QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ, BI VÀ HÙNG 275 NĂM LY LOẠN QUAY CUỒNG Lê Văn Tích ĐẶT VẤN ĐỀ Lịch sử không thể “làm mới” nhưng cách viết bưng bít hay tô hồng là lối viết vô cùng lạc hậu Vì thế mà môn sử khiến cho người học chán ngán, không hấp dẫn chăng? Lịch sử là bi thương nhưng lịch sử cũng giống như một chuỗi ngọc Hiểu biết về lịch sử tức là thấu tỏ những nỗi bi thương mà cha ông ta phải nếm trải Từ đó, người hậu thế biết “gạn đục khơi trong”, hạn chế được những sai lầm lặp lại đã xảy ra trong quá.
Trang 1275 NĂM LY LOẠN QUAY CUỒNG
Lê Văn Tích
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử không thể “làm mới” nhưng cách viết bưng bít hay tô hồng là lốiviết vô cùng lạc hậu Vì thế mà môn sử khiến cho người học chán ngán, khônghấp dẫn chăng? Lịch sử là bi thương nhưng lịch sử cũng giống như một chuỗingọc Hiểu biết về lịch sử tức là thấu tỏ những nỗi bi thương mà cha ông ta phảinếm trải Từ đó, người hậu thế biết “gạn đục khơi trong”, hạn chế được nhữngsai lầm lặp lại đã xảy ra trong quá khứ Đồng thời, có những quyết sách về nội trịngoại giao phù hợp, không lạc đường, lạc điệu với trào lưu văn minh của thếgiới
Sử sách không chỉ là sự ghi chép biên niên một cách thuần túy mà quantrọng hơn là sự suy xét ngọn nguồn vận hội và thách thức của một quốc gia Thế
hệ mai sau xem đó như là một chiếc gương “thần” giúp họ tận dụng tối đa vậnhội để phát triển cũng như tránh được những thách thức ly loạn cho nhiều thế hệ
Lịch sử của một dân tộc dù “dày cộp”, có trải qua hàng chục nghìn năm đichăng nữa, nếu đời sống hiện thực của xã hội cứ mãi mù mờ, lạc hậu thì sự “dàycộp” ấy phỏng có nghĩa lý gì? Điều quan trọng là, những bài học nào cần đượcrút ra, cần được khái quát, tổng kết để cho các thế hệ tương lai thấy đó như lànhững “chuỗi ngọc” quý giá cần phải được giữ dìn, áp dụng vào trong đời sốnghiện tại và tương lai một cách tốt nhất
Trong lịch sử thế giới, không nhiều quốc gia có được bề dày lịch sử nhưdân tộc Việt Nam Nói như thế không đồng nghĩa với việc lấy nó làm điều tựmãn thái quá, ngược lại, phải xem đó như là những bài học đắt giá để chắt lọc vàtruyền dạy cho các thế hệ con cháu Đừng bao giờ cao ngạo, “tự sướng” quá mức
về thành tích của dân tộc mình, làm sao để đất nước không bị xoáy vào trong
Trang 2những cơn ly loạn của chiến tranh, đó mới là điều quan trọng, mới là điều kiệntốt nhất để xây dựng và phát triển đất nước.
Suốt chiều dài lịch sử, càng tự hào bao nhiêu về những chiến công hiểnhách của cha ông trong sự nghiệp chống quân xâm lược thì chúng ta lại càng đauxót bấy nhiêu về những cuộc tranh quyền đoạt vị, dành mộng bá vương Không
ai khác, chính những người anh em thân tộc, thủ túc, là người Việt Nam vớinhau Những cuộc tranh dành “quyền lợi” ấy đã gây ra biết bao cảnh nồi da xáothịt, máu chảy đầu rơi, lòng dân ly tán, nhân dân đói khổ phiêu bạt tứ phương.Nỗi ám ảnh ấy trở thành một miền ký ức sợ hãi trong tiềm thức của nhiều thế hệngười dân Việt Nam hiện nay
Như tên của cuốn sách, “275 năm ly loạn quay cuồng”, tác giả chỉ làmcông việc chọn lọc và biên khảo lại những gì đã được viết trong nhiều bộ thông
sử Tuy vậy, cuốn sách này muốn hướng đến đối tượng là công chúng rộng rãihơn, những người không có điều kiện và thời gian để đọc những bộ thông sửnghìn trang cũng có thể hiểu được một cách đầy đủ về một giai đoạn lịch sử rắcrối, lắm vua nhiều chúa, lắm ly loạn mà cũng rất lẫy lừng Đó là giai đoạn từ khi
họ Mạc đoạt ngôi nhà Lê (1527) đến khi Nguyễn Ánh lập lại nền độc lập thốngnhất của quốc gia phong kiến Việt Nam (1802)
Trong 275 năm ấy, nhiều tên gọi, khái niệm như “Nam Triều, Bắc Triều,Vua Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, Đàng Trong, Đàng Ngoài, Tây Sơn, NguyễnVương”… Những khái niệm này không diễn ra theo tuần tự thời gian của lịch sử
mà có lúc chồng chéo, đan xen, vướng víu vào nhau Nếu không phải là mộtngười chuyên nghiên cứu sử thì không dễ mà phân biệt chút nào
Nội dung của cuốn sách này tập trung vào chủ đề: “Ly loạn quay cuồng”,nói về những cuộc tranh đoạt mộng bá vương giữa các tập đoàn phong kiến, giữanhững mối quan hệ “huynh đệ tương tàn” như Lê – Mạc; Trịnh – Mạc; Trịnh –Nguyễn; Tây Sơn – Nguyễn Vương
Trang 3Cuốn sách không “chép” lại tất cả những sự kiện chi ly giống như nhữngcuốn thông sử dày cộp đã viết, mà chỉ chọn lọc những sự kiện và nhân vật “vừađủ” đại diện cho một thời kỳ lịch sử, ngắn mà không thiếu, để người đọc hìnhdung một cách dễ dàng, nhẹ nhàng nhất về giai đoạn lịch sử mà mình mongmuốn tìm hiểu
Không giống với những cuốn sử truyền thống là phân chia rạch ròi giữacác triều đại, thời kỳ Cuốn sách này cố gắng chắp nối tính liền mạch, không đứtquãng trong suốt 275 đúng như chủ đề mà cuốn sách hướng đến: “275 năm lyloạn quay cuồng”
NỘI DUNG
Thế kỷ XV, lịch sử Đại Việt ghi nhận những sự kiện thay đổi to lớn Năm
1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi của nhà Trần, chấm dứt tạm thời, thời kỳ ổn địnhlâu dài của đất nước Đến lượt mình, cha con nhà Hồ Quý Ly phải đối mặt vớinhững khó khăn, chóng vánh Trong nước, lòng dân không phục, tầng lớp quanlại triều thần thì ly tán, bất an vì ngôi vị mà họ Hồ đạt được là không chính danh.Bên ngoài, giặc Tàu nhân cơ hội rối ren đã xua quân sang đánh cướp nước ta.Năm 1407, cha con nhà Hồ Quý Ly bị giặc bắt, số phận của bách tính Đại Việtlại rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh
Năm 1418, tại núi rừng Lam Sơn, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh ThanhHóa Lê Lợi cùng 18 hào kiệt như Lê Lai, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lưu NhânChú… đã tổ chức hội thề Lũng Nhai, quyết tâm đánh giặc cứu nước Lê Lợi
thường nói với mọi người: “Bậc trượng phu sinh ra ở đời phải cứu nạn lớn lập
công to, để tiếng thơm hàng nghìn thuở, chứ đâu lại xun xoe đi phục dịch kẻ khác” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục).
Sau 10 năm nếm mật nằm gai, “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí
nhân để thay cường bạo”, Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đã quét sạch bóng
Trang 4quân thù, chấm dứt 20 năm đô hộ tàn bạo của phong kiến Minh, mở ra thời kỳphát triển mới của đất nước - thời Lê Sơ.
1 CUỘC LY LOẠN GIỮA LÊ - MẠC - TRỊNH (1527 – 1592)
Bảy mươi năm đầu của nhà Lê Sơ, từ đời Lê Thái Tổ - Lê Lợi (1428 ) đến
Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông (1497), nhà Lê sơ đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn trong xây dựng và phát triển đất nước Nền độc lập vàthống nhất được cũng cố Đại Việt được xem là quốc gia thịnh trị nhất trong khuvực Đông Nam Á bấy giờ
Tuy nhiên, từ đời vua Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông, LêCung Hoàng, trong khoảng 30 năm từ 1498 - 1527 thì chính sự ngày càng phiền
hà, mục nát Vua thì “miệt mài” trong những cuộc truy hoan vô độ, xây dựng lâuđài cung điện nguy nga tốn kém Nhân dân đã mỉa mai gọi Lê Uy Mục là “vuaquỷ”, gọi Lê Tương Dực là “vua lợn” Các võ tướng, triều thần thì chia bè kéocánh, tranh dành quyền lực, đánh giết lẫn nhau liên miên suốt nhiều năm trời.Quan lại địa phương thì cậy quyền thế ra sức vơ vét cướp bóc, đời sống nhân dâncực khổ Sách Đại Việt Sử Ký Toàn thư có đoạn: “Năm ấy, trong nước đói to, xácngười chết đói nằm gối lên nhau… Bấy giờ vua còn bé, thế nước lâm nguy, cáctướng đều tự xưng hùng xưng bá gây ra hiềm khích với nhau”
Trong một bài hịch của nhóm chống Uy Mục do Lương Đắc Bằng soạnnhư sau:
“Tước đã hết mà lạm thưởng không biết,
Dân đã cùng mà lạm thu không cùng
Phú thuế thu đến tơ tóc mà dùng của như bùn,
Bạo ngược như Tần Chính, đãi công thần như chó ngựa, coi dân chúng như cỏ rác” (LSVN Cổ Trung)
Đời sống nhân dân ngày càng đắm chìm trong đói khổ, phiêu tán
Trang 5Trong lịch sử của hầu hết các triều đại quân chủ từ Trung Hoa đến ViệtNam, “Thường là các ông vua đầu triều đại chịu đựng gian khổ qua chiến chinh,
đã đánh đổ ông vua trước đang chìm trong xa hoa lạc thú Nhưng đến đời vuathứ ba, thứ tư thì bị thói xa hoa, đồi bại, lười biếng, trác táng khuyến rũ Họ khépmình trong cung điện, đầu óc thoái hóa, đời sống rút ngắn lại, hoàng tộc cũngsuy vi Các vị đại thần ngoi lên, bọn hoạn quan được tin dùng Bọn họ đặt mấychú bé con lên ngai vàng Cung điện trở thành kẻ thù của đất nước Bọn ănkhông ngồi rồi trong cung đình bòn rút hết của cải của người lao động Thế rồi,ông vua bị một tên gian hùng thoán đoạt giết hại hoặc thanh toán Một triều đạimới xuất hiện, để rồi các ông vua đời thứ ba, thứ tư của nó lại chìm đắm trongcung điện chẳng khác gì triều đại cũ” (Bàn Về Tinh Thần Luật Pháp -Moutesquieu)
Triều Lê cũng không tránh khỏi được số phận chung của những triều đạihết thịnh rồi suy, mục ruỗng lỗi thời, cuộc ly loạn tranh ngôi đoạt vị bắt đầu nổ ra
từ đó
Mạc Đăng Dung là một võ quan đầy mưu mẹo đã tiêu diệt các thế lực đốilập, thâu tóm mọi quyền hành, uy quyền như Tể tướng Ông sinh ngày23/11/1483, ở làng Cổ Trai, Nghi Dương, Hải Dương Xuất phát từ chức Đô lực
sĩ, trải qua ba đời vua Lê, Mạc Đăng Dung đã tiến rất nhanh trên con đường hoạn
lộ, được phong Thái Sư Nhân Quốc Công rồi đến An Hưng Vương
Là người có công phò lập Lê Chiêu Tông lên làm vua nên uy quyền củaMạc Đăng Dung ngày một lớn “Mạc Đăng Dung cho con gái nuôi vào hầu Vua
mà thực ra là để dò xét và coi giữ Lại cho Mạc Đăng Doanh là con trai lớn làmchức Dục Mỹ hầu trông coi điện Kim Quang Đăng Dung đi bộ lọng phượng dátvàng, đi thủy thì thuyền rồng dây kéo, ra vào cung cấm không kiêng sợ gì” (ĐạiViệt Sử Ký Toàn Thư), xem ra âm mưu thoán đoạt của Mạc Đăng Dung đã hiệnhữu
Trang 6Trong khi đó, Vua Lê Chiêu Tông mưu ngầm với Trịnh Tuy tìm cách triệt
hạ thế lực của họ Mạc nhưng bị bại lộ Mạc Đăng Dung đã phế Lê Chiêu Tông
và đưa người em là Lê Xuân (Lê Cung Hoàng) lên thay
Bấy giờ vua đã chạy ra ngoài, Đăng Dung bèn cùng với Thái sư LượngQuốc công Lê Phụ, Mỹ Quận công Lê Chu, Cẩm sơn hầu Lê Thúc Hữu… cùngbàn lập em của vua là Xuân lên nắm giữ ngai vàng Lê Chiêu Tông thì bị bắt và
bị giết năm 1526, lúc đó 21 tuổi
Lợi dụng lúc Vua Lê Cung Hoàng ươn hèn, nhỏ tuổi, tháng 6 năm 1527,Mạc Đăng Dung đã ép vua Lê nhường ngôi Lúc ấy, vận nước đã hết, lòng người
đã lìa, tài năng lại vốn hạng thường, hạng kém Trong tờ chiếu nhường ngôi củavua Lê (tất nhiên là do Mạc Đăng Dung soạn ra) có ý: “Vua Lê hèn kém, đứcmỏng, không gánh nổi ngôi trời Mệnh trời và lòng người hướng về người cóđức” và người đó, trong thời điểm này chỉ có Mạc Đăng Dung: “Là người tư chấtthông minh, đủ tài văn võ, bên ngoài đánh dẹp bốn phương đều phục, bên trong
trị nước trăm họ yên vui, công đức lớn lao, lòng người quy phục”(Đại Việt Sử ký
Toàn thư).
Vua Lê Cung Hoàng và Thái hậu bị bắt giam ở Tây Cung vài tháng saubắt phải tự tử Thái hậu khấn trời mà than rằng: “Đăng Dung là kẻ bề tôi, manhtâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, ngày sau con cháu nó cũng lại bị như thế” (ĐạiViệt Sử ký Toàn thư)
Lời nguyền của Thái hậu đã ứng với thế hệ thứ 5 của nhà Mạc là Mạc MậuHợp (1562 – 1592) Năm ấy, năm 1578, Mạc Mậu Hợp bị sét đánh ở trong cung
bị bại liệt nửa người, sau chữa khỏi Nhưng từ 1581, Mạc Mậu Hợp lao vào ănchơi trụy lạc, chính sự nhà Mạc ngày càng đổ nát Tháng 11/1792, 300 chiếnthuyền của thủy quân Lê – Trịnh tiến đánh, khiến quân Mạc tan vỡ Mạc MậuHợp bị bắt giải về kinh đô, bị treo sống ba ngày xong bị chém đầu ở bãi Bồ Đề
Trang 7Con trai của Mạc Mậu Hợp là Mạc Toàn cũng bị bắt và bị chém đầu tại bến ThảoTân
Ngay trong ngày tuyên chiếu nhường ngôi, Mạc Đăng Dung xưng Hoàng
đế, lấy hiệu là Minh Đức, lập ra một triều đại mới – Nhà Mạc Ở ngôi được hơn
2 năm, Mạc Đăng Dung nhường ngôi lại cho con là Mạc Đăng Doanh, còn mìnhlàm Thái Thượng Hoàng giống như thời các Vua nhà Trần Tháng 8 năm 1541,Mạc Đăng Dung mất, làm Thái thượng hoàng được 12 năm, thọ 59 tuổi
Khi một chính quyền đã trở nên bất tài và mục ruỗng thì việc thay thếbằng một triều đại tiến bộ hơn nhằm đảm bảo an ninh, an sinh hạnh phúc chonhân dân là cần thiết Mạc Đăng Dung đã từng làm tôi nhà Lê mà lại giết vua Lê
để cướp ngôi là rất khó chấp nhận trong cái xã hội “trung quân” Cái đạo lý cóchăng ở đây, nhà Mạc ra đời là để giải quyết tình thế bế tắc rối ren của nhà Lê.Tuy vậy, tư tưởng “trung quân” bịp bợm của đám hủ nho khó mà chấp nhận chođiều đó, mầm mống “Phù Lê diệt Mạc” (mà thực chất là lợi dụng danh nghĩa ấy
để diệt Mạc, phù chính mình) bắt đầu hình thành Đất nước lại tiếp tục xảy ranhững cuộc chiến ly loạn quay cuồng, trăm họ ly tán
Trong lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam, chuyện tiếm quyền đoạtngôi giữa các thế lực là không hiếm Lê Hoàn có quan hệ như thế nào với Tháihậu Dương Vân Nga để thay thế nhà Đinh? Họ Lý có thật sự chính danh, trongsáng khi thay thế triều Tiền Lê? Và, Trần Thủ Độ đã làm gì để cháu của mình làTrần Cảnh có thể lên làm vua thay thế nhà Lý khi mới 8 tuổi…? Nếu nói sự thaythế giữa các triều đại là vì một yêu cầu lịch sử nào đó mà ta vẫn thường hay nóinhư một tính tất yếu, khách quan thì chẳng qua cũng chỉ là sự ngụy biện gượnggạo của kẻ “chiến thắng” (kẻ cướp được quyền) Được làm vua, thua làm giặc
Kẻ chiến thắng là kẻ “chính danh”, kẻ được quyền viết sử, dù lịch sử đó có congvẹo, có xảo trá
Trang 8Tuy nhiên, việc một đại thần giết đến 2 đời vua như Mạc Đăng Dung đểtiếm quyền là rất hiếm Sử liệu có phần “bất trắc” ở đây là, nhà Mạc đã khôngđược quyền viết sử một mình như triều Tiền Lê, triều Lý, triều Trần nên khôngthể tự xóa sạch dấu vết, vì lúc này trên lãnh phần Đại Việt còn có một thế lựcchính trị khác cùng chép sử Việt là Nam Triều của tướng Nguyễn Kim lập ra Có
lẽ vì thế chăng mà Lê Hoàn và Trần Thủ Độ không bị phê phán nặng nề trongkhi Mạc Đăng Dung lại bị giới sử học nhiều thời kỳ lên án? Trong cuốn ViệtNam Sử Lược, Trần Trọng Kim đã phê phán Mạc Đăng Dung nặng nề như sau:
“Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là mộtngười nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắtđất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc; Làm ông vua mà không giữđược cái danh giá trọn vẹn, đến nỗi cởi trần ra trói mình lại, đi đến quỳ lạy ởtrước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thânmình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ Đối với vua là nghịchthần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người là không cónhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giangsơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơnghiệp dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế thì không bao giờ bền chặt được.Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được”
Năm 1533, một võ quan của nhà Lê là Nguyễn Kim, đã từng giữ chứcquan Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An thanh hầu, trốn sang Ai Lao (vùng đấtgiáp với Thanh Hóa), được Vua Sạ Đẩu thỏa thuận cho mượn đất Sầm Châu, lậpbản doanh tìm cách khởi nghĩa “Phò Lê diệt Mạc” Ở đây, ông đã tìm được mộtngười thuộc giòng dõi nhà Lê tên là Duy Ninh lập làm vua, lấy hiệu là TrangTông (1533 -1548) Từ đây trở đi được gọi là thời Lê Trung Hưng (Hậu Lê)
Nguyễn Kim (sinh năm 1468, mất năm 1545), quê ở Gia Miêu, Tống Sơn,
Hà Trung, Thanh Hóa Ông là một danh tướng Việt Nam thời Lê Sơ và là người
Trang 9đặt nền móng cho sự thành lập nhà Lê Trung hưng Ông là con của Trừng quốccông Nguyễn Hoằng Dụ đã từng giúp vua Lê Tương Dực khởi binh ở Thanh Hóalật đổ Lê Uy Mục, nhân đó được phong là Thái phó Trừng Quốc công Tuynhiên, thời gian gần đây các nhà nghiên cứu tham khảo phả hệ của dòng họNguyễn Gia Miêu và cho rằng Nguyễn Kim và Nguyễn Hoằng Dụ chỉ là anh em
họ Người sinh ra Nguyễn Kim là Nguyễn Văn Lưu, anh là Nguyễn Văn Lang,bác là Nguyễn Hoằng Dụ
Được sự giúp sức của người con rể là Trịnh Kiểm, cha con họ đã ra sứcchiêu mộ và luyện tập quân sĩ, đến năm 1540, Nguyễn Kim đem quân về đánhchiếm Nghệ An, hào kiệt phần nhiều theo về, thanh thế rất lừng lẫy Năm 1542,cùng với vua Lê Trang Tông cất quân về chiếm được Nghệ An và Thanh Hóa,sau đó được một năm thì thu phục được đất Tây Đô, quan Tổng trấn nhà Mạc làDương Chấp Nhất buông kiếm đầu hàng
Năm 1545, Nguyễn Kim đem quân đánh Sơn Nam, đến huyện Yên Mô(Ninh Bình ngày nay) bị một hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánhthuốc độc chết Dương Chấp Nhất mời ông ăn dưa có độc rồi bỏ trốn, khi đó ông
77 tuổi, binh quyền rơi vào con rể Trịnh Kiểm
Trịnh Kiểm sinh năm 1503, mất năm 1570, ở Sóc Sơn, Vĩnh Lộc, ThanhHóa Mồ côi cha từ nhỏ và mẹ cũng mất ít năm sau đó Ông đi ở nhờ làm gia nôcho Thái phó Nguyễn Kim Không học hành nhiều, nhưng ông rất thông minh,can đảm và mưu lược hơn người được Nguyễn Kim mến mộ và gã con gái lớn làNgọc Bảo cho ông
Sau khi bố vợ mất, Trịnh Kiểm cho rút quân về Thanh Hóa, lập hành điện
ở đồn Vạn Lại cho vua Lê ở rồi tiếp tục chiêu mộ hào kiệt, tích trữ lương thảo,binh khí, chờ thời diệt Mạc Từ đó hình thành nên một thế lực mới của nhà Lê(sử sách gọi là Lê Trung Hưng): Từ Thanh Hóa trở vào thuộc giang sơn của nhà
Trang 10Lê gọi là Nam Triều; Từ Sơn Nam (Ninh Bình) trở ra thuộc nhà Mạc gọi là BắcTriều.
Năm 1548, vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập con của Trang Tông làDuy Huyên lên thay, lấy hiệu là Trung Tông Ở ngôi được 8 năm thì Trung Tôngmất mà không có con nối dõi Trong tình thế đó, Trịnh Kiểm lưỡng lự cũngmuốn tự xưng làm vua nhưng sợ lòng dân không phục Ông đã cho người ra HảiDương dò hỏi ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Bỉnh Khiêm không trả
lời mà chỉ nói với đầy tớ của mình rằng: “Năm nay mất mùa, thóc giống không
tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ” Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nói với
chú tiểu quét dọn chùa rằng: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”
Hiểu được ý tứ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trịnh Kiểm chongười đi tìm con cháu họ Lê Sau đó, tìm được một người tên là Lê Duy Bang ở
Bố Vệ, Đông Sơn, Thanh Hóa, lập lên làm vua Duy Bang là cháu 4 đời của LêTrừ, Lê Trừ là anh của Lê Lợi Mãi cho đến đời Trịnh Tùng thì họ Trịnh mới dámxưng vương và từ đó, con cháu họ Trịnh thế tập xưng vương, nhân dân quen gọi
là Chúa Trịnh – Vua Lê
Sự ra đời và tồn tại của Nam Triều tất yếu dẫn đến cuộc nội chiến Nam –Bắc mà thực chất là cuộc tranh dành quyền lực độc tôn trên lãnh phần Đại Việtgiữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Mạc
Giữa hai tập đoàn này đã đánh nhau liên miên giai giẳng hơn 50 nămkhông phân thắng bại Phía nhà Mạc, từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Đăng Doanh,Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên có đến hơn mười phen đưa quân đánh vàoThanh Hóa, phen nào cũng thua Phía nhà Trịnh, có hơn 6 lần đưa quân ra đánhSơn Nam không có lấy một lần toàn thắng
Tháng 8 năm 1555, họ Mạc sai Khiêm vương Mạc Kính Điển đem đạiquân vào cướp Thanh Hóa Trong tình thế đó, Thái Sư Lượng Quốc Công TrịnhKiểm tổ chức đại hội các tướng mà bàn rằng: Giặc cậy đông khinh ta, ta dùng kế
Trang 11mai phục đợi chúng, thế nào cũng bắt được Cùng với nhiều tướng lĩnh như:Đình Công, Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận…Trịnh Kiểm đích thân đốc suất đại quân tổ chức trận địa mai phục bờ bắc sông từchân núi Bạch Thạch đến chân núi Kim Sơn (ngày nay thuộc huyện Đông Sơn vàVĩnh Lộc, Thanh Hóa) Khi quân Mạc lọt vào trận địa mai phục, Trịnh Kiểmtung quân đánh lớn Quân Mạc quay ngược giáo, vứt bỏ áo giáp, chiến thuyềnnhảy xuống sông trốn chạy Quân Mạc bị bắt và chết nhiều, xác nghẹn cả sông,nước sông đỏ lòm, mấy vạn quân Mạc chết gần hết Kính Điển sợ vỡ mật, thunhặt tàn quân tháo chạy.
Chỉ có năm 1559, Trịnh Kiểm đem 6 vạn quân theo đường biển ra đánhmặt Bắc chiếm được các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Kinh Bắc, Lạng Sơn cứ tưởng
đã có thể dứt được nhà Mạc Nhưng không ngờ rằng, Mạc Kính Điển chỉ huymột đạo quân lớn theo đường bộ đánh thẳng vào Thanh Hóa, nghe tin, TrịnhKiểm buộc phải nhanh chóng đưa quân về mà giữ đất Tây Đô
Tháng 4 năm 1565, Trịnh Kiểm đốc quân đánh ra Sơn Nam, Thế tử TrịnhCối, Trịnh Tùng cùng đi theo Quân đến phủ Trường Yên, đánh phá các huyệnGia Viễn, Yên Mô, Yên Khang Đến tháng 9, Thái sư Trịnh Kiểm mưu chia quânsai bọn Vũ Sư Thước, Lại Thế Khanh trấn giữ các cửa biển để phòng sự bất ngờ.Lại sai cháu gọi bằng cậu là Văn Uyên hầu giữ vững doanh trại, cùng trấn giữvới bọn Sư Thước, tự mình đốc suất đại quân đánh dẹp các huyện ở Sơn Nam.Quân đi tới đâu, đều lấy được ở đấy Mạc Mậu Hợp thấy quan quân đánh gấpquá, hỏi mưu kế đánh lui Mạc Kính Điển trả lời: Quân họ tinh nhuệ, khó tranhvới họ, sợ địch không nổi Trịnh Kiểm thân đốc đại quân đến đây đánh dẹp lộSơn Nam, chưa dễ đã qua được sông Thanh Hóa là đất căn bản của họ, nay đãsuy yếu, dẫu có để quân ở lại chia giữ đất ấy, chẳng qua cũng chỉ là một haitướng mà thôi Thần xin sai vài viên đại tướng đem quân đi giao chiến với họ đểkìm giữ thế quân của họ, rồi chia mấy vạn quân cho thần ngày đêm thẳng tiến
Trang 12Tới nơi, sẽ tung kỳ binh ra để bắt tướng họ Đó là phép tất thắng, là kế bỏ chỗchắc, đánh chổ hở, bất ngờ đánh vào chỗ giặc không phòng bị Đó là ước nguyệncủa thần Mậu Hợp nghe theo Tháng 11, Kính Điển tiến quân đánh Thanh Hóa,vượt biển, vào cửa Linh Trường, đánh phá các huyện Thuần Hựu, Hoằng Hoá,lấn cướp cư dân Bọn Sư Thước sai người cáo cấp với Trịnh Kiểm Trịnh Kiểmbèn sai Lộc Quận Công đem quân về cứu Thanh Hóa Về tới hành dinh, cũngbàn mưu với bọn Sư Thước, Thế Khanh hợp quân tiến đánh, giao chiến với quânMạc ở Du Trường Quân Mạc phục sẵn ở chỗ hiểm yếu, cho kỳ binh ra khiêuchiến, rồi giả cách thua chạy Bọn Sư Thước đem binh tượng đuổi theo, dấn sâuvào đất hiểm Kính Điển liền tung phục binh ra, bốn mặt cùng nổi dậy, đánh kẹplại vây thành mấy lớp Bọn Sư Thước, Thế Khanh tự liệu quân ít không địch nổinhiều, liền đột phá lớp vòng vây, cố sức đánh thoát chạy vào rừng núi Lộc QuậnCông đánh một mình bị quân Mạc đâm chết trên lưng voi Quan quân chết đếnhàng nghìn Tướng Mạc định mưu tiến đánh, nhưng nghe tin Trịnh Kiểm đã rútquân về đến Thạch Thành, Kính Điển bèn đem quân về
Cuộc chiến cứ như thế mà giằng co mãi về sau, khi thì Trịnh Kiểm đưaquân ra đánh Sơn Nam, khi thì Mạc Kính Điển đưa quân vào đánh Thanh Hóa
mà không bên nào dứt được bên nào
Suốt một vùng từ Thanh – Nghệ ra Bắc đều là chiến trường tan tác Làngmạc điêu tàn xác xơ, nhân gian tán loạn phiêu bạt tứ phương “Năm 1570, nhândân Thanh Hóa già trẻ bồng bế nhau chạy tan tác, kêu khóc đầy đường, chết đóirất nhiều Hàng vạn người bị Nam Triều và Bắc Triều bắt đi lính đi phu Năm
1572, ở Nghệ An, đồng ruộng thì bỏ hoang, dịch tễ lan tràn, người chết quá nửa.Nhân dân đói khổ, phiêu bạt ra Bắc vào Nam, cõi Nghệ An vắng tanh đìuhiu”(Đại Việt Sử ký Toàn Thư)
Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, trao quyền lại cho con là Trịnh Cối NhưngTrịnh Cối ham chơi bời, say đắm tửu sắc, ngày càng rông rỡ kiêu ngạo, không
Trang 13thương gì đến quân lính Do đó, các tướng sĩ đều có ý lìa bỏ, kẻ giúp đỡ ngàymột ít, lòng người thay đổi, ai cũng nghĩ đến chuyện sinh biến, mầm họa đãthành Trong khi đó, người em là Trịnh Tùng cũng muốn cướp ngôi bèn cùng với
Lê Cập Đệ, Trịnh Bách, Vĩnh Thiệu rước Vua về đồn Vạn Lại rồi chia quân đánhnhau với Trịnh Cối
Lợi dụng tình hình anh em Chúa Trịnh đánh nhau, Mạc Kính Điển đem 10vạn quân vào đánh Thanh Hóa Quân của Trịnh Cối ngày càng thế cô lập chốngkhông nổi, bèn đem quân hàng họ Mạc Kính Điển tiếp nhận, phong cho Cốitước Trung Lương Hầu
Đến lúc này, Trịnh Tùng được Vua Lê Anh Tông phong chức Tả ThừaTướng Tiết Chế Chư Quân, thống lĩnh quân đội chống giữ với quân Mạc TrịnhTùng ngày càng tỏ ra uy quyền hống hách, khiến Vua Lê lo sợ phải bỏ chạy vàoNghệ An Trịnh Tùng cho người đi rước hoàng tử thứ 5 là Duy Đàm lên làm vua,rồi sai Nguyễn Hữa Liêu đem binh đuổi theo bắt và giết đi rồi nói rằng vua LêAnh Tông tự thắt cổ chết
Kể từ năm 1583, quân Chúa Trịnh đánh trận nào được trận nấy, nên quyếtđịnh tiến quân ra đánh Sơn Nam và lấy được rất nhiều thóc gạo mang về Từ đó
về sau, năm nào cũng đưa quân ra đánh, buộc quân Mạc phải chuyển từ thế tấncông sang phòng thủ
Năm 1591, Trịnh Tùng bèn đem hơn 5 vạn quân chia làm 5 đội, sai quanThái phó Nguyễn Hữu Liêu, quan Thái úy Hoàng Đình Ái, Lân Quận công HàThế Lộc, mỗi người thống lĩnh một đội, còn Trịnh Tùng thì thống lĩnh 2 vạnquân tiến ra Bắc
Vua nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp cũng điều tất cả bốn vệ quân khoảng 10vạn lính để đối trận với quân Trịnh Khi quân Mạc đến, Trịnh Tùng tự mình đốcsuất tướng sĩ thề đánh cho được giặc Mạc để báo thù Hai bên đối trận với nhau,dàn bày binh mã “Quân hai bên đánh nhau giáp la cà suốt từ giờ Mão đến giờ
Trang 14Tỵ, Tiết chế Trịnh Tùng cầm cờ chỉ huy, ba quân theo lệnh, tướng sĩ hăng hái,gươm giáo rợp trời, đồng thanh gắng sức Quân của Chúa Trịnh đánh rất hăng,thế như chẻ tre, quân nhà Mạc hàng ngũ rối loạn, chống không nổi Thừa thắngđuổi dài, chém được hơn 1 vạn thủ cấp, máu chảy khắp đồng, thây chết thànhnúi, Mạc Mậu hợp sợ đến vỡ mật, xuống thuyền vượt sông mà chạy” (Đại Việt
Sử Ký Toàn Thư)
Trên đà chiến thắng, Trịnh Tùng bàn rằng: “Nên nhân cái uy thế sấm sétkhông kịp bịt tai này mà đánh lấy thì dễ như nhặt hạt cải” Bèn sai Nguyễn HữuLiêu đem 5.000 quân tinh nhuệ, voi khỏe cùng ngựa bọc sắt tiến thẳng ThăngLong Sau bảy phát lửa hiệu, thiêu đốt nhà cửa, khói lửa khắp trời Trong thành
sợ hãi rối loạn, Mạc Mậu Hợp sợ hãi cuống quýt bỏ chạy khỏi thành Đêm hôm
ấy cũng là đêm của Tết Nguyên Đán, trong thành già trẻ, gái trai hỗn loạn dẫmđạp lên nhau bỏ thành mà chạy
Năm 1592, quân của Trịnh Tùng chiếm được kinh thành Thăng Long, tổchức úy lạo tướng sĩ, ba quân phấn khởi vui mừng Sau đó, Trịnh Tùng sai người
về Tây Kinh rước Vua Lê Thế Tông ra Đông Đô, mở triều và thăng thưởng chocác tướng sĩ Nhà Lê sau 65 năm thất thủ, phiêu bạt nay được quay trở lại Đông
Đô
Mùa Xuân năm đó, Trịnh Tùng sai người lập đàn, sắm lễ tế trời đất khấnrằng: “Thần là Trịnh Tùng gượng gánh trọng trách của nước nhà, lạm cầm quyềnlớn đánh dẹp, vâng mệnh đánh kẻ phản nghịch để cứu dân, nghĩ rằng sinh linh xãtắc triều Lê bị kẻ gian thần phản nghịch là họ Mạc giết Vua, cướp nước, tội ác rấtsâu, ngược dân, dối thần, họa đầy oán chứa Để sinh linh phải lầm than đã gần 70năm, mà nguyên do gây họa loạn, há chịu cùng đội trời chung Xin các thánhHoàng Đế tiên triều soi xét lòng thần, diệt bọn phản nghịch cho dân được yên, đểkhôi phục cõi đất của triều Lê” (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
Trang 15Tế lễ xong trời đất, Trịnh Tùng hạ lệnh cho quân sĩ không được cướp bóc,xâm phạm đến nhân dân, mọi người được yên ổn như cũ Quân đi đến đâu đượcgià trẻ, gái trai đem trâu dê, cơm rượu, hoa quả thiết đãi đầy đường…
Mạc Mậu Hợp, vị vua cuối cùng nhà Mạc chạy lên Cao Bằng lẫn trốnnhưng bị quân Trịnh bắt và chém đầu, cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều kếtthúc Nhà Mạc không còn ở Thăng Long nhưng được nhà Minh can thiệp nêncon cháu họ chiếm cứ vùng Cao Bằng giáp với Trung Quốc và tiếp tục tồn tạithêm được 3 đời nữa
Cuộc nội chiến Nam – Bắc Triều, nếu tính từ thời Trịnh Kiểm cùng bố vợ
là Nguyễn Kim đánh ra Yên Mô năm 1545, cuộc chiến này đã diễn ra giai dẳngđến 47 năm Triều Mạc trải qua hơn 5 thế hệ cai trị Bắc Triều kể ra vừa đủ 65mùa xuân Từ Mạc Đăng Dung (1527 – 1529), Mạc Đăng Doanh (1530 – 1540),Mạc Phúc Hải (1541-1546), Mạc Phúc Nguyên (1546-1561), Mạc Mậu Hợp(1562-1592) đánh nhau với Chúa Trịnh (Nam Triều), từ Trịnh Kiểm (1545-1570), Trịnh Cối, Trịnh Tùng (1570 – 1623)
Trong lịch sử dân tộc, chưa có thời kỳ nào mà tình trạng nội chiến ly loạnlại giằng co, giai giẳng đến mức độ như vậy Trong khoảng gần 50 chục năm ấy,lúc thì quân Mạc đánh vào Thanh Hóa, lúc thì quân Trịnh đánh ra Sơn Nam,quân sĩ cả hai bên chết không biết bao nhiêu mà kể Có trận thì quân Mạc “máuchảy đỏ sông, thây chất ngập đồng”; có trận thì cả quân Mạc và quân Trịnh
“Thây chất thành núi, xác trôi nghẽn cả cửa sông”, có những trận quân Trịnhchém được hơn 1 vạn thủ cấp quân Mạc… Còn nỗi tang thương nào lớn hơn!
Ai đã chết, quân ta hay quân giặc, giặc nào? Họ Mạc thì gọi quân Trịnh làgiặc, họ Trịnh thì gọi quân Mạc là giặc mà thực chất đều là người Việt Nam Họ
bỏ thân xác nơi đất lạ quê người là vì nghĩa lý gì? Cái chết của người Lính nếukhông phải là vì chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi thì có phải là những cáichết vô nghĩa lý không? Cho nên, sau này, ở nhiều nước phát triển, người ta tách
Trang 16lực lượng quân đội ra khỏi chính trị là vì vậy Quân đội, ngoài mệnh lệnh củaquốc dân đồng bào là ra mặt trận bảo vệ Tổ quốc thì họ không bao giờ được hànhđộng theo ý chí chủ quan của bất cứ một cá nhân nào, bất cứ một thế lực chínhtrị nào Có như thế mới tránh được cảnh máu chảy đầu rơi giữa các thế lực tranhdành quyền lực lẫn nhau
Trong chừng ấy năm chém giết nhưng không có lấy một thõa thuận,nhượng bộ nào từ phía những kẻ cầm quyền để chấm dứt chiến tranh, để thốngnhất đất nước Từ đời ông, đời cha, đời con, đời cháu… Từ Mạc Đăng Dung,Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp Với bênnày là Trịnh Kiểm, Trịnh Cối, Trịnh Tùng Tất cả họ đều có chung một ý chí, mộtdục vọng ích kỷ là cốt làm mọi cách để chiến thắng, được “đè đầu cỡi cổ”, “ăntrên ngồi trốc” thiên hạ, không bên nào nhún nhường bên nào nhưng cả hai bênMạc và Trịnh đều tìm cách luồn cúi, khúm núm, cầu cạnh, đút lót cho “ông bạnthiên tử” Người Việt có câu “Người khôn đối đáp bề ngoài, gà cùng một mẹ chớhoài đánh nhau”, thật khó để giải thích cho giai đoạn lịch sử đau thương này
Ở phương diện này mà nói, thì người Việt chúng ta có thực sự có truyềnthống “nhân ái”, “rộng lượng”, “bao dung” không? Xung đột Trịnh – Mạc, xungđột Trịnh – Nguyễn và cả thời hiện đại sau này, chúng ta tự hỏi, đã bao giờ ngườiViệt Nam có ý thức giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng hòabình? Đã bao giờ họ coi mạng người là giá trị nhân bản cao nhất không thể đánhđổi? Có lẽ là chưa! Bạo lực trở thành thứ vũ khí ưu tiên hàng đầu và lợi hại nhất
để thõa mãn những dục vọng quyền lực điên rồ của một nhóm người ích kỷ ăntrên ngồi trốc Nếu đúng như vậy thì chúng ta cũng không thể đổ lỗi hết cho “chủnghĩa chuyên chính vô sản, chính quyền đẻ ra từ họng súng” sau này mới sinh rathói bạo lực như quan điểm của không ít người Việt trong và ngoài nước hiệnnay Hiện thực lịch sử đã nói ở trên, thì bạo lực đã được xem như là “chiếc gậythần” để giải quyết tranh chấp từ mấy trăm năm trước Đã có khi nào các nhà
Trang 17nghiên cứu văn hóa, tâm lý coi “truyền thống” xung đột này là một cơ sở để lýgiải tính cách hung hãn, bạo lực của không ít người Việt dùng để giải quyết mâuthuẫn, tranh chấp trong xã hội ngày càng nhiều như hiện nay? Các vụ án mạngđộc ác, một người có tâm lý bình thường nhưng có thể cầm dao chém chết mộtlúc năm, sáu mạng người mà không biết chùng tay, không hề run rẫy như thờigian gần đây có mối liên hệ gì với những thời kỳ lịch sử chiến tranh và bạo lựcnày? Tôi cho rằng đó là những câu hỏi về tình trạng bạo có sự liên đới nhất địnhđến thời kỳ lịch sử ấy Mong rằng các chuyên gia giáo dục Việt Nam cần nhìnnhận nghiêm túc vấn đề của lịch sử để có những biện pháp tích cực, nhằm thiếtchế và định hướng để con người Việt Nam ngày càng sống ôn hòa và nhân bảnhơn.
………
Công lao của Trịnh Tùng kể cũng không nhỏ, lật đổ nhà Mạc, tức là chônvùi đối thủ chính trị truyền kiếp, một nửa đầu mối gây ra cuộc chiến tranh điêutàn Trịnh – Mạc ngót nửa thế kỷ
Kết quả cuối cùng là họ Trịnh dành thắng lợi, gia khuyến họ Mạc trốn lênvùng Cao Bằng nhưng mọi tội lỗi, khổ đau, chết chóc đổ hết lên đầu nhữngngười dân lành vô tội Bên nào dành thắng lợi thì nhân dân cũng là những ngườithất bại nặng nề và đau thương nhất Vì họ là những người đầu tiên phải xôngpha trước những lằn tên mũi đạn của địch thủ Vua chúa hay công thần, tướnglãnh kia, nếu có chết thì cũng là lúc nhân dân, những người lính bị chúng bắt đitrên tuyến đầu không còn sống sót nữa Chiến tranh, dù xét trên phương diệnnào, xét đến cùng cũng chỉ là sự mưu toan lợi ích ích kỷ cho một nhóm ngườiquyền thế nào đó, còn mọi khổ đau thì dân chúng trăm họ nai lưng mà gánh chịu
Đến đây, tình trạng “lưỡng triều” Mạc – Trịnh coi như kết thúc Nhà Mạc
đã rút lui khỏi vũ đài chính trị cũng không khác cách mà Mạc tổ đã buộc vua Lê
Trang 18phải nhượng quyền năm 1527 Vị vua cuối cùng của nhà Mạc là Mạc Mậu Hợpcùng với gia thất phải chạy toán loạn, thục mạng và chui lủi trước sự lùng sục vàtruy đuổi của quân Trịnh Đời là vậy, có vay có trả Hành vi của mình gây ra hômnay dù không bị trừng trị ở kiếp này thì cũng không ai khác, chính con cháu củachúng ta là những người phải nhận lãnh hậu họa, âu đó cũng là quy luật của sựcông bằng tự nhiên!
Đến năm 1599, Trịnh Tùng đã thu xếp xong việc ngoại giao với nhà Minh,nhường đất Cao Bằng cho con cháu nhà Mạc, trong nước đã tạm yên ổn TrịnhTùng bèn tự xưng vương làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình
an Vương Rồi định lệ cấp lộc cho Vua Lê được thu thuế 1.000 xã, cấp cho 5.000lính làm quân túc vệ Chỉ có khi nào tiếp sứ thần và thiết triều thì cần đến nhàVua, còn tất cả những việc khác đều do Chúa Trịnh quyết định
Dứt được họ Mạc, uy quyền họ Trịnh trùm kín cả giang sơn Bắc Hà, quanlại và nhân tâm đều hướng về họ Trịnh Kể ra, lúc này Chúa Trịnh có truất ngôiVua Lê cũng chẳng ai làm được gì Ở phương diện này, xem ra họ Trịnh tử tế vàhiểu biết hơn họ Mạc, không thoán nghịch đoạt ngôi, không làm vua nhưngquyền lực, bổng lộc còn gấp nhiều lần vua Có lẽ cũng vì sự khôn ngoan ấy màcon cháu Chúa Trịnh đã nối đời mà ăn hưởng bổng lộc sung túc đến 231 nămsau Trong lịch sử có dòng họ nào khôn hơn để duy trì cơ nghiệp bổng lộc dàiđược như thế?
Nhà Mạc sụp đổ, nhưng chế độ thế tục tiếp tục duy trì trong cung Vua phủChúa Một xã hội không được xây dựng dựa trên khế ước thỏa thuận của mọingười trong cộng đồng, không dựa trên nền tảng căn bản của nó là dân chủ vàpháp quyền thì bả lợi danh là thứ thuốc phiện mê hoặc bất cứ thế lực và conngười nào Nó xô đẩy con người từ thế hệ này sang thế hệ khác, cuồng quaytrong những cơn ly loạn của chiến tranh và tội ác nếu không thì cũng sống trongđói rách nghèo hèn
Trang 19Bắc Triều của họ Mạc đã rút lui, nhưng thế lực họ Nguyễn của người cậunăm nào phải bất đắc dĩ mà dung thân ở dãy Hoành Sơn lại nhen nhóm và trởthành địch thủ của họ Trịnh như là một quy luật tiếp diễn không ngừng, bất tận.
2 CUỘC LY LOẠN TRỊNH – NGUYỄN (1627-1672)
Kể từ ngày Nguyễn Hoàng (con trai thứ của Nguyễn Kim) xin anh rể làTrịnh Kiểm vào trấn thủ ở vùng Thuận Hóa (nay là Quảng Bình, Quảng Trị,Thừa Thiên Huế), lúc đó là vào năm 1558
Có rất nhiều tài liệu viết rằng: Sau khi Nguyễn Kim mất năm 1545, binhquyền rơi hết vào tay con rể là Trịnh Kiểm Trịnh Kiểm có âm mưu thoán đoạtquyền lực nên đã giết hại con trai trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông.Nguyễn Hoàng thấy tình thế ông anh rễ khốn nạn như vậy nên dò hỏi tư vấn củaNguyễn Bỉnh Khiêm Khi nghe Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm phán: “HoànhSơn nhất đái vạn đại dung thân” (dãy núi Hoành Sơn có thể tồn tại muôn đời).Nguyễn Hoàng đã về nói với chị gái Ngọc Bảo và Thái phó Nguyễn Ư Dĩ xinanh rể Trịnh Kiểm cho mình vào trấn thủ vùng Thuận Hóa Trịnh Kiểm đã đồng
ý ngay vì ông nghĩ rằng như thế là tránh được một kẻ có thể dành lại ngôi vị củamình, hai là ở nơi heo hút kia có được người thân tín cai quản mà ông đâu ngờđược là ông đã “thả hổ về rừng, thả rồng ra biển” Trịnh Kiểm dâng biểu lên vua
Lê Anh Tông như sau: “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra,buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều
kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tàitrấn thủ vỗ yên thì không thể xong Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trímưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùngnhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam” (Đai Nam Thực lục) Mười ba năm
Trang 20sau ngày để tang cha, Nguyễn Hoàng đã kinh lý vào Nam, đặt nền móng cho một
cơ nghiệp thịnh trị và lâu dài của họ Nguyễn sau này
Trong chuyến đi lịch sử của Nguyễn Hoàng vào vùng Thuận Hóa ấy, ngoàinhững người anh em họ hàng ở huyện Tống Sơn (Thanh Hóa), còn có rất đônglính Thanh – Nghệ đưa cả vợ con đi cùng Nguyễn Hoàng đã cho đổ bộ vào CửaViệt và xây dựng dinh thự ở Ái Tử, Đăng Xương, Quảng Trị
Rời bỏ nơi “chôn nhau cắt rốn” là cuộc chia lìa mà không phải ai cũng đủbản lĩnh để thực hiện Chuyến đi bất đắc dĩ của một “hoàng tử” danh gia vọngtộc lại càng khó khăn hơn, ai ngờ đó lại là chuyến hành trình lớn nhất trong lịch
sử của dân tộc Việt Nam Từ nay, đất mẹ yêu thương chỉ còn là những hoài niệmngóng trông luyến nhớ Cho đến khi chết đi thì những con người “mang gươm đi
mở cõi” ấy cũng chỉ biết bỏ thân xác ở một vùng đất lạ mà họ chưa hề đặt chânđến Và đổi lại cho những hy sinh mất mát ấy, chính họ là những người đầu tiên
“vẽ” nên hình hài một Tổ quốc Việt Nam chữ S như hôm nay
Nguyễn Hoàng là một người khôn khéo, nhân hậu, có khả năng quánxuyến và thu phục lòng người, khiến dân tình ai ai cũng mến phục Trong cuốnĐại Nam thực lục mô tả tướng mạo của Nguyễn Hoàng: “Tướng vai lân, lưng hổ,mắt phượng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, người thức giả đềubiết là bực phi thường” Để tránh sự nghi kị của Chúa Trịnh, trong thời gian đầu,một mặt, Nguyễn Hoàng vẫn duy trì mối quan hệ hòa hiếu và cống nạp đều đặncho Vua Lê - Chúa Trịnh, mặt khác chủ động tích trữ lương thảo, binh khí, xâydựng lực lượng chuẩn bị cho giấc mộng bá vương lâu bền
Những năm đầu vào “vùng đất hứa”, cùng với nhiều cộng sự đắc lực, họ
đã ra sức chăm lo vỗ về cho dân chúng, mở mang và khai phá làm cho vùngThuận Hóa ngày càng phát triển Hàng năm nộp đầy đủ tô thuế cho Tây Kinh.Năm 1570, Trịnh Kiểm giao cho ông cai quản luôn cả xứ Quảng, “giang sơn”của Nguyễn Hoàng đã vượt qua đèo Hải Vân Đây là cơ sở quan trọng để Chúa
Trang 21Nguyễn cũng cố vững chắc cơ đồ của mình Cũng trong quảng thời gian đó, ông
đã hai lần tổ chức lực lượng của mình để đánh bại sự xâm lấn của dư đảng nhàMạc trên đất Thuận – Quảng “Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuếnhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường xưng là chúa Tiên Nghiệp đếdựng lên, thực là xây nền từ đấy” (Đại Nam Thực lục”
Nhận thấy đặc điểm của dân di cư tự do Đàng Trong, tính cố kết cộngđồng khá lỏng lẻo, ông đã chủ trương xây dựng đền chùa miếu mạo nhằm quy tụđời sống tinh thần vững chắc trong dân chúng Trong đó, chùa Thiên Mụ (Huế)được xem là công trình phục vụ đời sống tín ngưỡng lớn nhất được Chúa Tiêncho xây dựng
Khác với tư tưởng “trọng nông ức thương” của Nho giáo, Nguyễn Hoàng
đã rất chú trọng phát triển thương nghiệp ở Đàng Trong Thương cảng Hội Antrở thành nơi trao đổi tấp nập nhất khu vực Đông Nam Á
Năm 1613, khi Nguyễn Hoàng sắp mất, ông đã gọi người con trai thứ 6 làNguyễn Phúc Nguyên vào và dặn rằng: “Đất Thuận – Quảng này bên Bắc thì cónúi Hoành Sơn, sông Linh Giang, bên Nam thì có núi Hải Vân và núi Bi Sơn thật
là một nơi trời để cho người anh hùng dụng võ Vậy con phải thương yêu nhândân, luyện tập quân sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời” (Việt Nam Sửlược) Với ý đó thì biết họ Nguyễn đã có ý đồ hùng cứ độc lập một phương
Nguyễn Hoàng sinh ngày 28/8/1525, mất ngày 25/5/1613, thọ 89 tuổi.Cùng với các thế hệ nối nghiệp sau này, ông là một trong những người có côngđầu khai lập ra vùng đất Đàng Trong, được nhân dân mến mộ tôn xưng là “ChúaTiên” và sau đó triều Nguyễn truy tôn ông là Gia Dụ Hoàng Đế
Nguyễn Hoàng mất, con trai thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay Được
sự giúp sức đắc lực của những sĩ phu và tướng lĩnh tài giỏi như Nguyễn HữuDật, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến Cả 3 người này đều là quê Thanh Hóa, học
Trang 22rộng tài cao, văn võ kiêm toàn Họ là những người đã giúp Chúa Nguyễn bàymưu tính kế, luyện tập quân lính, xây đồn đắp lũy để chống lại nguy cơ thôn tínhcủa quân Trịnh sau nay
Sau khi thực đã túc, binh đã cường, đồn lũy đã kiên cố thì Chúa Nguyễn ramặt không thần phục họ Trịnh nữa Một lần, Trịnh Tráng sai người mang tờ sắcgiả tiếng của vua vào cho Chúa Nguyễn có nội dung như sau
“Hoàng thượng sắc dụ cho Thái bảo quận công Nguyễn Phúc Nguyênđược biết:
Mệnh lệnh triều đình,
Đạo làm tôi phải tuân thủ;
Thuế má phủ huyện,
Tướng ngoài cõi không được tư chuyên
Trước đây trẫm có sai Công bộ Thượng thư là Nguyễn Duy Thì, Bá khêhầu là Phan Văn Trị vào Thuận Hóa, đạo đạt tình ý, chỉ bảo đường họa phúc, đểcho tỉnh biết mà phục tùng quyền chính triều đình Không ngờ nhà ngươi manglòng dùng dắng, tối đường tới lui, nói thoái thác cho lôi thôi ngày tháng, để đếnnỗi thuế má thiếu thốn, không đủ việc chi thu, đạo làm tôi như thế đã phải chưa?Nhà ngươi nay nên đổi lỗi trước, giữ dìn phép tắc Phàm ngạch thuế trong hai xứThuận - Quảng từ năm Quý hợi về trước, có phải mất mùa thì xá cả cho; còn từnăm Giáp tí đến nay phải tính cho đủ số theo lệ trước, tải thuyền đem ra nộp chođủ; phải chỉnh tề binh mã, hoặc thân đến kinh đo triều hạ, hoặc phải sai con đithay, để coi xem nghi vệ trong nước, và để tỏ giải tấm lòng làm tôi Nếu thế thìtriều đình sẽ phong thêm cho chức tước vinh hiển, để rạng tỏ đến tổ tông Nhượcbằng thoái thác không đến, thì tức là phạm tội với triều đình
Khâm tai dụ sắc!” (Việt Nam Sử lược)
Nhận được sắc dụ nhưng Chúa Sãi vẫn không chịu nộp thuế Trịnh Tránglại tiếp tục sai sứ mang sắc dụ của nhà Vua yêu cầu Chúa Sãi ra chầu Yêu cầu
Trang 23Chúa Sãi mang theo 30 con voi, 30 chiếc thuyền để cống nạp cho nhà Minhnhưng Chúa Sãi lại tiếp tục khước từ.
Chúa Trịnh, lúc này là Trịnh Tráng (con trai của Trịnh Tùng, cháu củaTrịnh Kiểm, xét về quan hệ huyết thống thì gọi Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyênbằng chú), sau 2 lần sai người vào Thuận Quảng đòi tiền thuế nhưng ChúaNguyễn không chịu thì quyết định đưa quân đánh họ Nguyễn, lúc đó là năm1627
2.2 CUỘC CHIẾN LẦN THỨ HAI (1630)
Năm 1630, được Đào Duy Từ quân sư, Chúa Sãi cho quân ra đánh chiếmvùng phía Nam sông Linh Giang (sông Gianh) làm trận địa đối chọi chống quânTrịnh Trong trận này, quân Nguyễn đã bắt và giết quan châu Bố Chính, lấy tiềncủa kho, bắt hết dân đinh ở đó làm lính, đặt ra 24 đội thuyền
Đến năm 1633, nhân khi người con thứ ba của Chúa Sãi là Ánh trấn thủ ởđất Quảng Nam có ý tranh quyền đã gửi thư cho Trịnh Tráng sẽ làm nội ứng khiChúa Trịnh bắn súng hiệu Tuy nhiên, khi Ánh xin ra trấn thủ Quảng Bình thì bịChúa Sãi nghi ngờ nên không cho (Thông tin này có sách viết con thứ ba củaChúa Sãi là Anh, nhưng Đại Việt Sử ký toàn thư thì ghi như sau: “Em của viêntrấn thủ xứ Thuận Hóa Nguyễn Phúc Nguyên là Phúc Hiệp và Phúc Trạch giữđất Quảng Nam, có thư bí mật xin hàng, xin ra quân để họ làm nội ứng Sai Đăng
Trang 24quận công Nguyễn Khải đem quân đi đón họ Bọn Phúc Hiệp sau bị lộ mưu, bịPhúc Nguyên bắt giết Khải đi tới cửa bể Nhật Lệ rồi về”).
Tháng 11/1633, Chúa đem Vua đi đánh, thủy bộ cùng tiến Tháng 12/1633,quân của Trịnh Tráng đóng ở cửa Nhật Lệ chờ đến 10 ngày mà không thấy độngtĩnh gì, quân lính ngày càng lười biếng mệt mỏi Trong khi đó, quân của ChúaNguyễn do Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Hữu Dật chỉ huy đã bất thình lình tấncông làm cho quân Trịnh trở tay không kịp Thấy kế hoạch không thành nênTrịnh Tráng cho rút quân về Bắc
2.3 CUỘC CHIẾN LẦN THỨ BA (1635)
Năm 1635, Sãi Vương qua đời, truyền ngôi lại cho người con trai thứ hai
là Nguyễn Phúc Lan, nhân dân thường gọi là Chúa Thượng
Nghe tin Nguyễn Phúc Lan nối nghiệp, hoàng tử thứ ba là Anh nổi dậylàm phản tranh dành quyền lực Được sự giúp sức của người chú ruột là NguyễnPhúc Khê, Phúc Lan vào Quảng Nam đánh và bắt được Phúc Anh Mặc dù ChúaThượng rất đau lòng, “anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn”, trước áplực của các tướng sĩ, Phúc Anh đã bị giết sau đó
Biết được anh em chúa Nguyễn đánh nhau, Trịnh Tráng đưa quân vàođánh đất Nam Bố Chính, rồi đóng quân ở cửa Nhật Lệ
Đến năm 1643, Trịnh Tráng đem đại quân và rước vua Lê vào đất Bắc BốChính Do thời tiết nắng nóng, quân lính không chịu nổi, bệnh dịch chết hại rấtnhiều, Trịnh Tráng lại cho lui binh về Bắc
2.4 CUỘC CHIẾN LẦN THỨ TƯ (1648)
Năm 1648, Trịnh Tráng sai Đô đốc Lê Văn Hiểu đem đại binh cả quânthủy và quân bộ tiến đánh Nam Bố Chính Chúa Nguyễn sai con là Nguyễn PhúcTần đem quân ra chống giữ Tại đây, Nguyễn Phúc Tần đã bàn bạc với các tướnglĩnh: “Quân kia tuy nhiều nhưng mà người đánh giỏi ít Nếu nửa đêm ta cho voixông vào rồi đem đại quân đến đánh là chắc phá được.”
Trang 25Sau đó, quân Nguyễn cho thủy quân đi phục sẵn ở sông Cẩm La để chặnđường quân Trịnh rút chạy Mặt khác, sai Nguyễn Hữu Tiến đem 100 con voi đếncanh năm xông vào doanh trại của quân Trịnh cùng với quân bộ tiếp ứng phíasau
Quân Trịnh bị tấn công bất ngờ, trở tay không kịp, thua to nên phải tháochạy Trên đường rút chạy gặp phải phục binh của quân thủy đánh cho quânTrịnh chạy ra đến sông Lam Giang mới thôi
Kết quả, quân Nguyễn đã tiêu diệt và bắt được hơn 3.000 cả tướng và línhcủa quân Trịnh
2.5 CUỘC CHIẾN LẦN THỨ NĂM (1655)
Tháng 4 năm 1655, Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn HữuDật đem quân ra đánh chiếm vùng Bắc Bố Chính, tướng họ Trịnh là Phạm TấtToàn về hàng
Quân chúa Nguyễn tiến ra đến Hoành Sơn gặp quân của Lê Hữu Đức đánhmột trận thắng lớn, buộc quân Trịnh phải rút về phòng giữ đất Nghệ An ChúaTrịnh lại tăng cường lực lượng để đánh quân Nguyễn
Trong suốt hơn 2 năm từ 1655 – 1657, quân của hai bên đánh nhau giằng
co lúc tiến lúc thủ từ Quảng Bình ra đến Nghệ An mà không bên nào dứt đượcbên nào
2.6 CUỘC CHIẾN LẦN THỨ SÁU (1661)
Tháng 10 năm 1661, Trịnh Tạc đem vua Lê và đại binh vào đánh chúaNguyễn Sai Trịnh Căn làm thống lĩnh cùng nhiều tướng lĩnh như Đào QuangNhiêu, Lê Hiếu, Hoàng Nghĩa Giao, Lê Sĩ Triệt, Trịnh Tế… đem binh sang sôngLinh Giang và đóng bản doanh ở làng Phúc Tự
Trang 26Quân Nguyễn do Nguyễn Hữu Dật chỉ huy, cho quân đắp thành lũy vữngchắc và phòng bị mọi nơi đều chắc chắn, khiến cho quân Trịnh đánh mãi mấytháng mà không được.
Đến tháng 3 năm 1662, lương thực, binh khí cạn kiệt, quân lính mỏi mệt,Trịnh Tạc buộc phải thu quân rút về Bắc Quân Nguyễn đem quân đánh đến songLinh Giang mới thôi
2.7 CUỘC CHIẾN LẦN THỨ BẢY (1672)
Sau thất bại ở đất Bắc Bố Chính năm 1662, chúa Trịnh rút quân về Bắc vàphải lo đánh dẹp họ Mạc quấy nhiễu ở Cao Bằng mà không dòm ngó gì ở phíaNam Đến năm 1672, Trịnh Tạc lại rước vua Lê cùng mấy vạn quân vào đánhvùng Bắc Bố Chính Sai Trịnh Căn làm thủy quân nguyên súy, sai Lê Hiến làm
Kể từ đó, Trịnh – Nguyễn mới thôi việc chiến tranh, mãi cho đến khi quânTây Sơn nổi dậy thì chúa Trịnh mới chiếm được vùng Thuận Hóa (1774)
Kể từ năm 1627, suốt 45 năm sau đó, các đời Chúa Trịnh đã 7 lần đưaquân tiến đánh Chúa Nguyễn vào các năm: 1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661,
và 1672 Mặc dù thế lực binh lương của Chúa Trịnh mạnh hơn nhưng vì đường
Trang 27xá xa xôi, quân sĩ mỏi mệt, trong khi đó, quân của Chúa Nguyễn thì tướng sĩ hếtlòng, đồn lũy chắc chắn, lại lợi thế “sân nhà” cho nên cuộc chiến tranh giaigiẳng, không phân thắng bại Cuối cùng, hai bên phải lấy sông Gianh (QuảngBình) làm giới tuyến chia cắt đất nước, lịch sử gọi là Đàng Trong (sông Gianhtrở vào thuộc giang sơn Chúa Nguyễn), Đàng Ngoài (sông Gianh trở ra thuộcgiang sơn của Chúa Trịnh)
Một ngày chiến tranh thôi cũng đã thành địa ngục rồi, đằng này có đến 7cuộc chiến tranh diễn ra trong 45 năm Mất mát về nhân mạng và tiền của thìkhông ai thống kê được nhưng chắc chắn nhân dân nhiều đời là những ngườiphải gánh chịu sưu cao thuế nặng để phục vụ cho những cuộc chiến tranh “huynh
đề tương tàn” ấy Chắc chắn vùng đất Hà Tĩnh, Quảng Bình (ngày nay) trở thànhbãi chiến trường tan hoang, kinh hoàng của nhân dân Bắc Trung bộ
47 năm chiến tranh Trịnh – Mạc, 45 năm chiến tranh Trịnh – Nguyễn,cọng hai cuộc xung đột ấy lại ngót nghét 100 năm Gần một thế kỷ, cả dân tộcViệt cuồng quay chém giết lẫn nhau là vì Tổ quốc, vì Dân tộc, vì Nhân dân hay
vì cái quái gì? Bao nhiêu máu xương, bao nhiêu tội ác được vùi lấp trong nhữngcuộc ly loạn tương tàn ấy? Đây không phải là cuộc chiến giữa các bộ tộc thờihoang dã, thời của những giấc mộng hùng bá dã man Lịch sử dân tộc Việt Nam,nếu tính từ thời độc lập tự chủ đến nhà Hậu Lê đã gần 600 năm thống nhất.Trong quảng thời gian đó, dù là triều đại nào trị vì thì lòng dân và cương vựccũng đã được quy về một mối Nghĩa là tính dân tộc thống nhất đã được cũng cốkhá vững chắc, ít có chia rẽ, cát cứ Vậy nhưng, trong khoảng 275 tiếp theo thìnạn cát cứ, mộng bá vương của những nhóm người ích kỷ đã xé nát mảnh đất vàlòng người thân yêu nơi này Ở phương diện này, thì “Mạc – Trịnh – Nguyễn” trởthành những vết thương khó lành trong lịch sử dân tộc Điều đó cũng giải thích
vì sao nhân dân không ấn tượng và hiểu nhiều về giai đoạn lịch sử này
Trang 28Trong 7 cuộc chiến tranh thì có đến 6 cuộc là do quân Trịnh chủ động tấncông gây chiến, quân Nguyễn chỉ một lần chủ động đánh ra bờ Bắc sông LinhGiang Chúa Nguyễn hình thành trong một tình thế phải thường xuyên đối phóvới sự tấn công của quân Trịnh Vì thế, việc các đời Chúa Nguyễn luôn chủ động
Có công thì phải được ghi nhận, ngợi khen nhưng có tội thì phải bị phêphán Trải qua 9 đời Chúa, từ Chúa Tiên là Nguyễn Hoàng (1558-1613); ChúaSãi là Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635); Chúa Thượng là Nguyễn Phúc Lan(1635 – 1648); Chúa Hiền là Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687); Chúa Nghĩa làNguyễn Phúc Thái (1687 – 1691); Chúa Quốc là Nguyễn Phúc Chu (1691 –1725); Ninh Vương là Nguyễn Phúc Thụ (1725 – 1738); Võ Vương là NguyễnPhúc Khoát (1738 – 1765) đến Định Vương là Nguyễn Phúc Thuần (1765 –1777), chính quyền Đàng Trong ngày càng hủ bại, mục nát Quyền thần TrươngPhúc Loan khuynh loát mọi quyền hành, tác oai tác quái, khét tiếng tham nhũng,lòng người ai cũng căm ghét, oán hờn
Nhận xét về thời kỳ này, trong cuốn Phủ biên tạp lục, nhà bác học Lê Quý
Đôn viết: “Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, lấy sự phú quý phong
lưu để khoe khoang lẫn nhau… Họ coi vàng bạc như cát, lúa gạo như bùn, hoang phí vô cùng Trương Phúc Loan thu lợi 5 cửa nguồn, nhận của đút lót, vàng bạc, châu báu, gấm vóc chứa đầy nhà Ruộng vườn, tôi tớ, trâu ngựa không biết bao nhiêu mà kể…”
Trang 29Sự ăn chơi sa đọa, phung phí của tầng lớp quyền thần thế tộc đã gây nênlàn sóng căm phẫn trong dân chúng Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phongtrào nổi dậy của dân chúng, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của anh em nhà Tây Sơn.
3 CUỘC LY LOẠN GIỮA TÂY SƠN – CHÚA NGUYỄN
Mùa xuân năm 1771, ở vùng Tây Sơn Thượng đạo (nay thuộc An Khê,Gia Lai), nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu đã phất cờ hành nghĩa,quyết tâm trừ khử “Quốc phó” Trương Phúc Loan
Nói về Nguyễn Nhạc, sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia VănPhái viết như sau: “Văn Nhạc trước kia nhà nghèo, nhưng sau nhờ vào việc gábạc mà gia tư bổng trở nên giàu có Nhạc từng làm biện lại ở Vân Đồn, nênngười ta vẫn thường gọi là biện Nhạc Biện Nhạc vì tiêu mất tiền công, bèn trốnvào núi, tụ tập tay chân hơn một trăm người rồi đi ăn cướp ở các châu ấp Viêntrấn tướng vùng ấy không sao trị nổi Từ đó, Biện Nhạc tự xưng là chúa TâySơn.”
Nguyên tổ bốn đời của anh em Nguyễn Nhạc là họ Hồ, cùng tổ với HồQuý Ly Trước ở huyện Hưng Nguyên, Nghệ An Sau thì dời vào Tây Sơn, BìnhĐịnh trong một lần quân Chúa Nguyễn đánh ra Nghệ An Đến đời Hồ Phi Phúcthì sinh được 3 người con là: Nhạc, Lữ và Huệ Anh em nhà ông Nhạc khi khởibinh đã đổi sang họ Nguyễn của mẹ nhằm thu phục nhân tâm ( Việt Nam Sử lượccủa Trần Trọng Kim)
Theo lời thuật lại của giáo sĩ Diego de Jumilla thì phong trào Tây Sơn đãbắt đầu hoạt động mạnh vào tháng Tư năm 1773 Quân đội của Tây Sơn từ miềnnúi phóng xuống các thôn quê, vào các chợ búa giữa ban ngày Họ có đủ gươm,giáo, súng, nỏ nhưng không hại tính mạng và tài sản của ai Trái lại, họ tuyênngôn làm các việc công bằng, thẳng thắn, chỉ trừ khử bọn quan tham lại nhũng,