Thông tin đất giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý đất đai nó là cơ sở cho việc đề xuất các chính sách phù hợp và lập ra các kế hoạch hợp lý nhất cho các nhà quản lý phân bổ sử
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Trang 41.1.3 Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai 71.1.4. Vai trò và nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai 7
1.2. TỔNG QUAN HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) 101.2.1. Khái niệm về hệ thống thông tin địa lý 101.2.2. Các thành phần của GIS 10
1.3. TỔNG QUAN CÁC PHẦN MỀM ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 12
1.3.2. Phần mềm MicroStation 141.4. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG GIS TRONG XÂY DỰNG, KHAI THÁC VÀ QUẢN LÝ ĐẤT Ở VIỆT NAM 14
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CỦA XÃ YANG BẮC HUYỆN
Trang 52.1. KHÁI QUÁT CHUNG XÃ YANG BẮC 16
2.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 162.1.3. Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội 182.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 242.2.1. Công tác quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất 242.2.2. Công tác đo đạc, đăng ký thống kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
242.2.3. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
2.2.4. Thống kê, kiểm kê đất đai 252.2.5. Công tác tuyên truyền phổ biến Luật đất đai, thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 252.3. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU 252.3.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 252.3.2. Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp 262.3.3. Hiện trạng sử dụng đất chưa sử dụng 26
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI XÃ YANG BẮC
3.1. QUY TRÌNH ỨNG DỤNG GIS XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 273.1.1. Điều tra thu thập số liệu 273.1.2. Quy trình xây dựng CSDL đất đai trong GIS 273.2. XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI 283.2.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu không gian 283.2.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu thuộc tính 353.3. QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU VỀ ĐẤT ĐAI 433.4. ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA VIỆC ỨNG DỤNG GIS VÀO XÂY DỰNG, QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN TẠI KHU VỰC NGHIÊN
Trang 7Bảng 2.1 Bảng hiện trạng phân bố dân số năm 2014 20Bảng 3.1 Cấu trúc của CSDL thuộc bản đồ hiện trang sử dụng đất 36
Trang 8trang
Hình 1.1 Mô hình CSDL của hệ thống thông tin đất đai 9Hình 3.1 Quy trình xây dựng CSDL đất đai trong GIS 27Hình 3.2 Các mảnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất của xã Yang Bắc
Hình 3.3 Hộp thoại chuyển đổi dữ liệu trong MapInfo 29Hình 3.4 Hộp thoại chuyển hệ tọa độ 29Hình 3.5 Hộp thoại chuyển đổi dữ liệu của mảnh bdht 30Hình 3.6 Dữ liệu của file bdht sau khi chuyển sang MapInfo 30Hình 3.7 Dữ liệu của file thuadat sau khi chuyển sang MapInfo 31Hình 3.8 Hộp thoại Modify Table Structure 32Hình 3.9 Hộp thoại tạo Tab mới 32Hình 3.10 Hộp thoại gộp các lớp dữ liệu 33Hình 3.11 Hộp thoại thanh công cụ Drawing 33Hình 3.12 Hộp thoại Region Style trên thanh Drawing 34Hình 3.13 Dữ liệu không gian của bản đồ 35Hình 3.14 Hộp thoại tạo trường dữ liệu 37Hình 3.15 Hộp thoại trường dữ liệu 37Hình 3.16 Hộp thoại cập nhật dữ liệu 38Hình 3.17 Hộp thoại cập nhật diện tích 38Hình 3.18 Hộp thoại cập nhật mã đất 39Hình 3.19 Bảng thuộc tính của bản đồ hiện trạng 39Hình 3.20 Chọn loại bản đồ chuyên đề 40Hình 3.21 Hộp thoại thiết lập và lựa chọn các thông số cho bản đồ
Hình 3.22 Hộp thoại điều chỉnh bản đồ 41Hình 3.23 Hộp thoại thay đổi kiểu màu tô 41Hình 3.24 Hộp thoại chỉnh sửa Legend 42Hình 3.25 Cửa sổ làm việc của Map 43Hình 3.26 Hộp thoại tra cứu thông tin 44Hình 3.27 Hộp thoại thống kê diện tích đất 44Hình 3.28 Truy vấn chọn thửa bằng SQL 45
Trang 91. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người cùng các sinh vật khác trên Trái Đất. Đất đai là sản vật của tự nhiên, có giới hạn về không gian không thể di dời được. Đất đai
có vai trò quyết định cho sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người, cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, đất đai là điều kiện chung của quá trình lao động. Nếu không
có đất đai sẽ không có bất kỳ một ngành sản xuất nào và cũng không có sự tồn tại của
xã hội loài người. Vì vậy đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng
Do đó việc sử dụng, quản lý và bảo vệ đất đai một cách khoa học không chỉ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định và phát triển bền vững xã hội
Hiện tại và trong tương lai công nghệ thông tin phát triển mạnh, nó cho phép ta
sử dụng để giải quyết các vấn đề phức tạp của kinh tế xã hội và đây cũng là yêu cầu tất yếu đặt ra. Để đáp ứng và khai thác tốt phương pháp tiên tiến này trong ngành Quản lý đất đai thì yêu cầu cốt lõi đặt ra là phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức cũng như chất lượng thông tin. Thông tin đất giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý đất đai nó là cơ sở cho việc đề xuất các chính sách phù hợp và lập ra các kế hoạch hợp lý nhất cho các nhà quản lý phân bổ sử dụng đất cũng như trong việc ra các quyết định liên quan đến đầu tư và phát triển nhằm khai thác hợp lý nhất đối với tài nguyên đất đai.
