NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ đề tài NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA
KẾ BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: TRẦN NHÂN CHÍNH
NHÓM 05
Trang 3* DI SẢN THỪA KẾ
Nghiên cứu:
- Điều 612 BLDS 2015 (Điều 634 BLDS 2005); Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân Tối cao và các điều luật liên quan khác (nếu có);
- Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc;
- Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ
sở pháp
lý khi trả lời.
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung
với người khác.Theo định nghĩa của BLDS 2015 thì Di sản ko bao gồm nghĩa
vụ của người
quá cố Cơ sở pháp lý điều 612 BLDS 2015
2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản
mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?
Có 2 nhóm trường hợp khi tài sản bị thay thế:
TH 1: Tài sản đó được thay thế bởi nguyên nhân khách quan
Tức là có những yếu tố con người không biết trước tác động vào di sản thừa kế làm cho nó bị
hư hỏng và thay vào đó là di sản mới, di sản cũ không còn giá trị hiện thực
Ví dụ: Ông A
chết để lại di sản thừa kế là một ngôi nhà, nhưng do hỏa hoạn làm cho ngôi nhà bị thiêu cháy
rụi hoàn toàn và không còn giá trị sử dụng Trước thời điểm mở thừa kế ngôi nhà khác được
xây dựng thay thế ngôi nhà này Khi đó ngôi nhà mới này sẽ được coi là di sản thừa kế mà
ông A để lại
Trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế, tài sản mới thay thế cho di
sản thừa kế đó sẽ có hiệu lực pháp luật, phần tài sản mới này sẽ được chia theo pháp luật,
đồng thời tài sản là ngôi nhà đó cũng sẽ được chia theo quy định của pháp luật
về thừa kế
Trang 4TH 2: Tài sản đó được thay thế bởi nguyên nhân chủ quan
Tức là tài sản lúc này bị thay thế bởi yếu tố con người Trường hợp này xác định thay thế vì
mục đích gì, đó là nhằm chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế cũ đó hay nhằm mục đích khác
Sự thay thế là do tự bản thân cá nhân nào muốn thay thế hay đó là sự thay thế được sự đồng
thuận bởi tất cả những người thừa kế và được pháp luật thừa nhận Thì tại thời điểm mở thừa
kế di sản được quy định còn tồn tại thì di sản đó được chia theo quy định của pháp luật
Nếu nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế ban đầu đồng thời thay thế bởi một tài
sản khác khi đó tài sản mới này sẽ không được coi là di sản thừa kế Nếu vì lý
do chủ quan
mà di sản thừa kế bị làm hư hỏng hoặc bị bán mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế
thì giá trị phần di sản vẫn được coi là di sản thừa kế và người làm thất thoát
di sản có trách
nhiệm trả lại phần giá trị làm thất thoát để chia thừa kế
3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố
có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu
cơ sở pháp lý
khi trả lời.
Theo nguyên tắc khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thì người
sử dụng đất
mới có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, trong đó có quyền để lại di sản
thừa kế.Tuy nhiên, thiếu sổ đỏ việc thực hiện quyền sẽ gặp khó khăn, nhưng không đồng
nghĩa quyền sử dụng đất bị tước bỏ
3
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, trường hợp người sử dụng đất chết
để lại di sản là bất động sản khi chưa được cấp Giấy chứng nhận mà có thừa
kế, thì vẫn xác
định di sản thừa kế nhưng cần căn cứ vào các yếu tố như người sử dụng đất đã
có loại giấy tờ
nào, có sử dụng đất ổn định không, có tranh chấp hay không… để xác định đất
Trang 5đó có thuộc
vào di sản thừa kế không
Tại Điểm a mục 1.3 phần II của Nghị quyết số 02/2004 ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao có quy định:
…
“1.3 Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại
giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có
di sản là nhà ở;
vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô
tô, nhà thờ cây
ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà yêu
cầu chia thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:
a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử
dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Tòa án
giải quyết theo yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng
đất đó”
Theo đó, đất do người chết để lại nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng nếu
có các giấy tờ khác chứng minh được nguồn gốc đất hoặc UBND cấp có thẩm quyền có văn
bản xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, đất được sử dụng ổn định lâu dài, không có
tranh chấp thì Tòa án vẫn xác định đây là di sản thừa kế và tiến hành chia thừa
kế theo đúng
trình tự, quy định của pháp luật
4 Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?
