1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH NGHIÊN cứu THỰC tế tại BÌNH ĐỊNH

15 1,6K 54

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 574,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I PHẦN MỞ ĐẦU Kinh tế phát triển sẽ có điều kiện để phát triển an sinh xã hội, giáo dục y tế, tạo ra nhiều cơ hội để người dân có việc làm, tăng thu nhập Đồng thời cũng để lại nhiều mặt hệ lụy, như tài nguyên ngày càng cạn kiệt, môi trường ngày càng ô nhiễm hơn Đứng trước những cơ hội và thách thức như vậy, mỗi một người dân, người cán bộ cần trang bị những kiến thức cần thiết để có cái nhìn, những hiểu biết đúng đắn về sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội và đồng thời biết bảo vệ tài nguyên.

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

Kinh tế phát triển sẽ có điều kiện để phát triển an sinh xã hội, giáo dục y tế, tạo

ra nhiều cơ hội để người dân có việc làm, tăng thu nhập Đồng thời cũng để lại nhiều mặt hệ lụy, như: tài nguyên ngày càng cạn kiệt, môi trường ngày càng ô nhiễm hơn… Đứng trước những cơ hội và thách thức như vậy, mỗi một người dân, người cán bộ cần trang bị những kiến thức cần thiết để có cái nhìn, những hiểu biết đúng đắn về sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội và đồng thời biết bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường

Căn cứ kế hoạch số 36/KH-TCT ngày 9 tháng 9 năm 2019 của Trường trung cấp chính trị Nguyễn Chí Thanh (tỉnh Thừa Thiên Huế) về việc nghiên cứu thực tế và viết bài thu hoạch Lớp trung cấp lý luận chính trị, hành chính huyện Nam Đông tổ chức nghiên cứu thực tế tại tỉnh Bình Định trong 3 ngày 2 đêm, trọng tâm của phạm vi

nghiên cứu với chủ đề: “Tình hình phát triển kinh tế tại tỉnh Bình Định” để hiểu biết

hơn về sự phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh giúp cho học viên có thêm những kiến thức thực tế để vận dụng trong quá trình học tập và công tác sau này Đồng thời qua đợt đi thực tế tinh thần tập thể của lớp học được đoàn kết gắn bó hơn, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ngày càng tốt hơn góp phần vào

sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nam Đông

Thành phần đoàn tham gia nghiên cứu thực tế gồm:

Cô: Trần Thị Hương - Trưởng khoa lý luận cơ sở - trưởng đoàn

Thầy: Ngô Hạ - Giáo viên chủ nhiệm

Thầy: Phan Văn Ân - Công tác ở Phòng đào tạo

Thầy: Cao Huỳnh Lợi - Giáo viên đồng chủ nhiệm lớp

Ông: Hồ Sĩ Minh - Trưởng Ban Tổ chức huyện ủy huyện Nam Đông

Cùng 70/78 học viên lớp trung cấp lí luận - hành chính huyện Nam Đông (8 học viên không tham gia có lý do chính đáng)

Trang 2

Lịch trình chuyến đi và nội dung nghiên cứu thực tế: thời gian trong 3 ngày 2 đêm, xuất phát từ Nam Đông, đến thành phố Quy Nhơn (Bình Định) trong ngày, sau

đó thăm viếng mộ thi sĩ Hàn Mặc Tử Ngày tiếp theo đến tường chính trị tỉnh Bình Định, để nghe báo cáo về kinh tế - xã hội của tỉnh (do đồng chí Trần Vũ Thanh Hùng – phó giám đốc Sở kê hoạch đầu tư tỉnh Bình Định báo cáo), học viên trong lớp đặt câu hỏi liên quan, đồng chí Trần Vũ Thanh Hùng tiếp thu và giải đáp

Đoàn đi thăm một số điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh: khu du lịch Kỳ Co - Eo Gió, đảo Hòn Sẹo, Bãi Dứa, bãi biển và tháp đôi ở tp Quy Nhơn Tổ chức đêm Gala Dinner

II PHẦN NỘI DUNG

1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Bình Định

Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải 36.000 km² Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha, có độ cao dưới 100m Tỉnh Bình Định gồm: thành phố tỉnh lỵ Quy Nhơn, thị xã An Nhơn và 09 huyện (An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phú Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước, Tây Sơn, Vân Canh, Vĩnh Thạnh) Thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1, diện tích 284,28km2, dân số trên 284.000 người Bình Định được đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế

-xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ

ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia

Thành phố Quy Nhơn là trung tâm Văn hóa - Kinh tế - Chính trị của tỉnh Bình Định Bình Định đang bảo tồn nhiều di tích kiến trúc - văn hóa của người Chăm, đặc biệt là thành Đồ Bàn và các tháp Chăm (8 cụm, 14 tháp) với nghệ thuật kiến trúc độc đáo, là nơi xuất phát và là thủ phủ của phong trào nông dân Tây Sơn cuối thế kỷ 18 với tên tuổi lẫy lừng của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, là quê hương

và là nơi nuôi dưỡng tài năng các danh nhân: Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, ; Quê hương của các loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo như: tuồng, bài chòi

Trang 3

Bình Định có bờ biển dài trên 130 km, nhiều vũng vịnh với những bãi tắm đẹp

và danh lam thắng cảnh biển hài hòa, hấp dẫn như: Tam Quan, Tân Thanh, Vĩnh Hội, Trung Lương, Hải Giang, Đảo Yến, đầm Thị Nại – Bán đảo Phương Mai, Ghềnh Ráng, Quy Hòa, Hầm Hô, Hồ Núi Một, Núi Bà - Hòn Vọng Phu, suối khoáng nóng Hội Vân, đầm Trà Ổ…

2 Những kết quả đạt được trong nghiên cứu về tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bình Định

a Về sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên, môi trường

Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2018 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 24.612,7 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ (trong đó: Nông nghiệp đạt 14.489,8 tỷ đồng, tăng 4,8%; lâm nghiệp đạt 1.268,2 tỷ đồng, tăng 5,3%; thủy sản đạt 8.854,7 tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ)

Về trồng trọt: Giá trị sản xuất ước đạt 6.904,4 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng

kỳ

Về chăn nuôi: Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, kiểm dịch

động vât tiếp tục được tăng cường, không phát sinh dịch bệnh Giá trị sản xuất gia súc gia cầm ước đạt 7.184,4 tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ

Về lâm nghiệp: Giá trị sản xuất ước đạt 1.268,2 tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng

kỳ; diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 14.527,1 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ

Về thủy sản: Giá trị sản xuất ước đạt 8.854,7 tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ.

Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước đạt 243.218 tấn, tăng 5,5% so với cùng

kỳ

Về chương trình mục tiếu Quốc gia xây dựng nông thôn mới: Đẩy nhanh tiến độ

thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch Năm 2018, đã công nhận thêm 17 xã đạt chuẩn nông thôn mới (vượt kế hoạch đề ra), lũy kế đến nay trên địa bàn tỉnh có 66/121 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt 54,5%)

b Về sản xuất công nghiệp - xây dựng

- Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) ước đạt 41.080,3 tỷ đồng,

Trang 4

tăng 9,34% so với cùng kỳ Một số sản phẩm làng nghề như: Gỗ mỹ nghệ, gốm mỹ nghệ, thảm xơ dừa đã xuất khẩu sang một số nước trong khu vực, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn

- Giá trị sản xuất xây dựng năm 2018 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 15.034,1 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ

c Về thương mại, dịch vụ, tài chính

Công tác xúc tiến thương mại tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh Thường xuyên

tăng cường cung cấp thông tin thương mại, thị trường xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 800 triệu USD, đạt kế hoạch năm và tăng 10,4% so

với cùng kỳ Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng như: Sản phẩm gỗ tăng 4,1%; dệt may tăng 38,6%; thủy sản tăng 1,1%; sản phẩm từ chất dẻo tăng 43,6%, gạo tăng 38,5%

Hoạt động du lịch tăng trưởng khá; tổng lượng khách du lịch đến tỉnh trong

năm ước đạt trên 4 triệu lượt, tăng 10,6% so với cùng kỳ Tổng doanh thu du lịch năm

2018 ước đạt trên 3.300 tỷ đồng, tăng 54,7% so với cùng kỳ

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh (chưa kể thu đóng góp, thu vay

và tạm ứng ngân sách Trung ương) đạt 8.466 tỷ đồng, vượt 25% dự toán năm và tăng 1,7% so với cùng kỳ Trong đó, thu nội địa 7.791 tỷ đồng, vượt 25,9% dự toán năm và tăng 11,9% so với cùng kỳ

Về hoạt động tài chính, tín dụng ước tính đến ngày 31/12/2018, tổng nguồn vốn

hoạt động trên địa bàn tỉnh (bao gồm vốn huy động tại địa phương, vốn điều chuyển

và vốn khác) là 57.220 tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ

d Về thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh ước đạt 30.140 tỷ đồng, tăng 9,7%

so với cùng kỳ và bằng 42,6% tổng sản phẩm địa phương GRDP

Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương ước tính đến 31/12/2018 đạt 3.589,7 tỷ đồng, đạt 95,15% kế hoạch vốn được giao, tăng

Trang 5

2,68% so với cùng kỳ

e Công tác quản lý doanh nghiệp, hợp tác phát triển và thu hút đầu tư

Về đầu tư trong nước: Trong năm đã phê duyệt chủ trương đầu tư 39 dự án, với

tổng vốn hơn 4.246,9 tỷ đồng Trong đó, lĩnh vực sản xuất chế biến nông, lâm, thủy sản 02 dự án; bất động sản, thương mại, dịch vụ, du lịch 20 dự án; sản xuất công nghiệp 17 dự án

Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI): Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã cấp Giấy

chứng nhận đăng ký đầu tư 7 dự án FDI với tổng vốn đăng kỷ 84,9 triệu USD; trong

đó nôi bật là dự án “Sản xuất năng lượng điện từ năng lượng gió và mặt trời tại KKT Nhơn Hội, tỉnh Bình Định” do Công ty TNHH Năng lượng Seoul (Hàn Quốc) với tổng vốn đăng ký là 75,2 triệu USD

Về đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Trong năm 2018

tỉnh có nhiều dự án sử dụng vốn ODA với quy mô lớn được triển khai, như: Dự án đầu

tư xây dựng cầu dân sinh và quản lý tài sản đường địa phương (LRAMP); xây dựng đập ngăn mặn sông

Nhà máy điện mặt trời Fujiwara Bình Định.

3 Những vấn đề còn hạn chế

- Kinh tế tuy phát triển nhưng chưa bền vững; tổng sản phẩm địa phương (GRDP) bình quân hàng năm tăng thấp (6,87%/năm so với chỉ tiêu 8%/năm); cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tỉ trọng nông lâm nghiệp còn chiếm khá lớn trong cơ cấu

Trang 6

kinh tế của tỉnh (26,1% so với chỉ tiêu 21%); sản xuất công nghiệp còn nhỏ lẻ, thiếu ổn định Một số sản phẩm, ngành hàng chủ yếu chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường

Công tác thu hút đầu tư còn nhiều khó khăn, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài, chưa có thu hút các dự án lớn, mang tính động lực Khu kinh tế Nhơn Hội, tuy đã tập trung huy động nhiều nguồn lực đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, nhưng kết quả thu hút đầu tư chưa cao, vốn giải ngân so với vốn đăng ký của nhà đầu tư còn thấp

- Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh tăng trưởng chậm, sản phẩm còn đơn điệu, giá trị thấp, sức cạnh tranh hạn chế

- Thị trường đầu ra của sản phẩm nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn; tình hình phát triển đàn vật nuôi thiếu tính ổn định, bền vững Chưa thực hiện được việc dồn điền đổi thửa để hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh với quy mô lớn

- Hoạt động thương mại, dịch vụ ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn Du lịch có bước phát triển nhưng loại hình và sản phẩm du lịch chưa đa dạng; chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch chưa cao; công tác tuyên truyền, quảng bá còn hạn chế

- Hoạt động văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao ở cơ sở còn nhiều khó khăn, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa

- Công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận và tâm trạng xã hội của cán bộ, đảng viên và nhân dân có lúc, có nơi chưa kịp thời Việc triển khai học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng có lúc còn chậm, chất lượng chưa cao Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, còn để xảy ra khiếu kiện đông người, kéo dài, xuất hiện “điểm nóng” phức tạp Công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên một số trường hợp chưa đúng thực chất Công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa được thực hiện thường xuyên, hiệu quả thấp

4 Nguyên nhân đạt được và hạn chế

a Về khách quan

Trang 7

- Mức tăng trưởng nền kinh tế của tỉnh giai đoạn 2010 - 2015; tổng nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 được phân bổ thấp hơn dự kiến Khi xây dựng mục tiêu tăng trưởng trong nhiệm kỳ có tính đến đóng góp của Tổ hợp lọc hóa dầu Nhơn Hội; tuy nhiên, Dự án này sau đó đã dừng triển khai nên có phần ảnh hưởng đến việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra

- Xuất phát điểm nền kinh tế của tỉnh thấp, hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có quy mô vừa và nhỏ, vốn ít, quản trị yếu, hiệu quả kinh doanh chưa cao, chưa có doanh nghiệp lớn làm đầu tàu, động lực để tạo bước đột phá nhằm thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển nhanh

- Nguồn lực đầu tư cho phát triển còn hạn chế, thu ngân sách còn thấp, tỉnh vẫn còn hưởng trợ cấp của ngân sách Trung ương nên ảnh hưởng đến chi đầu tư phát triển

và chi thường xuyên trong khi hạ tầng kinh tế còn yếu kém, nhất là giao thông (đường

bộ, đường sắt, hàng không, cảng biển); hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; điểm, tuyến

du lịch và cơ sở hạ tầng văn hóa, xã hội còn bất cập

- Thiên tai hạn hán, lũ lụt thường xuyên đe dọa; những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên đã gây bất lợi đến sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân Đặc biệt là các đợt lũ lụt lịch sử năm 2016 đã phá hủy nặng nề về hạ tầng giao thông, thủy lợi và cơ sở vật chất trên địa bàn tỉnh

b Về chủ quan

- Công tác dự đoán, dự báo tình hình còn hạn chế, chưa sát thực tế Năng lực tổ chức thực hiện và tinh thần trách nhiệm của một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu một số ngành, đơn vị, địa phương chưa cao; việc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tháo

gỡ những vướng mắc, khó khăn còn chậm Các giải pháp thực hiện và sự phối hợp giữa các sở, ngành với địa phương có nơi, có lúc thiếu đồng bộ, chưa kịp thời

5 Đề xuất giải pháp của bản thân đối với tỉnh Bình Định

- Đối với Khu kinh tế Nhơn Hội: Tỉnh Bình Định cần đề nghị Chính phủ xem

xét trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển Khu Kinh tế để tạo điều kiện cho địa phương hoàn thành các thủ tục đầu tư, thu hút được các nhà đầu tư thực hiện các dự án

có quy mô lớn để tạo ra động lực mới cho phát triển công nghiệp của tỉnh

Trang 8

- Về hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương cho dự án: Tỉnh Bình Định

nói chung, thành phố Quy Nhơn nói riêng cần đề nghị Chính phủ xem xét, điều chỉnh quy định về quy mô dự án được hỗ trợ từ ngân sách Trung ương theo hướng mở rộng đối tượng các dự án được hỗ trợ bao gồm cả dự án nhóm có quy mô lớn

- Về liên kết vùng trong phát triển du lịch, dịch vụ, phấn đấu trở thành trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế lớn của vùng và cả nước

Tỉnh Bình Định cần đề xuất Chính Phủ xây dựng Cảng hàng không Phù Cát

thành Cảng hàng không quốc tế để tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư và khách du

lịch trong nước và quốc tế đến với Bình Định nói riêng và vùng KTTĐ miền Trung nói chung để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách trong các năm sắp đến và phù hợp với định hướng quy hoạch của tỉnh

- Về chỉnh trang đô thị Quy Nhơn – vấn đề vướng mắc liên quan đến di dời ga đường sắt Quy Nhơn ra khỏi nội thành

Tỉnh Bình Định cần tập trung nguồn lực sớm di dời tuyến đường sắt Diêu Trì -Quy Nhơn, ga -Quy Nhơn ra khỏi nội thành thành phố -Quy Nhơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

- Về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn

Tỉnh Bình Định cần tiếp tục chỉ đạo triển khai có hiệu quả Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá gia tăng và phát triển bền vững”; tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ

- Phát triển kinh tế cần gắn liền với bảo vệ môi trường bền vững.

* Ngoài các giải pháp trên, trong quá trình nghiên cứu thực tế và nghe báo cáo về kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định, bản thân tôi mạnh dạn đề xuất thêm những giải pháp sau:

- Tỉnh Bình Định có vị trí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng,

có bờ biển trải dài trên 130 km, với nhiều bãi biển đẹp, tuy nhiên đầu tư về dịch vụ du

Trang 9

lịch chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh nhà, nên trong những năm tới tỉnh cần định hướng, phát triển mạnh mẽ du lịch, nhất là du lịch biển

- Bộ mặt thành phố Quy Nhơn rất khá sạch sẽ, cơ sở hạ tầng phát triển chưa tương xứng, nhiều điểm trên phố còn xả rác bừa bãi, nước cống xả thẳng xuống biển, gây mất mỹ quan, tạo ấn tượng không tốt đẹp trong lòng du khách Nên tỉnh cần chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, chú trọng mỹ quan đô thị và phát triển môi trường

- Cần huy động nguồn vốn, đáp ứng yêu cầu chi đầu tư, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương để đầu tư các công trình trọng điểm, cấp thiết trên địa bàn tỉnh

và giải quyết các khó khăn của địa phương

6 Bài học rút ra đối với đơn vị, địa phương nơi đang công tác và của bản thân

a Khái quát tình hình về đơn vị đang công tác

Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Nam Đông đóng trên địa bàn xã Hương Hòa, huyện Nam Đông, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND huyện Nam Đông; đồng thời chịu sự quản lý hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp

vụ của Sở Giáo dục & Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

Trung tâm có chức năng dạy nghề, giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và giới thiệu việc làm Hiện nay, số lượng cán bộ, giáo viên Trung tâm là 28, trình độ đều đạt chuẩn và trên chuẩn, trong đó cán bộ quản lý 3 đồng chí (01 thạc sỹ, 02 đại học), giáo viên 19 (18 đại học, 1 cao đẳng), nhân viên 6 (3 đại học, 01 cao đẳng và 02 hợp đồng 68, trình độ 12/12) Về tổ chức đảng, chi bộ Trung tâm số lượng đảng viên là 21/28 đồng chí, trực thuộc huyện ủy huyện Nam Đông

Về cơ cấu tổ chức, Trung tâm có 04 tổ chuyên môn : Tổ Giáo dục thường xuyên, tổ Hướng nghiệp đào tạo, tổ Xóa mù chữ và tổ Hành chính tổng hợp

b Những kết quả đạt được trong năm học 2018-2019

Công đoàn phối hợp với chính quyền cơ quan chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ giáo viên, trồng cây keo trên những quỹ đất trống, nuôi bể cá tạo nguồn quỹ cho các hoạt động của công đoàn

Trang 10

Tiếp tục thực hiện “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với các cuộc vận động, phong trào thi đua của ngành “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Chất lượng đội ngũ luôn được Trung tâm chú ý thông qua việc thực hiện dự giờ thăm lớp và việc sinh hoạt chuyên môn tổ hàng tháng

Nêu cao cao tinh thần tự học, tự rèn cho đội ngũ thông qua việc đăng ký nội dung bồi dưỡng thường xuyên hàng năm, tham gia tập huấn chuyên môn để nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ

Thường xuyên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, khả năng tự học tự nghiên cứu của học viên Khai thác tối ưu các

phần mềm liên quan; Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học được thực hiện

trên tất các loại hình lớp

Ngay từ đầu năm học trung tâm đã đặt ra chỉ tiêu về chất lượng cho đối tượng học viên GDTX cấp THPT như: tỷ lệ tốt nghiệp THPT Quốc Gia, đỗ cao đẳng, đại học, chọn học viên giỏi cấp tỉnh, giảm tối thiểu tỷ lệ học viên bỏ học giữa chừng… bằng nhiều phương pháp cụ thể như: Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, khảo sát và phân loại học viên theo năng lực học tập, theo khối, nhóm lớp…

Một số kết quả cụ thể :

- Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia đạt 60% (6/10 học viên); có

5 em đậu đại học hệ chính quy nguyện vọng 1; có 1 học viên lớp 12 đạt học viên giỏi môn văn cấp tỉnh

- Thi tự làm ĐDDH với 16 sản phẩm được thẩm định, có 06 sản phẩm được Hội đồng thẩm định đánh giá cao về tính hiệu quả và chất lượng;

Tư vấn định hướng nghề nghiệp tương lai cho các em hoc sinh khối 11 trên toàn huyện thu hút được 200 em tham gia; phân luồng học sinh khi tốt nghiệp THCS cho học sinh khối 9 với 100 em tham gia

Ngày đăng: 07/05/2022, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w