Xã Yang Bắc huyện Đak Pơ cũng giống như các xã khác nằm trong tình hình chung của cả nước, hiện nay các số liệu điều tra cơ bản, các loại bản đồ, sổ sách,… liên quan đến tài nguyên đất còn chưa được thống nhất, lưu trữ cồng kềnh, tra cứu thông tin khó khăn,…làm cho công tác quản lý đất đai của huyện gặp nhiều vướng mắc và ít có hiệu quả. Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất đai trên cơ sở cập nhật và đồng bộ hóa các thông tin về hệ quy chiếu, hệ tọa độ, thông tin về ranh giới, địa giới hành chính, thông tin về các loại hình sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng và các thông tin về những cơ sở dữ liệu liên quan đến tài nguyên đất. Từ đó cho thông tin đầu
ra phục vụ yêu cầu quản lý của chính quyền trung ương, địa phương, của ngành và các ngành khác đồng thời phục vụ thông tin đất đai cho nhu cầu của người dân. Điều này
nó có ý nghĩa rất lớn khi mà hiện nay công tác quản lý về đất đai đang là vấn đề thời
Trang 10là một đòi hỏi cấp bách và cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu “Ứng dụng GIS vào xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ công tác quản lý đất đai xã Yang Bắc huyện Đak Pơ tỉnh Gia Lai " là rất cần thiết và có nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, từ đó đề xuất khai thác và quản lý CSDL đất đai ở xã Yang Bắc huyện Đak Pơ tỉnh Gia Lai
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng CSDL đất đai
Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội xã Yang Bắc huyện Đak Pơ tỉnh Gia Lai
Tìm hiểu kỹ thuật khai thác dữ liệu hệ thống thông tin đất. Tìm và cập nhật số liệu mới. Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc sử dụng GIS trong công tác quản
4.2.2. Phạm vi không gian nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi xã Yang Bắc huyện Đak Pơ tỉnh Gia Lai
5. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trang 11Ứng dụng công nghệ GIS vào quản lý Tài nguyên Môi trường đã được thực hiện ở nhiều khu vực trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Chứng minh cho điều này là sự có mặt của công nghệ GIS ở Châu Âu từ những năm 1960 và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trên toàn thế giới cho đến ngày nay. Ở Việt Nam vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đất đai đang là vấn đề quan trọng, thu hút nhiều người quan tâm và nghiên cứu, có thể liệt kê những đề tài nghiên cứu liên quan như:
“Ứng dụng GIS để xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất theo vị trí phục vụ cho thị trường bất động sản tại huyện Hoà Cường Bắc, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng”(ThS. Nguyễn Văn Bình, KS. Lê Thị Hoài Phương Trường Đại học Nông Lâm Huế)
“Một số vấn đề liên quan đến khiếu nại về đất đai trong quá trình thi hành luật đất đai”. Do hội nghị Khoa học và Công nghệ lần thứ 1: “Tài nguyên và Môi trường vì
sự Phát triển Bền vững”
“Ứng dụng GIS kết hợp công nghệ WED xây dựng mô hình quản lý tài nguyên đất” (Trường Đại học Nông Lâm Hà Nội)
“Ứng dụng GIS xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại phường Sơn Phong, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” (ThS. Ngô Hữu Hạnh – Trường Cao đẳng Công nghệ – Kinh tế thủy lợi miền Trung)
Tuy nhiên việc nghiên cứu “Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại xã Yang Bắc huyện ĐăkPơ tỉnh Gia Lai bằng công nghệ GIS” còn mới mẻ, ít được đưa vào nghiên cứu và sử dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Do đó hướng nghiên cứu của đề tài là hoàn toàn mới nhằm áp dụng công nghệ mới vào xây dựng, khai thác và quản lý cơ sở dữ liệu về đất đai của khu vực nghiên cứu là cần thiết
6. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
6.1. Quan điểm hệ thống
Quan điểm này giúp cho việc xem xét đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định nhằm tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng
Khi tìm hiểu về tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại xã Yang Bắc huyện Đak Pơ tỉnh Gia Lai bằng công nghệ GIS thì chúng ta cần phải đặt nó trong toàn bộ
hệ thống dữ liệu đất đai của cả nước và mối quan hệ với các ngành khác trong tỉnh bởi các yếu tố sử dụng đất có quan hệ với nhau
6.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Trang 12 Các số liệu về kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất
Các báo cáo, kế hoạch, chương trình về phát triển kinh tế xã hội. Nghiên cứu các báo cáo hàng năm và các kết quả có sẵn có liên quan
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được tổng hợp, xử lý và được phản ánh thông qua các bảng biểu
7.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Sử dụng bản đồ của khu vực nghiên cứu trong việc thiết lập cơ sở dữ liệu đầu vào cũng như nhằm khảo sát lại thực trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
7.3. Phương pháp thực địa
Tìm hiểu khảo sát, điều tra tình hình sử dụng đất, công tác quy hoạch, quản lý đất, đăng ký và quản lý hồ sơ đất đai cũng như là cách thức, phương pháp và các ứng dụng về phần mềm tại địa phương
Khảo sát và chỉnh sửa những khu vực trên bản đồ có sự sai sót hoặc chưa được phân giới rõ ràng, bao gồm tên loại đất, ranh giới đất.
7.4. Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Trong quá trình thực hiện đề tài, việc phân tích, thống kê, hiện trạng, số lượng đất là điều cần thiết cho công tác thiết lập cơ sở dữ liệu đầu vào
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:
Trang 14B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
1.1.1. Khái niệm về đất đai
Đất đai là một tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi Quốc gia, là điều kiện để tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật trên Trái đất
Đất là vật thể thiên nhiên tạo thành dưới tác động tổng hợp của các yếu tố hình thành đất: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Tất cả các loại đất đều được hình thành sau một quá trình thay đổi lâu dài trong thiên nhiên. Chất lượng đất phụ thuộc vào đá mẹ, cỏ cây, sinh vật sống trên đất và trong lòng đất
Theo định nghĩa của FAO năm 1976 thì đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất bao gồm các thành phần của môi trường vật lý và sinh học có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất như: Khí hậu, địa hình, đất, nước và sinh vật. Nó cũng bao gồm các kết quả của các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại, chẳng hạn như sự khai phá vùng biển, sự khai hoang các vùng thực vật, cũng như sự mặn hóa các vùng đất. Như vậy, khi xem xét đất đai, thực chất là chúng ta đang xem xét một thể tổng hợp
tự nhiên
Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn,
là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong Nông Lâm nghiệp”
Theo Luật đất đai năm 1993 của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:
“Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
Chức năng sản xuất: Đất đai là cơ sở cho rất nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống con người qua quá trình sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm sinh vật khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp qua chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại thuỷ hải sản.
Trang 15Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước: Đất đai là kho tàng lưu trữ nước mặt và nước ngầm vô tận, có tác động mạnh tới chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và có vai trò, điều tiết nước rất to lớn
Chức năng dự trữ: Đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi nhu cầu sử dụng của con người
Chức năng không gian sự sống: Đất đai có chức năng tiếp thu, gạn lọc, là môi trường đệm và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại
Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử: Đất đai là trung gian để bảo vệ, bảo tồn các chứng cứ lịch sử, văn hoá của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết trong quá khứ và cả về việc sử dụng đất đai trong quá khứ
Chức năng vật mang sự sống: Đất đai là không gian cho sự sống của con người, cho đầu tư, sản xuất và cho sự dịch chuyển của động vật, thực vật giữa các vùng khác nhau của hệ sinh thái tự nhiên
1.1.3 Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai
Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng thể các tác động có hướng đích của Nhà nước lên các đối tượng quản lý Nhà nước về đất đai (các đối tượng sử dụng đất, mối quan hệ giữa đối tượng sử dụng đất và Nhà nước) và khách thể quản lý Nhà nước về đất đai (các loại quỹ đất nhằm mục tiêu sử dụng hợp lý qũy đất đai thông qua các công
cụ quản lý như: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công cụ tài chính, công cụ pháp luật,…)
1.1.4. Vai trò và nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai
a. Vai trò quản lý Nhà nước về đất đai:
Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai. Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất
Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai
Phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết
b. Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai:
Nguyên tắc thống nhất về quản lý Nhà nước: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.
Trang 16Cơ quan địa chính ở Trung ương và địa phương chịu trách nhiệm trước Chính phủ và
cơ quan chính quyền cùng cấp trong quản lý Nhà nước về đất đai
Nguyên tắc tập trung dân chủ: QLNN về đất đai của chính quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh thổ: Có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo chuyên ngành
Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử: QLNN của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của luật pháp của Nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử trong QLĐĐ qua các thời kỳ
1.1.5. Cơ sở dữ liệu đất đai
Cơ sở dữ liệu đất đai: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính, dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử
CSDL đất đai là một trong 7 dữ liệu của CSDL Tài nguyên Môi trường quốc gia. Xét về nội dung thì thông tin, dữ liệu về đất đai bao gồm:
Thông tin về chính sách, pháp luật đất đai
Thông tin về hiện trạng sử dụng đất
Thông tin về đăng ký và thống kê đất đai (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê, thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất)
Dữ liệu phi không gian: là dữ liệu thuộc tính gắn liền với từng thửa đất
Như vậy, bản chất CSDL đất đai bao gồm các thực thể địa lý liên quan đến tài nguyên thửa đất, giao thông, thủy văn… các thông tin thuộc tính về kinh tế xã hội vì vậy, CSDL đất đai nằm trong hệ thống thông tin địa lý về kinh tế xã hội pháp lý. Vì vậy, CSDL đất đai nằm trong hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống này sẽ có
Trang 17ra quyết định cho từng mục đích cụ thể
Vai trò của CSDL đất đai trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Hỗ trợ đánh giá tình hình sử dụng đất, biến động sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Phục vụ xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt có thể đánh giá định lượng đa chỉ tiêu để tìm vị trí tối ưu
Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đến kinh tế, xã hội, môi trường
Hỗ trợ tính toán bồi thường, giải phóng mặt bằng
Ngoài những vai trò chính như trên thì CSDL đất đai còn có nhiều những ưu điểm khác như: Chức năng quản lý truy cập với nhiều người sử dụng, năng suất cao hơn, chức năng sao lưu dữ liệu nhanh chóng, thuân tiện di chuyển, bảo quản, chức năng bảo mật tốt, chúc năng tra cứu, thống kê, phân tích xử lý số liệu. Như vậy có thể nói CSDL đất đai có vai trò trong hầu hết các bước của các quy trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Hình 1.1. Mô hình cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin đất đai
Trang 18GIS là một kỹ thuật quản lý thông tin dựa vào máy tính được sử dụng bởi con người vào mục đích lưu trữ, quản lý và xử lý các số liệu thuộc về địa lý hoặc không gian nhằm phục vụ vào các mục đích khác (Võ Quang Minh, 2009)
Theo ESRI, tập đoàn nghiên cứu và phát triển các phần mềm GIS nổi tiếng, GIS
là một tập hợp có tổ chức, có phần cứng, có phần mềm máy tính, dữ liệu địa lý và con người, được thiết kế nhằm mục đích nắm bắt, lưu trữ, cập nhật, điều khiển và phân tích
và hiển thị tất cả các dạng thông tin liên quan đến vị trí địa lý
Tuy nhiên, các khái niệm về GIS đều dựa trên 3 yếu tố quan trọng là: chất lượng
đồ họa, hệ thống vi tính số kỹ thuật cao và khả năng phân tích số liệu không gian.GIS cho phép tạo lập bản đồ, phối hợp thông tin, khái quát các viễn cảnh, giải quyết các vấn đề phức tạp và phát triển các giải pháp hiệu quả mà trước đây không thực hiện được. GIS là một công cụ được các cá nhân, tổ chức sử dụng nhằm hướng tới các phương thức mới để giải quyết vấn đề
1.2.2. Các thành phần của GIS
Theo Võ Quang Minh (2009), một hệ thống thông tin địa lý bao gồm những thành phần cơ bản sau:
Phần cứng: bao gồm máy tính điều khiển mọi hoạt động của một hệ thống và các thiết bị ngoại vi: bàn số hóa, máy quét, máy in, máy vẽ, camera…: có khả năng thực hiện các chức năng vào ra và xử lý thông tin phần mềm
Phần mềm: Cung cấp công cụ và các nhóm chức năng:
Thu thập dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính từ các nguồn dữ liệu khác nhau
Lưu trữ, điều chỉnh, cập nhật, tổ chức các thông tin không gian và thông tin thuộc tính
Trang 19 Đưa ra các thông tin theo yêu cầu dưới dạng khác nhau.
Ngoài ra phần mềm cần phải có khả năng phát triển và nâng cấp theo các yêu cầu tiếp theo của hệ thống
Dữ liệu: Đây là thành phần quan trọng nhất của một hệ GIS. Các dữ liệu không gian (Spatial Data) và các dữ liệu thuộc tính (None Spatial Data) được tổ chức theo một mục tiêu xác định bởi một hệ quản trị cơ sở dữ liệu Data Base Management System (DBMS)
Con người ( chuyên viên): Đây là một trong những hợp phần quan trọng của công nghệ GIS, đòi hỏi những chuyên viên hướng dẫn sử dụng hệ thống để thực hiện các chức năng phân tích và xử lý các số liệu. Đòi hỏi phải thông thạo về việc lựa chọn các công cụ GIS để sử dụng, có kiến thức về các số liệu đang được sử dụng và thông hiểu các tiến trình đang và sẽ thực hiện.
Chính sách và cách thức quản lý: đây là một trong những hợp phần quan trọng
để đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống, là yếu tố quyết định sự thành công của việc phát triển công nghệ GIS. Hệ thống GIS cần được điều hành bởi một bộ phận quản lý, bộ phận này phải được bổ nhiệm để tổ chức hoạt động hệ thống GIS một cách
có hiệu quả để phục vụ người sử dụng thông tin
1.2.3. Các đặc điểm của GIS
a) Khả năng chồng xếp các bản đồ (Map Overlaying)
Việc chồng lắp các bản đồ trong kỹ thuật GIS là một khả năng ưu việt của GIS trong việc phân tích các số liệu thuộc về không gian, để có thể xây dựng thành một bản đồ mới mang các đặc tính hoàn toàn khác với bản đồ trước đây. Dựa vào kỹ thuật chồng lắp các bản đồ mà chúng ta có các phương pháp sau:
Trang 20nó được tạo thành dựa vào bản đồ trước đây
Việc phân loại bản đồ rất quan trọng vì nó cho ra các mẩu khác nhau. Một trong những điểm quan trọng trong GIS là giúp để nhận biết được các mẩu đó. Đó có thể là những vùng thích nghi cho việc phát triển đô thị hoặc nông nghiệp mà hầu hết được chuyển sang phát triển dân cư. Việc phân loại bản đồ có thể được thực hiện trên một hay nhiều bản đồ
c) Khả năng phân tích (SPATIAL ANALYSIS)
Tìm kiếm (Searching): Nếu dữ liệu được mã hoá trong hệ vector sử dụng cấu trúc lớp hoặc lớp phủ, thì dữ liệu được nhóm lại với nhau sau cho có thể tìm kiếm một lớp một cách dễ dàng
Trong GIS phương pháp này khó khăn khi mỗi một thành phần có nhiều thuộc tính. Một hệ lớp đơn giản yêu cầu dữ liệu đối với mỗi lớp phải được phân lớp trước khi đưa
vào
Vùng đệm (Buffer zone): Nếu đường biên bên trong thì gọi là lõi còn nếu bên ngoài đường biên thì gọi là đệm (buffer). Vùng đệm sử dụng nhiều thao tác phân tích
và mô hình hoá không gian
Nội suy (Spatial Interpolation): Trong tình huống thông tin cho ít điểm, đường hay vùng lựa chọn thì nội suy hay ngoại suy phải thực hiện để có nhiều thông tin hơn. Nghĩa là phải giải đoán giá trị hay tập giá trị mới, phần này mô tả nội suy hướng điểm,
có nghĩa một hay nhiều điểm trong không gian được sử dụng để phát sinh giá trị mới cho vị trí khác nơi không đo dữ liệu được trực tiếp
Trang 21Với dữ liệu mang tính không gian, MapInfo có thể nhập dữ liệu từ Autocad, Arc/Info, Microstation…thông qua các định dạng file chuẩn là *DXF và ngược lại MapInfo cũng có thể xuất dữ liệu cho các phần mềm khác
Với dữ liệu thuộc tính MapInfo có khả năng trao đổi với các phần mềm như Excel, Foxpro, Dbase, Acview
Mỗi Table là tập hợp các File về thông tin đồ họa hoặc phi đồ họa các bảng ghi
mà hệ thống tạo ra. Cơ cấu tổ chức thông tin của các Table chứa các đối tượng địa lý được tổ chức theo tập in sau:
Tab: File mô tả khuôn dạng. Chứa các thông tin mô tả cấu trúc dữ liệu, đó là các File ở dạng văn bản mô tả khuôn dạng của File lưu trữ thông tin
Trang 22MapInfo có thể lưu trữ các thông tin bản đồ theo từng đối tượng. Các lớp đối tượng này là các đối tượng chính trên bản đồ như:
Lớp thông tin về đường
Lớp thông tin về điểm
Lớp thông tin về vùng
Lớp thông tin về đối tượng khác (như đối tượng chữ, các đối tượng ký hiệu…).Với các tổ chức thông tin như vậy đã giúp cho phần mềm MapInfo xây dựng thành các khối thông tin độc lập cho các mảnh bản đồ từ máy tính. Điều đó giúp chúng
ta thành lập các bản đồ từ máy tính linh hoạt hơn theo cách các tập hợp thông tin khác nhau trong hệ thống, dễ dàng thêm vào mảnh bản đồ đã có các lớp thông tin mới hoặc xác định các lớp đối tượng khi cần thiết
Là phần mềm của hệ thống GIS, MapInfo có khả năng liên kết giữa dữ liệu mang tính chất thuộc tính và dữ liệu mang tính chất không gian. Chức năng này đã giúp cho chúng ta có thể quản lý đồng thời và riêng biệt từng loại dữ liệu, trên cơ sở đó giúp chúng ta có thể truy cập, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện cả hai loại dữ liệu này
1.3.2. Phần mềm MicroStation
MicroStation là phần mềm đồ hoạ được phát triển từ CAD của tập đoàn Intergraph, là môi trường đồ hoạ cao cấp làm nền để chạy các phần mềm của Intergraph và Famis. Các công cụ làm việc với đối tượng đồ hoạ trong MicroStation rất đầy đủ và mạnh, giúp thao tác với dữ liệu đồ hoạ nhanh, đơn giản, giao diện thuận tiện cho người sử dụng. MicroStation còn cung cấp các công cụ nhập, xuất (Import, Export) dữ liệu đồ hoạ từ các phần mềm khác thông qua các file (*.dxf) hoặc (*.dwg) . Đối với GIS, MicroStation là một trong những phần mềm đóng vai trò trung gian rất quan trọng trong việc thiết lập cơ cở dữ liệu không gian
1.4. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG GIS TRONG XÂY DỰNG, KHAI THÁC VÀ QUẢN LÝ ĐẤT Ở VIỆT NAM
Ở nước ta, từ thời kỳ bao cấp cho đến những năm 90: Hệ thống dữ liệu không gian được xây dựng chủ yếu ở các cơ quan chuyên ngành như Tổng cục Địa chính cũ. Các sản phẩm chủ yếu là các bản đồ giấy được xây dựng theo tiêu chuẩn múi chiếu và
hệ quy chiếu của Nga, theo toạ độ Gauss và được lấy tên theo hệ thống toạ độ HN –
72. Ở giai đoạn này chưa có khái niệm áp dụng về lĩnh vực GIS
Từ những năm 1990 – 2000, bắt đầu thời kỳ mở cửa, hệ thống dữ liệu bản đồ của Việt Nam được dần dần chuyển sang hệ toạ độ WGS84 theo quy định về múi chiếu của Mỹ và chính thức chuyển sang hệ toạ độ VN2000 từ năm 2000.
Trang 23về lĩnh vực GIS ra đời. Hầu hết các ban ngành ở Việt Nam tiếp cận nhanh chóng các ứng dụng mạnh mẽ về tính ưu việt của lĩnh vực này trong các công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên, đánh giá tác động môi trường quản lý sử dụng đất
Một số phần mềm lớn của GIS như ArcGIS, Mapinfo đã được sử dụng rộng khắp trên cả nước để xây dựng bản đồ địa hình, bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên phạm vi toàn quốc. Năm 1998, tổng cục địa chính đã xây dựng dự án khả thi xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên đất. Mục tiêu của dự án là: nghiên cứu phân tích thiết kế tổng thể hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên đất và kế hoạch triển khai dài hạn. Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin cho cơ sở dữ liệu tài nguyên đất ở trung ương và các tỉnh bao gồm: đầu tư từng bước phần cứng phần mềm, đường truyền cho cơ sở dữ liệu thành phần, đào tạo cán bộ tin học, xây dựng chuẩn thông tin thống nhất
Với các dự án được hoàn thành, đã phát huy tác dụng trong việc đáp ứng yêu cầu công tác quản lý và sử dụng đất đai theo Luật đất đai năm 2003, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng đất đai, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người
sử dụng đất, hỗ trợ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, thu hút đầu tư, lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, đăng kí, định giá đất và bất động sản
Hiện nay, Viện phát triển Tài nguyên Môi trường đất đã ứng dụng công nghệ GIS sản xuất được 44 loại bản đồ khác nhau liên quan đến tình trạng dinh dưỡng đất
sử dụng phân bón, nhiễm mặn, sử dụng đất
Quản lý sử dụng đất là lĩnh vực ứng dụng GIS tương đối mạnh mẽ ở nước ta, cho đến nay một số Sở địa chính các tỉnh đã ứng dụng GIS vào quản lý đất đai. Tuy nhiên, việc ứng dụng cũng mới chỉ hạn chế ở các sở trong tỉnh còn các phòng ban cấp huyện,
xã hầu như chưa được ứng dụng
Trang 24CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CỦA XÃ YANG BẮC HUYỆN ĐAK PƠ TỈNH GIA LAI
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG XÃ YANG BẮC
2.1.1. Vị trí địa lý
Xã Yang Bắc nằm ở phía Nam huyện Đak Pơ, cách trung tâm huyện 11 km theo đường liên xã và quốc lộ 19 huyện Đak Pơ. Tọa độ địa lý là 13°55′8″B 108°32′46″Đ
b. Khí hậu
Huyện Đak Pơ nói chung và xã Yang Bắc nói riêng là vùng đất nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, trên bậc thềm chuyển tiếp giữa cao nguyên và miền Duyên hải Trung
bộ nên khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cao nguyên, mang sắc thái Đông Trường Sơn, mùa mưa thường đến muộn và kết thúc muộn hơn các huyện Tây Trường Sơn từ 1 2 tháng
Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 11 và kéo dài đến tháng 12, lượng mưa tập trung chiếm 65% lượng mưa cả năm và mùa khô từ tháng giêng đến tháng 5 năm sau. Cụ thể:
Trang 25Xã Yang Bắc có hệ thống sông suối và mặt nước tương đối nhiều như sông Ba, suối Cà Tung, suối Xà Wòng, phân bố đều khắp trên lãnh thổ
* Nguồn nước mặt: Xã có hệ thống sông, suối, ao, hồ tương đối nhiều, phân bố đều. Do vậy nguồn nước mặt trong vùng khá dồi dào, đảm bảo yêu cầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Tuy nhiên vào mùa mưa hệ thống suối thường bị ngập lụt cục bộ gây xói mòn hai bên bờ, phá hoại mùa màng, về mùa khô hiện tượng thiếu nước ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Sông Ba: Chảy qua địa bàn xã dài 12,4 km, độ dốc dòng chảy bình quân 2 – 3o, lượng nước chảy khoảng 4m3/giây
* Nguồn nước ngầm: Chưa có tài liệu điều tra nước ngầm, nhưng qua quan sát ở một số giếng đào cho thấy tầng nước ngầm trong vùng tương đối cạn, độ sâu từ 8 – 10m, chất lượng nước tốt có thể dùng cho sinh hoạt và sản xuất
d. Các nguồn tài nguyên khác
Tài nguyên đất
Đây là tài nguyên quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội, nhờ có sông Ba chảy qua đã tạo thung lũng thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là khai thác để trồng lúa, hoa màu và cây công nghiệp lâu năm
* Về số lượng: với diện tích 6.171,41 ha phần lớn đất có tầng canh tác dày, tương đối phù hợp với phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, đặc biệt thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày. Một số vùng thuận lợi cho phát triển trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh
Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng của xã Yang Bắc chủ yếu là rừng sản xuất với diện tích 1163,
Trang 26 Tài nguyên khoáng sản
Xã Yang Bắc chỉ có tài nguyên khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xây dựng như gạch, ngói, cát, sét…phân bố rộng khắp. Sét có hàm lượng cacbon vừa đảm bảo cho sản xuất gạch ngói. Hiện nay tài nguyên khoáng sản đang được nhân dân địa phương khai thác sử dụng
Tài nguyên nhân văn
Cũng như nhiều nơi trong huyện, trong tỉnh người dân Yang Bắc qua các thế hệ luôn thừa kế truyền thống tốt đẹp của cha ông, phát huy có chọn lọc nền văn hóa lúa nước, giữ gìn truyền thống của người xưa để lại đặc biệt là truyền thống : “ Uống nước nhớ nguồn”, thờ cúng ông bà tổ tiên, tưởng nhớ các bậc tiền hiền được thể hiện rõ nét vào những ngày tết cổ truyền, ngày giỗ, chạp mã, hiệp tế…nhằm ôn lại truyền thống của gia tộc, họ hàng, làng xóm
Bên cạnh đó người dân có truyền thống cần cù trong lao động, anh dũng trong đấu tranh chống phong kiến, chống giặc ngoại xâm, nhân dân trong xã đã cùng với cả nước đóng góp sức người, sức của cho cách mạng để giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
2.1.3. Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội
a. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế Nông Lâm nghiệp, Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và Thương mại – Dịch vụ đến cuối năm 2014 là 84%, 12%, 4%. Kinh tế nông nghiệp là ngành kinh tế chủ lực của xã, đem lại thu nhập chính cho nhân dân. Thu nhập bình quân đầu người là 4,8 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo là 67,15%
Về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng toàn xã năm 2014 là 2.361 ha trong đó một số cây trồng chính như: mía 1.231 ha, ngô 466 ha, rau các loại 300 ha, lúa 175 ha (bao gồm cả lúa rẫy) và một số loại cây trồng khác
Chăn nuôi: hiện nay người dân tập trung chăn nuôi chủ yếu như: trâu 90 con, bò 1.776 con, heo 1.025 con, dê 712 con, gia cầm 3.292 con. Quy mô chăn nuôi còn nhỏ
lẻ trong hộ gia đình, sản phẩm trao đổi, mua bán chủ yếu là bò, dê, heo và gia cầm
Thủy sản: hiện trên địa bàn xã ngành chăn nuôi thủy sản phát triển chậm, chủ yếu là phục vụ trong gia đình và mua bán, trao đổi tại chỗ
Lâm nghiệp: trong những năm gần đây, việc các hộ dân tự đầu tư trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc ngày càng phát triển mạnh, nhưng từ năm 2014 trở lại đây
có dấu hiệu chậm lại một phần do kinh tế thế giới bất ổn và giá cả sản phẩm đầu ra không ổn định
Trang 27+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: các ngành chủ yếu là khai thác cát, xay xát.+ Thương mại – dịch vụ: chỉ có một số ít hộ buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ, chủ yếu là các mặt hàng tạp hóa phục vụ cho sinh hoạt đời sống nhân dân của từng cụm dân cư các làng
b. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Khu vực kinh tế nông nghiệp
* Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng toàn xã năm 2014 là 2.361 ha trong đó một số cây trồng chính như: mía 1.231 ha, ngô 466 ha, rau các loại 300 ha, lúa 175 ha (bao gồm cả lúa rẫy) và một số loại cây trồng khác
Diện tích gieo trồng của xã chủ yếu là cây lúa, cây mỳ, cây mía và cây rau, ngô với năng suất hàng năm đạt khá
* Hiện trạng chăn nuôi:
Chăn nuôi: hiện nay người dân tập trung chăn nuôi chủ yếu như: trâu 90 con, bò 1.776 con, heo 1.025 con, dê 712 con, gia cầm 3.292 con. Quy mô chăn nuôi còn nhỏ
lẻ trong hộ gia đình, sản phẩm trao đổi, mua bán chủ yếu là bò, heo và gia cầm
Thủy sản: hiện trên địa bàn xã ngành chăn nuôi thủy sản phát triển chậm, chủ yếu là phục vụ trong gia đình và mua bán, trao đổi tại chỗ
* Sản xuất lâm nghiệp: trong những năm gần đây, việc các hộ dân tự đầu tư trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc ngày càng phát triển mạnh nhưng từ năm 2014 trở lại đây có dấu hiệu chậm lại một phần do kinh tế bất ổn và giá cả đầu ra không ổn định
Khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ: hiện nay trên địa bàn xã phát triển rất chậm, còn mang tính tự phát chưa có quy hoạch phát triển theo định hướng
+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: các ngành chủ yếu là khai thác cát, xay xát.+ Thương mại – dịch vụ: chỉ có một số ít hộ buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ, chủ yếu là các mặt hàng tạp hóa phục vụ cho sinh hoạt đời sống nhân dân của từng cụm dân cư các làng
c. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Thu nhập của người dân chủ yếu từ Nông – Lâm nghiệp và một số hộ kinh doanh dịch vụ nhỏ lẻ
Trang 28thu nhập bình quân chung của tỉnh 14.769.000 đồng/người/năm, mức thu nhập bình quân của xã đạt 0,42 lần mức bình quân chung của tỉnh.
* Đánh giá mức độ đạt được so với tiêu chí 10 của Bộ tiêu chí Quốc gia: Chưa đạt
Theo kết quả điều tra hộ nghèo năm 2014, xã Yang Bắc có 560 hộ nghèo chiếm 67,15% trên tổng số hộ, cụ thể như sau:
Cơ cấu lao động trong các ngành NN – CN – TMDV: 85,44%, phi nông nghiệp chiếm 14,56%
Mức độ đạt so với tiêu chí trung bình, dự báo thời gian có thể đạt được so với tiêu chí đến năm 2020
Bảng 2.1: Bảng hiện trạng phân bố dân số năm 2014
STT Làng
Tổng số hộ, khẩu trên địa bàn Trong đó Tỷ lệ hộ
nghèo(%)
Số hộ Số khẩu Hộ nghèo Khẩu
Trang 29 Tỷ lệ lao động qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn, có 243 lao động chiếm tỷ lệ 11% lao động trong độ tuổi, phân ra như sau:
+ Sơ cấp: có 133 lao động, chiếm 6% trên tổng số lao động (3 tháng trở lên);+ Trung cấp: có 88 lao động, chiếm 4% trên tổng số lao động;
+ Đại học: có 22 lao động, chiếm 1% trên tổng số lao động;
Do mặt bằng dân trí của nhân dân trong xã không đều, chất lượng lao động thấp.
Số lao động qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ thấp, trong tổng số 243 lao động qua đào tạo đạt 11% còn lại là lao động chưa được đào nghề và lao động phổ thông đang làm việc trong lĩnh vực Nông nghiệp tại địa phương
Với cơ cấu và trình độ lao động như trên sẽ là những khó khăn cơ bản cho xã trong việc chuyển dịch lao động trong các thành phần kinh tế theo hướng tăng dần lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp, đồng thời cũng là khó khăn trong việc chuyển giao kỹ thuật, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, dịch vụ, từ đó tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội chung của xã
Trên địa bàn xã có 834 nhà, hàng năm địa phương luôn tạo điều kiện để xóa nhà tạm bợ trên địa bàn xã như Chương trình 134, 167, 193, Đại đoàn kết và các chương trình hỗ trợ khác. Hiện nay trên địa bàn xã còn 22% hộ sử dụng nhà tạm, số nhà đạt chuẩn của bộ xây dựng đạt 18%. Nhà ở khu dân cư phân bố rải rác, không tập trung, không đồng đều. Việc xây dựng nhà ở địa phương chưa đảm bảo quy hoạch, cụ thể: không có thiết kế mẫu, không có hệ thống thoát nước
* Đánh giá mức độ đạt được so với Bộ tiêu chí Quốc gia: chưa đạt
e. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng