các

đoạn, các câu trong từng đoạn được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự hợp lí, thể hiện

một cách đầy đủ, chính xác và mạch lạc nội dung của văn bản

Sự hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của văn bản còn chịu sự chi phối gián tiếp của

phong cách ngôn ngữ văn bản Tuỳ vào phong cách ngôn ngữ, cấu trúc của các văn

bản thuộc phong cách hành chính phải tuân thủ khuôn mẫu rất nghiêm ngặt Các

văn bản thuộc phong cách khoa học cũng ít nhiều mang tính khuôn mẫu, thể hiện

qua bố cục của các phần Riêng văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như thơ,

Trang 16

truyện, ký thì thường có cấu trúc linh hoạt

Theo Nguyễn Chí Hòa: Tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản thể hiện ở sự thống nhất chủ đề của nó Chủ đề là hạt nhân ngữ nghĩa của văn bản Giữa chủ đề văn bản với các chủ điểm, các chủ đề bộ phận của các chương mục [21,235-236] Tính hoàn chỉnh của văn bản là tương đối Nó được coi là hoàn chỉnh trong một hoàn cảnh, một mục tiêu giao tiếp nhất định Khả năng tạo lập nội dung một văn bản rất khác nhau đối với những người thuộc các trình độ hiểu biết khác nhau Một bài làm văn được điểm cao thời học cấp hai lại là một bài làm sơ sài ở cấp ba hoặc đại học Trong thực tế, người ta cũng có thể trích chọn một chương sách, một đoạn văn của một tác phẩm để làm thành một văn bản và đặt cho nó một tựa đề mới Trong trường hợp này, chúng chỉ là văn bản trích dẫn nhưng nó là văn bản độc lập với tựa đề mới của nó Các bài trích giảng tác phẩm văn chương trong các sách giáo khoa văn học chính là các văn bản như thế

- Về mặt hình thức: Tính hoàn chỉnh thể hiện ở chỗ văn bản có thể tồn tại độc

lập không cần phải thêm bất kì yếu tố ngôn ngữ nào vào trước và sau nó Trong nội

bộ, văn bản phải là một cấu trúc hoàn chỉnh các đơn vị và kết cấu văn bản Chúng được hợp nhất lại bằng các phương tiện liên kết văn bản theo các quy tắc cấu tạo văn bản Các quy tắc này thể hiện ở thói quen sắp xếp các thành tố, các bộ phận của văn bản được cả xã hội chấp nhận Thông thường văn bản gồm tên gọi (tựa đề, đầu đề) và thân văn bản Ðôi khi có thêm lời nói đầu và lời bạt ở một số văn bản dài hơi

c Tính liên kết của văn bản

Tính liên kết của văn bản là tính chất kết hợp, gắn bó, ràng buộc qua lại giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản Đó là sự kết hợp, gắn bó giữa các câu trong đoạn, giữa các đoạn, các phần, các chương với nhau, xét về mặt nội dung cũng như hình thức biểu đạt Liên kết là hệ thống mạng lưới tổ chức văn bản, làm cho các đơn vị của văn bản kết nối với nhau theo một mục đích nhất định Mạch lạc là các yếu tố trong văn bản liên kết với nhau làm sao cho các phần có mối quan hệ gắn bó cả hình thức và nội dung Liên kết là phương thức tạo nên mạch lạc trong văn bản Trên cơ

sở đó, tính liên kết của văn bản thể hiện ở hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình

Trang 17

thức.Các mặt liên kết nội dung và hình thức ấy được thể hiện ở nhiều cấp độ: cấp độ các câu tiếp nối (liên kết liên câu), các câu gián cách và cấp độ các đơn vị trên câu như cụm câu, đoạn văn, tiết, mục, chương, phần trong quy mô toàn văn bản Ðiều này làm văn bản có tính hệ thống Người đọc văn bản chỉ có thể hiểu được từng câu, từng đoạn văn bản nếu đặt nó trong mối liên hệ với toàn bộ văn bản

Tính liên kết thể hiện trong sự lập luận Toàn bộ văn bản là một lập luận bao gồm hệ thống các luận điểm, luận cứ, luận chứng Nội dung văn bản nghị luận thể hiện ở các luận điểm Luận cứ là căn cứ lí luận chứng minh cho luận điểm Luận chứng là chứng cứ chứng minh cho luận cứ Chủ đề văn bản tập trung ở kết luận của văn bản

d Văn bản luôn có mục tiêu thực dụng

Mục tiêu thực dụng là đích người ta muốn đạt tới khi hành động Mọi văn bản được tạo ra đều nhằm một mục tiêu cụ thể Việc tạo văn bản không những là một hành động viết mà còn là một hành động xã hội bằng ngôn ngữ Viết cái gì, viết cho

ai, viết để làm gì? Ðó là những câu hỏi luôn được đặt ra trước mỗi bài viết Mục tiêu thực dụng ấy của văn bản quy định cách viết văn bản, quy định việc lựa chọn thể loại văn bản và các phương tiện ngôn từ quen dùng cho thể loại ấy Đây là mục tiêu ngữ dụng của văn bản

1.1.3 Các loại văn bản

a Dựa vào phong cách chức năng

Thói quen sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong các hoàn cảnh giao tiếp điển hình tạo nên những phong cách ngôn ngữ nhất định Như vậy, văn bản được tạo ra sẽ thuộc một trong các phong cách sau đây: văn bản hành chính, văn bản

khoa học, văn bản chính luận, văn bản nghệ thuật, văn bản báo chí

b Dựa vào quy mô văn bản

- Văn bản tối giản (văn bản một câu): tục ngữ

- Văn bản nhỏ (gồm tương đương một đoạn văn)

- Văn bản thông thường (gồm tương đương vài đoạn văn)

- Văn bản lớn (dạng tập sách)

Trang 18

- Văn bản đồ sộ (dạng bộ sách nhiều tập)

c Dựa vào tính chất của văn bản

- Văn bản miêu tả: Nêu đặc điểm của người, cảnh, sự vật để người đọc hình dung ra chúng

- Văn bản giải trí: Nói mọi chuyện đời để người đọc bớt căng thẳng đầu óc

- Văn bản nghị luận: Dùng lí lẽ, chứng cớ, bàn bạc, đánh giá để tìm ra cách lí giải đúng về những vấn đề tự nhiên, xã hội

- Văn bản khoa học: Nêu những định lí, quy tắc để người đọc nhận thức đúng đắn bản chất của tự nhiên và xã hội

- Văn bản hành chính

d Dựa vào đặc trưng nội dung và cách thức đề cập

-Văn bản tự sự: nội dung là sự việc có cốt truyện; cách kể có nhiều yếu tố khách quan

-Văn bản trữ tình: nội dung là tình cảm người viết với thế giới khách quan; cách kể có nhiều yếu tố chủ quan

-Văn bản kịch: nội dung là sự việc, cốt truyện với những xung đột căng thẳng

về các mặt của đời sống; cách kể theo sự việc, tư tưởng bộc lộ qua hoạt động và ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật

- Văn bản nghị luận

- Văn bản trình bày, báo cáo

e Dựa vào kiểu cấu tạo

- Văn bản cố định theo khuôn mẫu: đơn từ, tờ khai, hợp đồng…

- Văn bản thông dụng theo cấu trúc chuyên môn khoa học: tiểu luận, luận văn, khóa luận, luận án, sách giáo khoa…

- Văn bản có cấu tạo tự do: tác phẩm văn học, sách khoa học thường thức…

f Dựa vào cách sử dụng ngôn ngữ

-Văn bản văn vần: chú ý sử dụng vần, điệu, nhịp và sự hài hòa âm thanh -Văn bản văn xuôi: ít hoặc không có sự tham gia của các yếu tố văn vần

Trang 19

1.2 HỆ THỐNG LIÊN KẾT VĂN BẢN

1.2.1 Khái niệm liên kết và vai trò liên kết văn bản

a Khái niệm liên kết

Liên kết là thuộc ngữ quen thuộc trong ngôn ngữ học văn bản Cùng với mạch lạc, liên kết cũng là đối tượng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu Liên kết là một hiện tượng dễ nhận biết, nhưng cách hiểu về liên kết cũng không hoàn toàn giống nhau ở các nhà nghiên cứu Cho đến nay vẫn tồn tại hai quan niệm lớn khác nhau về liên kết, hai quan niện này đã được Diệp Quang Ban

trình bày rõ ràng và hệ thống trong “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”[5]

Quan niệm thứ nhất thịnh hành ở giai đoạn “các ngữ pháp văn bản” coi liên kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Liên kết được khai thác cả ở mặt hình thức và ý nghĩa Do có tính đến mặt ý nghĩa nên liên kết được hiểu như là yếu tố quyết định làm cho sản phẩm ngôn ngữ có được phẩm chất “là một văn bản”,

đại diện tiêu biểu cho trường phái này là tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Hệ

thống liên kết văn bản tiếng Việt”[42]

Theo hai tác giả Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Ban định nghĩa về liên kết:

“Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu chỉ là phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy”[42,19]

Diệp Quang Ban lại cho rằng: “Liên kết là thứ quan hệ giữa hai yếu tố ngôn

ngữ nằm trong hai câu hoặc nằm trong hai vế của một câu ghép theo kiểu giải thích nghĩa cho nhau Chi tiết hơn thì liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ mà muốn hiểu biết nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết được với nhau”[3,352]

Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu khái niệm liên kết như sau “Liên kết văn bản là

mạng lưới các mối quan hệ nội dung, hình thức giữa các đơn vị, kết cấu trong nội bộ văn bản và các mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố ngoài văn bản”

Trang 20

b Vai trò của liên kết trong văn bản

Các đơn vị văn bản thực sự có ý nghĩa khi nằm trong hệ thống liên kết của văn bản Mạng liên kết có giá trị xác nhận vai trò của từng đơn vị ngôn ngữ văn bản Có trường hợp, sức nặng ngữ nghĩa của văn bản chỉ dồn vào một câu, nếu thiếu câu ấy, văn bản trở nên khó hiểu hoặc hiểu sai lệch Liên kết có khả năng biến những câu

mà ngữ pháp truyền thống cho là què cụt thành câu có nghĩa Thậm chí nó lại tạo

nên sắc thái nghệ thuật độc đáo Ví dụ: “Bà ấy mệt quá Không lê được một bước

Không kêu được một tiếng Cơ chừng tiếc của Cơ chừng hết sức Cơ chừng hết hơi” (Nguyễn Công Hoan)

Liên kết còn có khả năng biến những kết hợp sai nghĩa (phi logic) thành những kết hợp có thể chấp nhận được trong văn bản

1.2.2 Các mặt liên kết văn bản

Vấn đề liên kết hình thức và liên kết nội dung được tác giả Trần Ngọc Thêm

trình bày trong “Hệ thống liên kết các văn bản tiếng Việt”[42] và tác giả Diệp Quang Ban trình bày trong cuốn“Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” [5] một cách

có hệ thống, rõ ràng và chọn lọc

a Liên kết hình thức

* Khái niệm: Liên kết hình thức là“hệ thống các phương tiện liên kết hình thức” và

những cái được liên kết với nhau trong văn bản là các câu (phát ngôn) [5, 121]

Liên kết giữa các câu trong cụm câu cũng như liên kết giữa các kết cấu văn bản trước hết là sự liên kết nội dung, đó là sự móc nối, gắn kết giữa các ý tưởng trong các câu và các kết cấu văn bản Nhưng sự liên kết nội dung này bao giờ cũng được thể hiện ra nhờ các yếu tố ngôn từ cụ thể được gọi là các phương tiện liên kết văn bản như lặp, thế, nối, liên tưởng, nghịch đối, tỉnh lược Nói đến liên kết hình thức trong văn bản chính là nói đến các phương thức liên kết văn bản ấy Liên kết hình thức là cách nối kết các nội dung trong văn bản về mặt hình thức Như vậy, giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện ra nhờ các phương thức liên kết hình thức và các phương thức liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung Nếu mối quan hệ

Trang 21

biện chứng này bị phá vỡ, các câu đi với nhau sẽ không còn là văn bản

* Các phép liên kết hình thức

+Phép lặp: Phép lặp là cách dùng đi dùng lại một yếu tố ngôn ngữ, ở những

bộ phận khác nhau (trước hết ở đây là những câu khác nhau) của văn bản nhằm liên kết chúng lại với nhau Phép lặp, ngoài khả năng kết nối các bộ phận hữu quan của văn bản lại với nhau, còn có thể đem lại những ý nghĩa tu từ như nhấn mạnh gây

cảm xúc, gây ấn tượng v v

Các phương tiện dùng trong phép lặp; các yếu tố ngữ âm (vần, nhịp), gọi là lặp

ngữ âm; các từ ngữ, gọi là lặp từ ngữ; các cấu tạo cú pháp, gọi là lặp cú pháp

Ví dụ: Lặp cả cấu trúc và từ ngữ pháp: “Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường” (Hồ Chí Minh)

+ Phép thế: Phép thế là cách thay những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ

có ý nghĩa tương đương (cùng chỉ sự vật ban đầu, còn gọi là có tính chất đồng chiếu) nhằm tạo tính liên kết giữa các phần văn bản chứa chúng Có 2 loại phương tiện dùng trong phép thế là thay thế bằng từ ngữ đồng nghĩa và thế bằng đại từ Dùngphép thế không chỉ có tác dụng tránh lặp đơn điệu, mà còn có tác dụng tu từ

nếu chọn được những từ ngữ thích hợp cho từng trường hợp dùng

Phép này có 2 loại: thế đồng nghĩa và thế đại từ Thế đồng nghĩa bao gồm việc dùng từ đồng nghĩa, cách nói vòng (nói khác đi), cách miêu tả thích hợp với từ ngữ được thay thế Thế đại từ là dùng những đại từ (nhân xưng, phiếm định, chỉ định: từ chỉ trỏ) để thay cho một từ ngữ, một câu, hay một ý gồm nhiều câu v.v nhằm tạo

ra tính liên kết giữa các phần văn bản chứa chúng

+ Phép liên tưởng: Phép liên tưởng là cách sử dụng những từ ngữ chỉ những

sự vật có thể nghĩ đến theo một định hướng nào đó, xuất phát từ những từ ngữ ban đầu, nhằm tạo ra mối liên kết giữa các phần chứa chúng trong văn bản Phép liên tưởng khác phép thế ở chỗ trong phép thế thì dùng những từ khác nhau để chỉ cùng một sự vật; trong phép liên tưởng, đó là những từ ngữ chỉ những sự vật khác nhau

có liên quan đến nhau theo lối từ cái này mà nghĩ đến cái kia (liên tưởng) Sự liên tưởng có thể diễn ra giữa những sự vật cùng chất cũng như giữa những sự vật khác

Trang 22

chất Phép này có 2 loại: liên tưởng cùng chất và liên tưởng khác chất

Liên tưởng cùng chất bao gồm: liên tưởng theo quan hệ bao hàm, liên tưởng đồng loại và liên tưởng về số lượng

Liên tưởng khác chất bao gồm: liên tưởng theo quan hệ định vị giữa các sự vật; liên tưởng theo công dụng - chức năng của vật; liên tưởng theo đặc trưng sự vật; liên tưởng theo quan hệ nhân - quả hay phép kéo theo

+ Phép nghịch đối: Phép nghịch đối sử dụng những từ ngữ trái nghĩa vào

những bộ phận khác nhau có liên quan trong văn bản, có tác dụng liên kết các bộ phận ấy lại với nhau Những phương tiện liên kết thường gặp dùng trong phép nghịch đối là: Từ trái nghĩa, từ ngữ phủ định (đi với từ ngữ không bị phủ định), từ ngữ miêu tả (có hình ảnh và ý nghĩa nghịch đối)

+ Phép nối: Phép nối là cách dùng những từ ngữ sẵn mang ý nghĩa chỉ quan

hệ (kể cả những từ ngữ chỉ quan hệ cú pháp bên trong câu), và chỉ các quan hệ cú pháp khác trong câu, vào mục đích liên kết các phần trong văn bản (từ câu trở lên) lại với nhau Phép nối có thể dùng các phương tiện sau đây: kết từ, kết ngữ, trợ từ, phụ từ, tính từ, quan hệ về chức năng cú pháp (tức quan hệ thành phần câu hiểu rộng; có sách xếp phương tiện này riêng ra thành phép tỉnh lược)

Phép này có 4 phương thức: Nối bằng kết từ; nối bằng trợ từ, phụ từ, tính từ; nối bằng kết ngữ; nối theo quan hệ chức năng cú pháp

+ Phép tuyến tính: Tính hình tuyến là một điểm đặc thù của hệ thống tín hiệu

ngôn ngữ khi chúng hành chức Ðặc điểm này đòi hỏi các đơn vị ngôn ngữ phải xuất hiện theo trật tự trước sau trong câu nói Nó cũng đòi hỏi các đơn vị, kết cấu văn bản phải xuất hiện theo trật tự trước sau trong văn bản

Ðó là các phương tiện tuyến tính biểu thị quan hệ thời gian, không gian và phương tiện liên kết tuyến tính biểu thị quan hệ logic

+ Phép tỉnh lược: Phép tỉnh lược là sự khái quát hóa các phương tiện liên kết

thể hiện ở việc lược bỏ trong kết ngôn những yếu tố có mặt trong chủ ngôn Việc này làm phát ngôn trở nên không hoàn chỉnh về ngữ pháp, ngữ nghĩa Nếu sự lược bớt ít, kết ngôn tuy không tự nghĩa nhưng vẫn đảm bảo đủ cấu trúc câu, nghĩa là vẫn

Trang 23

là câu hợp nghĩa, thì đó là tỉnh lược yếu Ngược lại, nếu sự lược bớt làm kết ngôn không hoàn chỉnh cả cấu trúc ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa thì đó là tỉnh lược mạnh Tỉnh lược yếu là phương tiện liên kết các câu hợp nghĩa Tỉnh lược mạnh là phương tiện liên kết các câu với câu không hợp nghĩa hay câu dưới bậc

b Liên kết nội dung

* Khái niệm: Liên kết nội dung là sự gắn kết ý nghĩa giữa các bộ phận trong

văn bản nhằm thể hiện ý nghĩa chung của văn bản Liên kết nội dung gồm hai tuyến: liên kết chủ đề và liên kết lôgic

Các phương diện liên kết nội dung:

+ Liên kết đề tài và chủ đề

Liên kết đề tài và chủ đề là loại liên kết ngữ nghĩa thể hiện sự thống nhất nội dung giữa các ý, các câu, các đoạn văn trong văn bản Liên kết chủ đề có sự thống nhất về đối tượng hoặc chỉ nói về một đối tượng

Liên kết chủ đề là liên kết các câu theo một chủ đề thống nhất Tất cả các câu trong đoạn văn dù viết cụ thể hay khái quát đều cùng hướng đến một chủ đề nhất định Trong một văn bản, các đoạn văn có cách triển khai khác nhau nhưng vẫn thống nhất trong một chủ đề

Văn bản có thể có nhiều chủ đề bộ phận Liên kết chủ đề là sự hợp lại các chủ

đề bộ phận quy tụ về một chủ đề lớn Tất cả các chủ đề bộ phận đều tập trung thể hiện chủ đề văn bản.Từ liên kết chủ đề văn bản có thể hướng đến liên kết chủ đề

liên văn bản khi các văn bản cùng thể hiện một chủ đề, đề tài Ví dụ “ như đề tài

chiến tranh và người lính, nỗi thống khổ của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám…”[9,19-22]

+ Liên kết lôgic

Liên kết lôgic làm nên tính hợp lý trong mối liên hệ giữa đối tượng với đặc trưng chủ đề và giữa các đặc trưng chủ đề với nhau Nếu liên kết chủ đề là liên kết ý thì liên kết lôgic là liên kết mối quan hệ giữa các ý đó

Liên kết lôgic trong văn bản xét từ mối quan hệ giữa bản thân các sự vật hiện tượng, tính chất, vấn đề được trình bày trong sự vận động lôgic của tư duy nhận

Trang 24

thức Liên kết lôgic thể hiện ở bố cục, kết cấu văn bản vì thế nó liên quan đến lý thuyết lập luận Các câu, các đoạn kết hợp với nhau phải có lôgic lập luận theo trình

tự tư duy biện chứng

1.2.3 Các cấp độ liên kết văn bản

a Liên kết liên câu và liên kết liên đoạn

Trong phạm vi nội bộ văn bản, có hai cấp độ liên kết Cấp độ câu, đó là mối liên kết liên câu Sự liên kết liên câu có đặc điểm là đa dạng hơn sự liên kết giữa các

bộ phận trong câu và các phương tiện liên kết liên câu cũng dùng được và đủ dùng cho sự liên kết giữa các đơn vị trên câu

Cấp độ đơn vị trên câu, đó là mối liên kết giữa các cụm câu, các đoạn văn, các mục, tiết, chương, phần Đây cũng có thể là liên kết liên đoạn

b Liên kết tổng thể

Liên kết tổng thể là liên kết chiều sâu, được thể hiện bằng cách sắp xếp các ý theo những tầng bậc cao, thấp khác nhau tùy theo mức độ khái quát và tầm quan trọng của chúng Nhờ vậy, người đọc có thể nhận ra chủ đề chung của văn bản xuất phát từ các chủ đề bộ phận, các ý tưởng thuộc cùng một bậc khái quát hay cùng một mức độ quan trọng Nó làm nên mạch lập luận, mạch tư duy xuyên suốt kết cấu văn bản

Liên kết tổng thể có tác dụng quan trọng đối với việc tổ chức văn bản Với việc tạo lập văn bản, nắm mối liên kết tổng thể là rất cần thiết để có dàn ý tốt Với việc tiếp nhận văn bản, nắm được liên kết tổng thể sẽ dễ tìm ra dàn bài của văn bản với các tầng bậc ý tưởng khác nhau

Liên tưởng bao hàm có mặt thường xuyên và phổ biến trong liên kết tổng thể Nhờ liên tưởng, các ý tưởng cùng bậc khái quát, cùng tầm quan trọng dù được trình bày cách xa nhau vẫn được liên kết lại trên cùng một bình diện Nhờ bao hàm, các ý thuộc cùng một bậc khái quát, cùng một tầm quan trọng sẽ được trình bày theo những hình thức tương thích làm cho văn bản có tính liên kết rõ ràng, chặt chẽ

1.2.4 Các quan hệ liên kết

a Quan hệ tôn ti

Theo quan hệ tôn ti, đơn vị văn bản ở cấp độ dưới dùng để cấu tạo nên đơn vị

Trang 25

văn bản ở cấp độ cao hơn và đơn vị ở cấp độ cao hơn là các kết cấu văn bản, bao giờ cũng gồm ít nhất một đơn vị văn bản ở cấp độ thấp hơn Quan hệ ấy được tóm tắt như sau: Câu > Cụm câu > Ðoạn văn > Mục > Chương > Phần >Văn bản

b Quan hệ ngữ đoạn

Ðể tạo lập văn bản, chỉ các đơn vị và kết cấu văn bản cùng cấp độ mới có thể kết hợp với nhau Nghĩa là trong văn bản, câu kết hợp với câu, cụm câu kết hợp với cụm câu, đoạn văn kết hợp với đoạn văn, mục kết hợp với mục, chương kết hợp với chương, phần kết hợp với phần v.v Quan hệ ngữ đoạn không chấp nhận sự kết hợp giữa các đơn vị không cùng cấp độ

1.2.5 Các phần kết cấu văn bản

a Khái niệm kết cấu

Kết cấu là khái niệm gần gũi với khái niệm cấu trúc "Kết cấu là sự xếp đặt và

phân bố các yếu tố của hình thức tác phẩm nghệ thuật, nói đúng hơn, là sự tổ chức tác phẩm trong một nội dung và thể loại xác định Kết cấu là kết các yếu tố hình thức và chi phối ý nghĩa của chúng"[30] Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê

(Chủ biên - 2005), Nxb Đà Nẵng, tr.487 thì khái niệm kết cấu: 1 “cấu trúc”, 2 “Sự

phân chia và bố trí các phần, các chương mục theo một hệ thống nhất định để thể hiện nội dung của tác phẩm” Theo từ điển tiếng Anh thì “structure” có nghĩalà:

kết cấu, cơ cấu, cấu trúc, còn “construction” có nghĩa là: sự xây dựng, sự kiến thiết,

sự đặt câu, cấu trúc câu Nói chung, các nhà ngôn ngữ thường hiểu cấu trúc là structure, còn kết cấu là construction Như vậy, kết cấu và cấu trúc có điểm chung là phát hiện và nghiên cứu sự liên kết và xếp đặt các yếu tố của hình thức tác phẩm

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Kết cấu không chỉ là sự xếp đặt vị trí các yếu tố

nội dung mà cơ bản là việc tổ chức ngữ nghĩa của văn bản dựa trên mạng lưới các mối quan hệ lôgic giữa các yếu tố nội dung Nói tới kết cấu là nói tới mối quan hệ chiều sâu của văn bản Chính kết cấu văn bản đảm bảo tính liên kết, tính thống nhất, tính hoàn chỉnh của nội dung” [9,84]

b Kết cấu của văn bản

*Phần mở đầu: Phần mở đầu là phần nêu vấn đề, phần gợi mở những ý tưởng,

Trang 26

phần giới thiệu những vấn đề cần phải giải quyết sau đó Câu chủ đề diễn tả ý chính,

ý khái quát của cả cụm câu Tùy theo từng loại văn bản mà có cấu tạo phần mở đầu

khác nhau

Đối với văn bản tác phẩm văn học, phần mở đầu các tác phẩm văn xuôi thường là phần giới thiệu nhân vật, sự kiện; phần mở đầu các tác phẩm thơ là phần hứng khởi, phần đề Đối với tác phẩm nghị luận là phần mở đề, mở bài, đặt vấn đề Các câu trong phần này có thể là câu hỏi, câu cầu khiến, câu đặt vấn đề, câu gợi mở Đối với văn nghị luận có kiểu mở đề gián tiếp và trực tiếp Trực tiếp là nêu thẳng vấn đề còn gián tiếp nêu các quan điểm nhận định trái chiều rồi hướng người đọc theo các luận giải chứng minh đúng sai ở phần triển khai

*Phần triển khai: Phần triển khai là phần giải quyết vấn đề, phần thực hiện

các vấn đề đã nêu ở phần mở đầu Cũng như phần mở đầu, phần triển khai cũng tùy

từng loại văn bản mà có cách giải quyết khác nhau

Đối với tác phẩm văn học, phần triển khai là phần thể hiện nhân vật trong môi trường hoạt động, là phần giải quyết các mâu thuẫn kịch tính Đối với tác phẩm nghị luận, phần này giải quyết những vấn đề đã nêu ở phần mở đầu, được gọi là phần thân bài Đối với các công trình khoa học, đây gọi là phần giải quyết vấn đề, triển khai bàn luận, chứng minh bằng các luận điểm, luận cứ, luận chứng khoa học Phần này kết cấu có nhiều chương mục, phần

*Phần kết thúc: Phần kết thúc là phần tiểu kết chương, kết luận, kết thúc vấn

đề của các công trình khoa học Phần này thường tóm lược, khái quát những vấn đề

đã được giải quyết ở phần triển khai Có khi phần này không đóng kết vấn đề mà

mở ra hoặc để lửng

Khi xem xét cấu trúc nội bộ của các kết cấu văn bản, phải nắm chắc các mối quan hệ phong phú giữa các đơn vị và kết cấu văn bản

1.3 ĐẶC ĐIỂM VĂN BẢN HÀNH CHÍNH

1.3.1 Khái niệm văn bản hành chính

Văn bản có thể hiểu một cách khái quát là phương tiện để ghi tin và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ nhằm thực hiện mục đích giao tiếp nhất định

Trang 27

Trong hoạt động giao tiếp, văn bản được sản sinh dưới sự chi phối của các nhân tố giao tiếp: nhân vật giao tiếp (hay chủ thể và đối tượng giao tiếp); nội dung giao tiếp; hoàn cảnh giao tiếp;mục đích giao tiếp; cách thức giao tiếp và phươngtiện giao tiếp

Các văn bản hình thành trong hoạt động quản lí và lãnh đạo nói chung được gọi là văn bản quản lí nhà nước Đó là một một phương tiện quan trọng để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý Vì vậy, văn bản hành chính thể hiện ý chí, mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước Đó là hình thức cụ thểhóa luật pháp, là phương tiện

để điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lí của Nhà nước

Văn bản hành chính (còn gọi là văn bản quản lý nhà nước) là những văn bản

do các cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước ban hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được nhà nước giao Văn bản phải đảm bảo các quyđịnh của nhà nước vềthẩm quyền ban hành, về hình thức, thể thức văn bản và việc sửa đổi, đình chỉ, bãi bỏ văn bản phải tuân theo luật định.Có thể hiểu văn bản hành chính là những quyết định, quy định vàthông tin quản lý thành văn do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục và hình thức do luật định, nhằm điều chỉnh các mối quan hệquản lý nhà nước qua lại giữa các cơ quan nhà

nước với nhau và giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân

Tóm lại, khái niệm văn bản hành chính được sử dụng với nghĩa là văn bản làm

công cụ quản lý và điều hành của các nhà quản trị nhằm thực hiện nhiệm vụ giao tiếp, truyền đạt mệnh lệnh, trao đổi thông tin dưới dạng ngôn ngữ viết, theo phong cách hành chính - công vụ

1.3.2 Phân loại văn bản hành chính

Văn bản có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy thuộc mục đích, nội dung và yêu cầu phân loại Nhìn chung phân loại văn bản là để nắm vững tính chất, ý nghĩa và tầm quan trọng của từng loại văn bản Dựa vào tiêu chí hình thức văn bản, văn bản hành chính có thể phân loại như sau:

a.Văn bản hành chính cá biệt

Văn bản hành chính cá biệt là phương tiện thể hiện các quyết định quản lý của

Trang 28

cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở những quy định chung, quyết định quy phạm của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc quy định quy phạm của cơ quan mình nhằm giải quyết các công việc cụ thể Bao gồm:

(1) Quyết định (cá biệt):là loại văn bản dùng để quy định các vấn đề về chế

độ, chính sách, tổ chức bộ máy, nhân sự và giải quyết những vấn đề khác dưới hình thức áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật Việc áp dụng này chỉ được thực hiện mội lần cho một cá nhân, một sự việc hay một vấn đề cụ thể Do đặc điểm nói trên, chủ thể ban hành quyết định là thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước (Thủ tướng, bộ trưởng, hoặc thủ trưởng cơ quan ngang bộ, UBND các cấp), thủ trưởng các cơ quan hành chính sự nghiệp, thủ trưởng các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp dân doanh

(2) Chỉ thị (cá biệt):là loại văn bản dùng để giải quyết những công việc mang

tính chất cá biệt của các cơ quan quản lý nhà nước Chỉ thị (cá biệt) do Thủ tướng,

bộ trưởng, hoặc thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành

b.Văn bản hành chính thông thường

Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc dùng để giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc trong cơ quan, tổ chức Hệ thống loại văn bản này rất đa dạng và phức tạp, có thể phân thành 2 loại chính:

- Văn bản hành chính thông thường không có tên loại:

Công văn (hành chính): là văn bản dùng để giao dịch về công việc hành chính

giữa các cơ quan, tổ chức hoặc giữa cơ quan tổ chức với công dân Phạm vi sử dụng của công văn rất rộng, liên quan đến các lĩnh vực hoạt động thường xuyên của cơ quan tổ chức

- Văn bản hành chính thông thường có tên loại:

(1) Thông cáo: là văn bản do các cơ quan quản lý nhà nước trung ương dùng

để công bố với nhân dân một quyết định hoặc một sự kiện quan trọng về đối nội, đối ngoại của quốc gia Thông cáo do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Trang 29

Chính phủ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành

(2)Thông báo:là văn bản dùng để thông tin các vấn đề trong hoạt động của

các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân để các đối tượng có liên quan biết hoặc thực thi

(3)Báo cáo:là văn bản phản ánh toàn bộ hoạt động và những kiến nghị của

mình hoặc tường trình về một vấn đề, một công việc cụ thể nào đó hoặc xin ý kiến chỉ đạo

(4) Chương trình: là văn bản để xác định trọng tâm, nội dung, giải pháp trong

một khoảng thời gian nhất định và công tác tổ chức thực hiện của một đơn vị về một chủ trương công tác

(5) Hướng dẫn: là văn bản giải quyết chỉ dẫn cụ thể việc tổ chức thực hiện

văn bản hoặc chù trương của đơn vị hoặc của cơ quan lãnh đạo trên

(6)Kế hoạch: là văn bản dừng để xác định mục đích yêu cầu, chỉ tiêu của

nhiệm vụ cần hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định và các biện pháp về tổ chức, nhân sự, cơ sở vật chất cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó

(7) Tờ trình: là văn bản dùng để thuyết trình tổng quát về một đề án, một vấn

đề, một dự thảo văn bản để cấp trên xem xét, quyết định

(8) Đề án: là văn bản dùng để trình bày hệ thống về một kế hoạch, giải pháp,

giải quyết một nhiệm vụ, một vấn đề nhất định để cấp có thẩm quyền phê duyệt

(9) Quy định: là văn bản xác định các nguyên tắc, tiêu chuẩn, thủ tục và chế

độ cụ thể về một lĩnh vực công tác nhất định hoặc trong hệ thống các cơ quanchuyên môn có chức năng, nhiệm vụ

(10) Quy chế: là văn bản xác định các nguyên tắc, trách nhiệm, quyền hạn,

chế độ và lề lối làm việc của tổ chức cơ quan hoặc một lĩnh vực công tác nhất định

(11) Phương án: là loại văn bản nêu dự kiến về cách thức, trình tự tiến hành

công việc trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định

(12) Biên bản: là văn bản ghi các ý kiến trong cuộc họp hoặc lập biên bản về

một sự kiện đặc biệt xảy ra

(13) Hợp đồng: là văn bản dùng để ghi lại sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều

Trang 30

bên bằng văn bản trong dó các bên ký với nhau lập một quan hệ pháp lý về quyền lợi và nghĩa vụ

(14) Công điện: là loại văn bản đặc trưng dùng để truyền đạt nhanh một mệnh

lệnh, một nội dung công việc đến cơ quan, đơn vị, tổ chức để thực hiện trong trường hợp khẩn cấp

(15) Giấy chứng nhận: là văn bản dùng để xác nhận một sự việc, một đối

tượng có liên quan đến hoạt động của cơ quan, doanh nghiệp

(16) Giấy ủy nhiệm: là loại văn bản dùng để ghi nhận sự thỏa thuận giữa

người có quyền (hoặc người đại diện theo pháp luật) và người được ủy nhiệm Theo

đó, người được ủy nhiệm thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ thay cho người có quyền (hoặc người đại diện theo pháp luật)

(17) Giấy mời:là loại văn bản dành cho cơ quan nhà nước sử dụng khi cần

triệu tập công dân đến trụ sở cơ quan để giải quyết những vấn đề liên quan đến yêu cầu hoặc khiếu nại của công dân đó (giấy mời của cơ quan hành chính)

(18) Giấy giới thiệu: là loại văn bản cấp cho đại diện được ủy quyền để liên

hệ, giao dịch, giải quyết công việc Thường dùng mẫu in sẵn

(19) Giấy nghỉ phép: là loại văn bản cấp cho cán bộ, nhân viên được nghỉ

phép theo luật lao động để giải quyết các công việc cá nhân

(20) Giấy đi đường (công lệnh): là loại văn bản cấp cho đại diện được đi công

tác để liên hệ, giải quyết công việc, chỉ đạo kiểm tra chương trình công tác nhằm xác định hoặc chứng nhận người đó đã đến địa điểm công tác Thường dùng mẫu

in sẵn

(21) Giấy biên nhận Hồ sơ: là loại văn bản dùng để xác nhận số lượng và loại

hồ sơ, giấy tờ hoặc do cơ quan hoặc cá nhân khác gửi đến

(22) Phiếu gửi:là loại văn bản dùng để gửi tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn

vị, cá nhân đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác Phiếu gửi không thay thế cho công văn

(23) Phiếu chuyển: là loại văn bản dùng để chuyển hồ sơ, tài liệu của cơ

quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đến bộ phận khác để tiếp tục giải quyết hoặc do chủ

Trang 31

thể chuyển không có thẩm quyền giải quyết

1.3.3 Đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính

a Đặc trưng của ngôn ngữ văn bản hành chính

Ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước phải đảm bảo phản ánh đúng nội dung cần truyền đạt, sáng tỏ các vấn đề, không để người đọc, người nghe không hiểu hoặc hiểu nhầm, hiểu sai Do đó, ngôn ngữ trong văn bản quản lý nhà nước có các đặc trưng sau:

* Tính chính xác,rõ ràng:Đây là một đặc điểm quan trọng trong văn bản hành

chính Tính chính xác trong cách dùng từ, đặt câu phải đi đôi với tính minh bạch, rõ ràng trong kết cấu văn bản để đảm bảo tính xác định, tính đơn nghĩa của nội dung, chỉ cho phép một cách hiểu, không gây hiểu lầm, câu cú phải ngắn gọn, không

rườm rà

* Tính phổ thông đại chúng: Văn bản phải được viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu,

tức là bằng những ngôn ngữ phổ thông, các yếu tố ngôn ngữ nước ngoài đã được

Việt hóa tối ưu.“Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách

diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được định nghĩa trong văn bản” (Điều 5, Luật Ban hành văn bản quy

phạm pháp luật)

Việc lựa chọn ngôn ngữ trong quá trình soạn thảo văn bản hành chính là một việc quan trọng Cần lựa chọn ngôn ngữ thận trọng, tránh dùng các ngôn ngữ cầu

kỳ, tránh sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt suồng sã

* Tính khuôn mẫu: Khác với các phong cách ngôn ngữ khác, ngôn ngữ trong

văn bản thuộc phong cách hành chính có tính khuôn mẫu ở mức độ cao Văn bản cần được trình bày, sắp xếp bố cục nội dung theo các khuôn mẫu có sẵn chỉ cần điền nội dung cần thiết vào chỗ trống Tính khuôn mẫu đảm bảo cho sự thống nhất,

tính khoa học và tính văn hóa của công văn giấy tờ

Tính khuôn mẫu còn thể hiện trong việc sử dụng từ ngữ hành chính - công vụ, các quán ngữ kiểu: “Căn cứ vào…”, “Theo đề nghị của…”, “Các… chịu trách nhiệm thi hành… này”…, hoặc thông qua việc lặp lại những từ ngữ, cấu trúc ngữ

Trang 32

pháp, dàn bài có sẵn… Tính khuôn mẫu của văn bản giúp người soạn thảo đỡ tốn công sức, đồng thời giúp người đọc dễ lĩnh hội, mặt khác, cho phép ấn bản số lượng lớn, trợ giúp cho công tác quản lý và lưu trữ theo kỹ thuật hiện đại

* Tính khách quan: Nội dung của văn bản phải được trình bày trực tiếp, không

thiên vị, bởi lẽ loại văn bản này là tiếng nói quyền lực của Nhà nước chứ không phải tiếng nói riêng của một cá nhân, dù rằng văn bản có thể được giao cho một cá nhân soạn thảo Là người phát ngôn cho cơ quan, tổ chức công quyền, các cá nhân không được tự ý đưa những quan điểm riêng của mình vào nội dung văn bản, mà phải nhân danh cơ quan trình bày ý chí của nhà nước Chính vì vậy, cách hành văn biểu cảm thể hiện tình cảm, quan điểm cá nhân không phù hợp với văn phong hành chính - công vụ Tính khách quan, phi cá nhân của văn bản gắn liền với chuẩn mực,

kỉ cương, vị thế, tôn ti mang tính hệ thống của cơ quan nhà nước, có nghĩa là tính

chất này được quy định bởi các chuẩn mực pháp lý

Tính khách quan làm cho văn bản có tính trang trọng, tính nguyên tắc cao, kết hợp với những luận cứ chính xác sẽ làm cho văn bản có sức thuyết phục cao, đạt hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước

*Tính trang trọng, lịch sự: Văn bản quản lý nhà nước là tiếng nói của cơ quan

công quyền, nên phải thể hiện tính trang trọng, uy nghiêm Lời văn trang trọng thể hiện sự tôn trọng với các chủ thể thi hành, làm tăng uy tín của cá nhân, tập thể ban

hành văn bản

Tính trang trọng, lịch sự của văn bản phản ánh trình độ giao tiếp “văn minh hành chính” của một nền hành chính dân chủ, pháp quyền hiện đại

b.Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính

* Đặc điểm ngữ âm:Bắt buộc sử dụng hệ thống ngữ âm chuẩn Dù viết hay in

đều phải sử dụng kiểu chữ chân phương, dễ đọc.Cách viết các chữ số, hạng mục,

bảng biểu đều tuân theo những quy định chặt chẽ.Ví dụ: Số tiền gửi qua bưu điện

bằng số bằng chữ

*Đặc điểm từ vựng: Sử dụng từ ngữ hành chính và khuôn sáo hành chính xuất

hiện với tần số cao, thuộc phạm vi từ ngữ hành chính là những từ ngữ như:

Trang 33

Tên gọi tổ chức cơ quan đoàn thể: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân, Tên người và chức trách trong quan hệ hành chính:Thủ tướng, Nguyên Bộ trưởng , nguyên cáo,bịcáo, bị can, đương sự, chánh văn phòng

Tên gọi các loại văn bản hành chính: công văn, luật, văn bản dưới luật, hợp đồng, biên bản ghi nhớ

Từ ngữ thuộc về thể thức hành chính: kính gửi, kính chuyển, đồng kính gửi,

chiếu, xét, đề nghị, chịu trách nhiệm thi hành,

Từ ngữ văn hóa chung được dùng một cách đặc biệt: cá nhân (người), pháp

nhân (cơ quan, tổ chức có quyền lợi và trách nhiệm), phía, bên (người, nhóm người,

cơ quan hoặc Nhà nước phát hiện trong quan hệ hành chính, chính thức với người, nhóm người, cơ quan khác hoặc Nhà nước)

“Khuôn sáo hành chính là đơn vị từ vựng hay đơn vị cú pháp luôn luôn được tái hiện, có tương quan với những hoàn cảnh thường được lặp đi lặp lại hoặc với những khái niệm phổ biến, và làm cho chúng được biểu đạt dễ dàng Khuôn sáo hành chính đối lập với phương tiện cá nhân tác giả”.[27,71]

Có thể để vào khuôn sáonhững từ ngữ sau đây: nay ban hành, theo đề nghị, căn cứ vào, chiếu quyết định thi hành, trân trọng đề nghị, có hiệu lực từ ngày, chấp

hành nghiêm chỉnh, có trách nhiệm thực hiện

Trong văn bản hành chính, từ dùng phải chính xác, nghiêm túc, rõ ràng, được lựa chọn khắc khe nhằm tránh hiểu sai nghĩa Không sử dụng những từ ngữ chung chung, mơ hồ; những từ ngữ có hình ảnh, có tính biểu tượng Không dùng từ địa

phương, biệt ngữ, tiếng lóng Không dùng những từ khẩu ngữ thông tục như; phe

phẩy, móc ngoặc, mua bán vòng vo, vòng vèo, mua chui, đi cổng hậu, Vì màu sắc

biểu cảm - cảm xúc có tính chất đánh giá chủ quan của những từ này không thích hợp với tính chất thể chế, pháp quy, tính chất nghiêm túc, trang trọng cần phải có trong văn bản hành chính

Thích hợp với giọng văn nghiêm túc, khách quan, từ Hán Việt chiếm một tỉ lệ lớn trong văn bản hành chính, như: Hiệu trưởng, Chủ nhiệm khoa, Phòng giáo vụ, phòng đào tạo, khởi tố, thụ lý, hữu quan, lưu hành, truy cứu, phúc tra, hình

Trang 34

sự, Trong số từ ngữ Hán - Việt có những từ ngữ có sắc thái cổ và màu sắc lịch sử

như: ngài tổng thống,quốc vụ khanh, đại sứ đặc mệnh toàn quyền, đại diện lâm thời

Ngoài ra, để đảm bảo độ chính xác cao, một số văn bản hành chính ghi rất cụ thể chi tiết đích danh nhân vật, đối tượng, việc làm, ngày giờ, do đó sử dụng nhiều

quán ngữ như: nêu trên, dưới đây, kèm theo, đang xét, bên hữu quan, cơ quan chủ

quản

* Đặc điểm ngữ pháp: Cú pháp của văn bản hành chính là thứ cú pháp sách vở

rập khuôn, loại trừ những cấu trúc biểu cảm của ngôn ngữ cá nhân.Thường sử dụng câu tường thuật, câu cầu khiến - mệnh lệnh, ít dùng câu hỏi, câu cảm thán Tính

chặt chẽ của cấu trúc câu rất được coi trọng

Trong một số loại văn bản hành chính như hiến pháp, luật định thường chứa đựng nhiều câu phức rất dài với những thành phần đồng chức (liên hệ ngữ pháp)

Để minh bạch, loại văn bản này sử dụng các chữ số La Mã, Ả Rập và các chữ cái để chia tách các bộ phận

Trong văn bản hành chính tồn tại một dạng câu rất đặc trưng được gọi là câu văn hành chính Đó là một câu ghép trải ra theo độ dài của văn bản với nhiều mệnh

đề được phân tích theo cách xuống dòng trong các văn bản quyết định hành chính

1.3.4 Học viện Chính trị khu vực III và các loại văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại cơ sở

a.Vài nét về Học viện Chính trị khu vực III

Học viện Chính trị khu vực III là đơn vị trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đóng chân trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

Học viện Chính trị khu vực III là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên; là trung tâm nghiên cứu khoa học lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý ở miền Trung - Tây Nguyên

Trang 35

b Các loại văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III

Học viện Chính trị khu vực III là đơn vị sự nghiệp công lập, do vậy,Học việnchủ yếu ban hành thể loại văn bản hành chính thông thường như: 1 Công văn;

2 Báo cáo; 3 Kế hoạch; 4 Biên bản; 5 Hợp đồng; 6 Quyết định; 7 Thông báo; 8.Hướng dẫn; 9 Nghị quyết;10 Quy chế; 11 Tờ trình; 12 Bản ghi nhớ…

Qua khảo sát 500 văn bản hành chính điển hình lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III từ năm 2011 đến nay thuộc các thể loại báo cáo, biên bản, chương trình, kế hoạch, công văn, hợp đồng, hướng dẫn, nghị quyết, quy chế, quyết định, thông báo, tờ trình,bản ghi nhớ, cho chúng ta các bảng thống kê sau:

Bảng 1.1 Phân tích các thể loại văn bản hành chính

Trang 36

Căn cứ số liệu thống kê trên có thể nhận thấy trong hệ thống các văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III thì các loại văn bản chiếm tỷ lệ lớn bao gồm: công văn, báo cáo, kế hoạch, biên bản, hợp đồng, quyết định, thông báo, hướng dẫn Đây chính là những thể loại văn bản phổ biến trong hoạt động của các cơ quan sự nghiệp công lập và là đặc thù trong hệ thống văn bản hành chính Đặc điểm này cũng quy định phương thức liên kết chủ đề trong văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III

1.4.TIỂU KẾT

Trong chương này chúng tôi đề cập đến cơ sở lý luận cơ bản liên quan đến văn bản, hệ thống liên kết trong văn bản và đặc điểm văn bản hành chính, qua đó làm rõ những khái niệm, đặc trưng, đặc điểm cơ bản về văn bản, liên kết văn bản và văn bản hành chính

Là cán bộ, công chức công tác ở đơn vị sự nghiệp công lập, hàng ngày phải triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chúng tôi nhận thấy tầm quan trọng rất lớn của văn bản hành chính, đặc biệt là liên kết trong văn bản Để văn bản hành chính của cơ quan được ban hành đúng khuôn mẫu, thống nhất, chính xác, rõ ràng, mang tính phổ thông, đại chúng, mang đúng phong cách hành chính, công vụ, ít sai sót về các phép liên kết, Vì vậy, bằng việc thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn chỉ ra một số lỗi thường gặp trong văn bản hành chính đang lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III

Trang 37

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH

2.1 PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT NỘI DUNG

2.1.1 Liên kết chủ đề

Các văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III bao gồm nhiều loại nhưng phổ biến nhất là công văn, thông báo, tờ trình, báo cáo, hướng dẫn, hợp đồng, biên bản, Khảo sát một số văn bản điển hình lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III có thể nhận thấy các đặc điểm về liên kết chủ

đề như sau:

(1) Khảo sát tại Hướng dẫn số 139/HD-HVCTKV III ngày 21/4/2014 của Học

viện Chính trị khu vực III về “Thực hiện Quy chế Hội thi “Giảng viên giảng dạy

giỏi” của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh” cho thấy:

Chủ đề văn bản này là “Hội thi giảng viên giỏi” Đối tượng chủ đề là giảng

viên giỏi Liên kết triển khai các vấn đề liên quan đến hội thi, bao gồm “mục đích, yêu cầu của Hội thi”, “đối tượng, phạm vi điều chỉnh”, “đối tượng dự thi”, “đối tượng nghe giảng tại Hội thi”, “cơ sở vật chất phục vụ Hội thi”, “thời gian, địa điểm Hội thi”, “tài liệu phục vụ giảng, trang phục giảng viên”, “kinh phí Hội thi”,

“ban tổ chức Hội thi”, “hội đồng giám khảo”, “tổ thư ký”, “hình thức tổ chức thi”,

“thang điểm chấm thi và cách tính điểm”, “xếp loại kết quả thi”, “danh hiệu và khen thưởng”, “giá trị của danh hiệu”, “kỷ luật”, “khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo”, “điều khoản thi hành”

(2) Khảo sát tại Quyết định số 570/QĐ-HVCTKV III ngày 04/5/2016 của Học

viện Chính trị khu vực III về việc “Thành lập Hội đồng Thi đua - Khen thưởng năm

học 2015 - 2016” cho thấy:

Chủ đề trong văn bản này là vấn đề Thi đua - Khen thưởng Đối tượng chủ

đề làHội đồng Thi đua - Khen thưởng.Chủ đề này được dẫn bởi những căn cứ pháp lí nên từ“căn cứ” được lặp lại 05 lần trong văn bản tạo thành một chuỗi

liên kết chặt chẽ, khoa học làm cơ sở cho việc ra quyết định Đồng thời, cụm

Trang 38

từ“Hội đồng Thi đua - Khen thưởng” được lặp lại 02 lần (trong tổng số 03 điều).Liên kết triển khai chủ đề bao gồm“chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy

của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”,“chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Học viện Chính trị khu vực III”; các căn cứ pháp

lí:“Luật Thi đua, Khen thưởng”, “Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi

hành Luật Thi đua, Khen thưởng”; các vấn đề liên quan đến hướng dẫn thực hiện

việc thi đua khen thưởng:“nhiệm vụ tư vấn”, “hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra”,

“xét chọn”, “đề nghị”

(3) Khảo sát tại Công văn số 863/TB-HVCTKV III ngày 29/6/2016 của Học

viện Chính trị khu vực III về “Kế hoạch nghỉ hè 2016, một số công tác từ nay đến

kết thúc năm học và đầu năm học mới” cho thấy:

Chủ đề làKế hoạch nghỉ hè Đối tượng chủ đề là nghỉ hèđược lặp lại với cụm

từ “nghỉ hè”06 lần.Liên kết triển khai chủ đề này là các vấn đề “Thời gian nghỉ hè

2016”; “trước và trong hè”, “đầu năm học mới”.Các vấn đề liên quan đến quản lý,

tổ chức nghỉ hè là “công tác hành chính, hậu cần và một số công tác khác”; “Văn

phòng Học viện”, “Phòng Kế hoạch - Tài vụ”, “Phòng Quản trị và Công nghệ thông tin”,

(4) Khảo sát tại Báo cáo số 678/BC-HVCT-HVKVIII-CB ngày 01/11/2012

của Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III về “Tổng kết việc thực hiện Nghị

quyết Trung ương 4 khóa X” cho thấy:

Chủ đề là việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X.Đối tượng chủ đề làNghị quyết Trung ương 4 khóa X.Liên kết triển khai chủ đề liên quan đến đơn

vị thực hiện là“Học viện” được lặp lại 34 lần; liên quan đến chủ đề là tên gọi

“Nghị quyết Trung ương 4” được lặp lại 06 lần; liên quan đến các đơn vị và cá

nhân thực hiện “cơ cấu tổ chức bộ máy” xuất hiện 05 lần; “cán bộ, công chức,

viên chức” xuất hiện 15 lần, Các vấn đề liên quan đến việc tổng kết đánh giá

việc thực hiện nghị quyết: “kết quả”,“tình hình”, “đánh giá”, “phương hướng”,

“nhiệm vụ, giải pháp”, “kiến nghị, đề xuất” Liên quan đến tổ chức thực

hiện:“triển khai học tập, quán triệt”, “kết quả rà soát chức năng, nhiệm vụ; sắp

Trang 39

xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy”, “biên chế, chính sách” Liên quan đến đánh giá

việc thực hiện:“đánh giá chung”,“ưu điểm”, “hạn chế, thiếu sót”, “nguyên

nhân”, “kinh nghiệm”,

(5) Khảo sát tại Công văn số 01-CTHĐ/ĐU ngày 20/01/2016 của Đảng ủy

Học viện Chính trị khu vực III về “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết

Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Chính trị khu vực III nhiệm kỳ 2015 - 2020”

cho thấy:

Chủ đề là“Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết” Đối tượng chủ

đề làNghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Chính trị khu vực III nhiệm

kỳ 2015 - 2020.Liên kết triển khai chủ đề là các vấn đề “Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện” Cụm danh từ nàyđược lặp lại 22 lần; chủ thể chỉ đạo thực

hiện nghị quyết“lãnh đạo” được lặp lại 18 lần;“nhiệm vụ chính trị” được lặp lại

14 lần,“công tác chính trị, tư tưởng” được lặp lại 06 lần; đối tượng thực hiện nghị quyết là“tổ chức cơ sở đảng” được lặp lại 08 lần, “cán bộ, đảng viên” được lặp lại 34 lần.Những vấn đề liên quan đến “kiểm tra, giám sát”thực hiện nghị quyết được lặp lại 07 lần, “công tác dân vận” được lặp lại 05 lần; Nội dung chương trình hành động trên cương vị lãnh đạo gồm:“lãnh đạo hoàn thành

tốt nhiệm vụ chính trị”,“lãnh đạo nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”, “lãnh đạo nâng cao chất lượng công tác khoa học”, “lãnh đạo nâng cao chất lượng công tác tổ chức - cán bộ”, “lãnh đạo thực hiện tốt công tác hành chính, hậu cần và các mặt công tác khác”.Chương trình hành động của

các đơn vị cơ sở: “xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh”,“công tác tuyên

truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng”, “năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng”,

“công tác kiểm tra, giám sát”, “công tác dân vận”,

(6) Khảo sát tại Kế hoạch số 168/KH-HVCTKV III ngày 14/5/2014 của Học

viện Chính trị khu vực III về “Tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ 5 năm (2009 - 2014) cho thấy:

Chủ đềlà Tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.Đối tượng chủ đề làTổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 5 năm (2009 - 2014) Liên kết

Trang 40

triển khai chủ đề với những cụm từ“hội nghị” được lặp lại 14 lần,“Học viện” được lặp lại 10 lần, “công tác đào tạo, bồi dưỡng” được lặp lại 24 lần,“cán bộ” được lặp lại 25 lần,“tổng kết” được lặp lại 09 lần,“khen thưởng” được lặp lại 06

lần;

Những vấn đề liên quan đến kế hoạch triển khai công tác đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ gồm: “mục đích, yêu cầu”, “nội dung”, “thời gian, địa điểm”,

“thành phần dự hội nghị”, “tổ chức thực hiện”, “tổ chức đoàn cán bộ” Những

vấn đề liên quan đến nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gồm:“yêu

cầu”,“phổ biến”, “đánh giá”, “xác định phương hướng” Những vấn đề liên

quan đếncông tác đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gồm: “tổng

kết”,“báo cáo”, “đánh giá”, “kết quả”, “hạn chế”, “nguyên nhân”, “kinh nghiệm”, “phương hướng”, “mục tiêu”, “nhiệm vụ”, “giải pháp”, “kiến nghị,

đề xuất”,

Các văn bản lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III có đặc điểm là văn bản được hình thành trong hoạt động quản lý, là phương tiện để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý hoặc các thông tin cần thiết hình thành trong quá trình quản lý của Học viện Các văn bản này mang phong cách hành chính với các đặc điểm: tính chính xác, minh bạch; tính nghiêm túc, khách quan; tính khuôn mẫu

Do đó, mức độ liên kết chủ đề văn bản là rất chặt chẽ, trong đó có sự xuất hiện phổ biến của phương thức liên kết duy trì chủ đề và liên kết triển khai chủ đề Đồng thời, các văn bản có liên kết chủ đề đều thấy độ gắn bó của các nội dung được phản ánh bằng tần suất xuất hiện của các chủ đề liên kết và không có nội dung nào bị cô lập, tất cả gắn bó với nhau thành một thành phần liên kết duy nhất.Xuất phát từ đặc điểm phong cách hành chính nên phần lớn các văn bản lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III đều có chủ đề đơn giản Đặc điểm này thể hiện tính chính xác và khuôn mẫu của văn bản hành chính lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III

Ngày đăng: 08/05/2022, 23:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Huy Anh (chủ biên)(1997), Hướng dẫn soạn thảo văn bản trong lĩnh vực quản lý, giao dịch kinh doanh, Nxb thống kê, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn soạn thảo văn bản trong lĩnh vực quản lý, giao dịch kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Huy Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 1997
[3] Diệp Quang Ban (1999), Văn bản và liên kết văn bản, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[4] Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[5] Diệp Quang Ban (2010), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[6] Võ Bình (chủ biên)(1982),Phong cách thực hành tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách thực hành tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
[7] Đỗ Hữu Châu (1996), Từ Vựng, ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Vựng, ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[8] Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học (tập 2- ngữ dụng học), Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học (tập 2- ngữ dụng học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[9] Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2005), Giáo trình giản yếu về ngữ pháp văn bản, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giản yếu về ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Diệu
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
[10] Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
[11] Mai Ngọc Chừ (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[12] Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1996
[13] C.Mác - Ăngghen – Lênin (1962), Bàn về ngôn ngữ, Nxb, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về ngôn ngữ
Tác giả: C.Mác - Ăngghen – Lênin
Năm: 1962
[16] Nguyễn Đức Dân (1998), Tiếng Việt thực hành (dùng cho đại học đại cương), Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành (dùng cho đại học đại cương)
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[17] Nguyễn Đức Dân (1995), Cơ sở dẫn luận ngôn ngữ học, Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1995
[19] Nguyễn Công Đức (chủ biên), Nguyễn Kiến Tường (2008), Tiếng Việt thực hành và soạn thảo văn bản, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành và soạn thảo văn bản
Tác giả: Nguyễn Công Đức (chủ biên), Nguyễn Kiến Tường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[20] Hà Thúc Hoan (1996), Tiếng Việt thực hành, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Hà Thúc Hoan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[21] Nguyễn Chí Hòa (2006), Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
[22] Cao Xuân Hạo (Chủ biên), (2002), Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục, Nxb Khoa học Xãhội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục
Tác giả: Cao Xuân Hạo (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xãhội
Năm: 2002
[23] Nguyễn Thiện Giáp (2010), Từ vựng tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[25] I. R. Galperin (1987), Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học, Nxb. KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học
Tác giả: I. R. Galperin
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 7)
Qua khảo sát 500 văn bản hành chính điển hình lưuhành tại Học viện Chính trị khu vực III từ năm  2011 đến nay  thuộc các thể loại báo cáo, biên bản, chương  trình, kế hoạch, công văn, hợp đồng, hướng dẫn, nghị quyết, quy chế, quyết định,  thông báo, tờ tr - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
ua khảo sát 500 văn bản hành chính điển hình lưuhành tại Học viện Chính trị khu vực III từ năm 2011 đến nay thuộc các thể loại báo cáo, biên bản, chương trình, kế hoạch, công văn, hợp đồng, hướng dẫn, nghị quyết, quy chế, quyết định, thông báo, tờ tr (Trang 35)
Bảng 2.1. Thống kê phương thức liên kết chủ đề xuất hiện trong văn bản - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
Bảng 2.1. Thống kê phương thức liên kết chủ đề xuất hiện trong văn bản (Trang 41)
Bảng 2.2. Các từ ngữ liên kết chủ đề xuất hiện phổ biến trong từng loại văn bản hành chính - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
Bảng 2.2. Các từ ngữ liên kết chủ đề xuất hiện phổ biến trong từng loại văn bản hành chính (Trang 42)
Tiến hành khảo sát 500 văn bản hành chính điển hình lưuhành tại Học viện Chính trị khu vực III từ năm 2011 đến nay để đánh giá về phép lặp cho kết quả như sau: - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
i ến hành khảo sát 500 văn bản hành chính điển hình lưuhành tại Học viện Chính trị khu vực III từ năm 2011 đến nay để đánh giá về phép lặp cho kết quả như sau: (Trang 51)
Bảng 2.4. Các phươngtiện từ loại nối kết - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
Bảng 2.4. Các phươngtiện từ loại nối kết (Trang 59)
CHUYÊN DÙNG Từ - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
CHUYÊN DÙNG Từ (Trang 59)
Bảng 2.5. Phạm vi liên kết - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
Bảng 2.5. Phạm vi liên kết (Trang 60)
Bảng 2.7. Các từ ngữ nối được sử dụng trong các văn bản hành chính - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
Bảng 2.7. Các từ ngữ nối được sử dụng trong các văn bản hành chính (Trang 61)
Bảng 2.6. Tỷ lệ xuất hiện của phép nối qua các kiểu quan hệ thường gặp giữa các câu liên kết với nhau - ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Khảo sát các văn bản hành chính nhà nước lưu hành tại Học viện Chính trị khu vực III)  10600852
Bảng 2.6. Tỷ lệ xuất hiện của phép nối qua các kiểu quan hệ thường gặp giữa các câu liên kết với nhau (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w