Trong bản án số 08, Tòa án coi diện tích đất 85.5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là di sản Đoạn có câu trả lời: “Tài sản của ông Hòa, bà Mai gồm: Tài sản đương
sự đã thống nhất… còn lại 85.5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
Trang 6dụng đất nhưng
hộ ông Hòa đã sử dụng ổn định, ranh giới các hộ xung quanh đều rõ ràng và không có tranh
chấp, đất không thuộc diện quy hoạch phải di dời).” và đoạn “Do đó, đây vẫn là tài sản của
ông Hòa, bà Mai, chỉ có điều đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nếu
không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ bị ảnh hưởng đền quyền
và lợi ích hợp
pháp của các bên đương sự.”
5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án
số 08 về diện
tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hướng giải quyết thuyết phục:
Vì theo điều 105 của BLDS 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản
bao gồm cả quyền sử dụng đất Như vậy, quyền sử dụng đất được xem là di sản của người
chết được chuyển giao theo quy định
Đồng thời theo khoản 1.3 phần 1 mục 2 nghị quyết số 02/2004/ NQ-HĐTP, đối với tài sản
chưa được cấp giấy quyền chứng nhận quyền sử dụng đất mà có di sản là nhà ở gắn liền với
quyền sử dụng đất mà có yêu cầu chia thừa kế thì xem nó là di sản
6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của
Phùng Văn N là
bao nhiêu? Vì sao?
Trong Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là
199m2 Vì di sản được xác định tại thời điểm mở thừa kế, lúc mở thừa kế thì tổng di sản
4
chung của hai vợ chồng ông N bà G là 398m2 Cho nên ½ phần di sản đó là 199m2 Năm
1991, bà N bán cho ông K mảnh đất 131m2, là việc ở thời gian sau này, còn phần di sản của
ông N thì được xác định là tài sản tồn tại tại thời điểm mở thừa kế, là lúc ông
N chết
7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có
Trang 7được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Trả lời: Theo Án lệ trên thì phần diện tích đất chuyển nhượng cho ông K không được coi là
di sản để chia qua việc ghi nhận: “Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng
Thị G bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ” Bà G
đã chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông K và Ông K đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất
Việc bà G chuyển nhượng đất các con bà đều biết và không ai có ý kiến gì Số tiền thu được
từ việc chuyển nhượng được dùng để lo cuộc sống cho bà G và các con
Ở thời điểm mở thừa kế thì tài sản đó là di sản, tuy nhiên nó đã được đem đi bán với sự đồng
ý của các đồng thừa kế nên nó là tài sản đã chuyển giao quyền sở hữu cho người khác, không
còn được xem là tài sản trong khối di sản nữa
8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện
tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.
Việc xác định phần diện tích chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không phải
là di sản là
việc hoàn toàn hợp lý Thứ nhất, các thừa kế đã đồng ý việc chuyển nhượng đất của bà Phùng
Thị G cho ông Phùng Văn K Dù các thừa kế của ông Phùng Văn N không thể hiện sự đồng
ý qua các văn bản nhưng việc các thừa kế không phản đối cũng có thể đưdsợc coi là sự đồng
ý của các thừa kế đó Vì các thừa kế đều đồng ý việc bà G định đoạt phần tài sản trên nên
phần đất chuyển nhượng không còn nằm trong khối di sản của ông N Thứ hai, khoản tiền thu
được sau khi bán đất được bà G sử dụng để trang trải cuộc sống và nuôi nấng các con (theo
như lời khai của các bên), nên các thừa kế đều được lợi từ việc làm của bà G Hơn nữa, ông
K đã được cơ quan có thẩm quyền cấp GCN quyền sử dụng đất Như vậy, chứng tỏ việc bán
đất của bà G không xâm phạm lợi ích của bất cứ thừa kế nào
Trang 89 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng
cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để
chia không? Vì sao?
Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con và dùng số tiền đó
để lo cho cá nhân bà G thì số tiền mà bà G nhận được từ miếng đất 131m vuông đó sẽ được
coi là di sản Vì bà G là vợ ông N, sau khi ông chết và không để lại di chúc, thì bà G là người
quản lý tài sản hợp pháp dựa theo khoản 2 điều 616 quy định về người quản lý
di sản:
“…Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử
được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý
di sản cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản”
Và nếu bà G chuyển nhượng mảnh đất với lý do không chính đáng (không nhằm mục đích
chăm lo cho cuộc sống các con, cũng như những người thừa kế), đồng nghĩa với việc làm trái
với nghĩa vụ của người quản lý di sản được quy định tại khoản 2 điều 617 BLDS 2015:
a) Bảo quản di sản, không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài
sản bằng hình thức khác,
b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế
c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại
5
d) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu
của người thừa kế
Như vậy số tiền chuyển nhượng đất sẽ được xem là di sản thay thế cho mảnh đất đã bán Đồng
thời, không đòi lại mảnh đất nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu
10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích
đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Ở thời điểm bà G chết thì di sản bà G trong diện tích đất trên là ½ của 267
Trang 9m2 (133,5m2) và
1/7 của 133,5m2 trong phần di sản của ông N Vậy tổng di sản của bà Phùng Thị G trong diện
tích đất trên là 152,57m2 Vì tài sản được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được
xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G Ông N chết
không để lại di chúc nên phần di sản của ông được chia theo pháp luật, căn cứ điểm A khoản
1 Điều 651 BLDS 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất là 06 người con và bà G là
7 phần Nên bà
G được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật
11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2
có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không?
Vì sao
Việc Tòa án quyết định phần còn lại của di sản bà G là 43,5 m2 để chia thừa
kế theo pháp luật
là không thuyết phục Vì theo Điểm A khoản 1 Điều 651 thì hàng thừa kế thứ nhất bao gồm
vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Theo đó phần
di sản của ông N để lại sẽ được chia theo 7 đồng thừa kế, bao gồm bà G và 6 người con, phần
di sản của ông N là ½ diện tích đất còn lại sau khi đã trừ đi 131m2 được chuyển nhượng cho
ông K, tức là phần của ông N là 133,5m2, chia đều cho 7 đồng thừa kế như vậy mỗi người sẽ
được 19,07m2 Do đó, tổng diện tích đất mà bà G sở hữu sau khi nhận thừa kế
là 152,57m2
Bà G trước khi qua đời có để lại di chúc định đoạt phần 90m2 trong khối tài sản 152,57 m2
cho chị H1 thì phần còn lại của di sản phải là 62,57m2
Đây không phải là nội dung của Án lệ 16 vì án lệ này có nội dung xoay quanh việc công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế
chuyển nhượng
12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có
Trang 10thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là không
thuyết phục Vì hàng thừa kế thứ nhất của bà G gồm 6 người con, mặc dù phần
di chúc bà G
đã định đoạt cho bà Phùng Thị H1 90m2, nhưng phần chưa định đoạt theo di chúc thì bà H1
vẫn phải được chia theo pháp luật Tức là 43,5m2 chia đều cho 6 đồng thừa kế
Bà Phùng Thị
H1 bên cạnh việc hưởng thừa kế theo di chúc thì bà vẫn được hưởng theo pháp luật
* QUẢN LÝ DI SẢN
Nghiên cứu:
- Điều 616, 617 và 618 BLDS 2015 (Điều 638, 639, 640 BLDS 2005) và các điều
luật liên quan khác (nếu có);
- Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; Quyết định số 147/2020/DS-GĐT ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh
13 Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông
6
Đ và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không, vì sao?
Trong bản án số 11, Tòa án đã xác định giao quyền quản lý di sản của ông Đ
và bà T cho anh
Phạm Tiến H Đây là hướng giải quyết thuyết phục Vì:
- Anh Phạm Tiến H là một trong những người thừa kế - thuộc hàng thừa kế thứ nhất
- Ngoài ông Thiện, những người còn lại theo hàng thừa kế thứ nhất đều nhất trí giao cho anh
Phạm Tiến H quản lý khối di sản của ông Đ và bà T Những người thừa kế còn lại đều có đủ
năng lực hành vi dân sự, quyết định dựa trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc,
không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội
- Việc anh Phạm Tiến N không thể là người quản lý di sản vì: theo điều 616 của BLDS 2015
thì “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế