TINH THẦN ĐOÀN KẾT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID 19 NĂM 2021 TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Môn học: Chủ nghĩa xã hội khoa học Học kỳ I (2021 – 2022) TINH THẦN ĐOÀN KẾT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID 19 NĂM 2021 PHẦN MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài Năm 2021 là một năm đầy biến động. Tiếp nối cơn đại dịch từ năm 2020 vừa qua, lần này Covid 19 trở lại với biến chủng Delta đầy nguy hiểm và chết chóc đã từng hoành hành và thảm sát hàng triệu người dân Ấn Độ. Chỉ tính riêng ở Việt Nam từ đầu đợt dịch thứ 4, chúng ta đã ghi nhận 1.763.040 (một triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn và bốn mươi) ca nhiễm, tính đến hôm nay 03/01/2021. Trong số đó, đã có 32.831 (ba mươi hai nghìn, tám trăm ba mươi mốt) người không thể qua khỏi, trong số đó có cả những người đang làm cha làm mẹ, bỏ lại sau lưng những đứa trẻ mồ côi không còn gia đình,... Vì thế, hơn bao giờ hết, công tác chống dịch phải được đặt lên hàng đầu - “Chống dịch như chống giặc”. Trong thời khắc tăm tối ấy, tình yêu thương đùm bọc, tinh thần nhân ái của đồng bào ta được lan tỏa như một ngọn lửa lớn, thắp sáng cả đất nước. Ngọn lửa đó, bắt nguồn từ bao truyền thống tốt đẹp mà cha ông ta để lại, đã đem đến những tia sáng hi vọng vượt qua đại dịch, giúp chúng ta đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc trong công tác phòng chống dịch mà không phải bạn bè nào trên thế giới cũng làm được. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong việc phòng, chống dịch Covid 19 năm 2021” nhằm làm rõ tinh thần đoàn kết của dân tộc ta trong công tác phòng, chống dịch Covid 19 năm 2021.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
Môn học: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Học kỳ I (2021 – 2022)
TINH THẦN ĐOÀN KẾT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG DỊCH
COVID 19 NĂM 2021
Sinh viên: Đỗ Minh Khôi MSSV: 20520592
Lớp: SS009.M13 Trường: Đại học Công Nghệ Thông Tin Giảng viên: Đặng Kiều Diễm
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC…… ………2
PHẦN MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài……… 3
PHẦN NỘI DUNG Đặc điểm dân tộc Việt Nam……… …….4
Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong việc phòng, chống dịch Covid 19 năm 2021……….6
Đề xuất giải pháp phát huy tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam……… 12
KẾT LUẬN……… 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Năm 2021 là một năm đầy biến động Tiếp nối cơn đại dịch từ năm 2020 vừa qua, lần này Covid 19 trở lại với biến chủng Delta đầy nguy hiểm và chết chóc đã từng hoành hành và thảm sát hàng triệu người dân Ấn Độ Chỉ tính riêng ở Việt Nam từ đầu đợt dịch thứ 4, chúng ta đã ghi nhận 1.763.040 (một triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn và bốn mươi) ca nhiễm, tính đến hôm nay 03/01/2021 Trong số đó, đã có 32.831 (ba mươi hai nghìn, tám trăm ba mươi mốt) người không thể qua khỏi, trong số đó có cả những người đang làm cha làm mẹ, bỏ lại sau lưng những đứa trẻ mồ côi không còn gia đình,… Vì thế, hơn bao giờ hết, công tác chống dịch phải được đặt lên hàng đầu - “Chống dịch như chống giặc”
Trong thời khắc tăm tối ấy, tình yêu thương đùm bọc, tinh thần nhân ái của đồng bào ta được lan tỏa như một ngọn lửa lớn, thắp sáng cả đất nước Ngọn lửa đó, bắt nguồn từ bao truyền thống tốt đẹp mà cha ông ta để lại, đã đem đến những tia sáng hi vọng vượt qua đại dịch, giúp chúng ta đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc trong công tác phòng chống dịch mà không phải bạn bè nào trên thế giới cũng làm được
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong việc phòng, chống dịch Covid 19 năm 2021” nhằm làm rõ tinh thần đoàn kết của dân tộc ta trong công tác phòng, chống dịch Covid 19 năm 2021
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
1 Đặc điểm dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất: Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó, dân tộc người Kinh có 73.594.341 người chiếm 85,7% dân số cả nước; 53 dân tộc thiểu số có 12.252.656 người, chiếm 14,3% dân số Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cũng không đồng đều, có dân tộc với số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Mông ), nhưng có dân tộc với số dân chỉ vài ba trăm (Si
la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, Ơ đu)
Thực tế cho thấy nếu một dân tộc mà số dân chỉ có hàng trăm sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi Ngoài ra trong bối cảnh dịch bệnh, những dân tộc ít người cũng là những dân tộc chịu ảnh hưởng lớn nhất từ dịch bệnh: điều kiện cơ sở vật chất cho giáo dục trực tuyến (online) thiếu thốn, kinh tế trì trệ do dịch,… Vì thế, chăm lo đời sống cho các dân tộc thiểu số, có những chính sách phù hợp để bảo tồn và phát huy truyền thống của các dân tộc cũng là mối quan tâm lớn nhất của Đảng và Nhà nước
Thứ hai: Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau
Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam Á Tính chất chuyển cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán, xen kẽ và làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn
Đặc điểm này một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Mặt khác, do có nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh sống cũng dễ nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước
Thứ ba: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng
Trang 5Mặc dù chỉ chiếm 14,3% dân số, nhưng 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lại cư trú trên ¾ diện tích lãnh thổ và ở những vị trí trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái – đó là vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa của đất nước Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Khơme, dân tộc Hoa… do vậy, trong bối cảnh dịch bệnh COVID – 19, các dân tộc đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện sớm những đối tượng nhập cảnh trái phép, chưa khai báo y tế, thông báo lại để chính quyền có các biện pháp cách li, xử lí phù hợp theo quy định
Thứ tư: Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều
Các dân tộc ở nước ta còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống, quan hệ xã hội của các dân tộc thiểu số khác nhau Về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu
số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau: Một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm đoạt, dựa vào khai thác tự nhiên; tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang phương thức sản xuất tiến bộ, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Về văn hóa, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số còn thấp Điều này gây khó khăn rất lớn đối với quá trình chuyển đổi số -
hệ quả tất yếu của COVID – 19, mà điển hình là việc trẻ em các dân tộc thiểu số khó có
cơ hội tiếp cận các thiết bị học tập trực tuyến
Muốn thực hiện bình đẳng dân tộc, phải từng bước giảm, tiến tới xoá bỏ khoảng cách phát triển giữa các dân tộc về kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là nội dung quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam để các dân tộc thiểu số phát triển nhanh và bền vững
Thứ năm: Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc - quốc gia thống nhất
Đặc trưng này được hình thành do yêu cầu của quá trình cải biến tự nhiên và nhu cầu phải hợp sức, hợp quần để cùng đấu tranh chống ngoại xâm nên dân tộc Việt Nam đã hình thành từ rất sớm và tạo ra độ kết dính cao giữa các dân tộc Đoàn kết dân tộc trở thành truyền thống quý báu của các dân tộc ở Việt Nam, là một trong những nguyên
Trang 6nhân và động lực quyết định mọi thắng lợi của dân tộc trong các giai đoạn lịch sử; đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược để giành độc lập thống nhất Tổ quốc
Ngày nay, tinh thần đoàn kết này thể hiện rất rõ trong đại dịch COVID – 19, thông qua các hoạt động tương trợ lẫn nhau, “lá lành đùm lá rách” của đồng bào ta Các dân tộc, không phân biệt thiểu số hay đa số, đều cần góp sức của mình vào công tác phòng chống dịch trên tinh thần: mỗi xã, phường là một pháo đài; mỗi người dân là một chiến sĩ, ai
ai cũng phải có trách nhiệm chống dịch Các dân tộc đa số phải tích cực giúp đỡ các dân tộc thiểu số, đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau”
Thứ sáu: Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú,
đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trong văn hóa của mỗi dân tộc đều có những sắc thái độc đáo riêng góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng
Sự thống nhất đó, suy cho cùng là bởi, các dân tộc đều có chung một lịch sử dựng nước
và giữ nước, đều sớm hình thành ý thức về một quốc gia độc lập, thống nhất Xuất phát
từ đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến chính sách dân tộc, xem đó là vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn và toàn diện gắn liền
với các mục tiêu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2 Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong việc phòng, chống dịch Covid 19 năm 2021
Đại đoàn kết toàn dân tộc – di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Đại đoàn kết đã trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Tinh thần yêu nước, trọng nhân nghĩa, khoan dung, sự cố kết, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Lịch sử mấy ngàn năm tồn tại và phát triển của dân tộc ta đã chứng minh truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đều kết thành sức mạnh
vô địch, đưa Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vẻ vang Nhờ tinh thần đoàn kết, nhân dân ta đã
Trang 7vượt qua mọi gian lao, thử thách, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững non sông
bờ cõi, viết nên những trang sử vàng hào hùng của dân tộc
Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: ” Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, làm cho vận mệnh mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn và phát triển của dân tộc Nó là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã được hun đúc và thử nghiệm qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Có thể nói năm 2021 vừa qua là một năm vô cùng đặc biệt Biến thể Delta xuất hiện làm đảo lộn cuộc chiến chống dịch của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Delta làm dịch bùng phát mạnh với tốc độ lây nhiễm cao gấp nhiều lần so với các biến chủng khác trước đó, làm cho tình trạng của người bệnh trầm trọng và nguy cơ tử vong luôn hiện hữu
Trong đợt dịch thứ 4 do Delta khởi phát này (từ ngày 27/4/2021 đến nay), số ca mắc mới ghi nhận trong nước là 831.523 ca, trong đó có 755.622 bệnh nhân đã được công
bố khỏi bệnh Tuy nhiên, so vớigiai đoạn nửa cuối tháng 9/2021 (có những ngày ghi
Trang 8nhận gần 12.000 ca mắc), số ca mắc mới và ca tử vong hiện có xu hướng giảm rõ rệt, số
ca khỏi bệnh lại lập kỷ lục mới với 27.520 người (vào ngày 1/10).1
Những con số ấn tượng như vậy là nhờ vào sự huy động kịp thời, sự vào cuộc quyết liệt, không một phút chần chừ của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng, đồng thuận, chung sức của nhân dân, việc thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh đã diễn ra ở quy mô chưa có tiền lệ và đạt được những kết quả thắng lợi bước đầu Chiến thắng bước đầu này là thành tựu của sức mạnh đại đoàn kết cả đất nước, lả chiến thắng của cả quốc gia đoàn kết
Cán bộ, học viên Học viện Quân y xung kích lên đường vào miền Nam chống dịch
Hưởng ứng Lời kêu gọi của đồng chí Tổng Bí thư về phòng, chống đại dịch Covid-19, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ta ở nước ngoài đã đoàn kết “toàn dân tộc muôn người như một” đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành triển khai nhiều giải đồng bộ, quyết liệt ngăn chặn, từng bước đẩy lùi dịch bệnh
1Trong ngày 4/1/2022, số bệnh nhân được công bố khỏi bệnh là 16.227 ca Tổng số ca được điều trị khỏi là 1.413.384 ca
Trang 9Không chỉ nhân dân ta, mà đồng bào ta ở nước ngoài và cả hệ thống chính trị một lần nữa phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái nỗ lực cao nhất trong công tác Phòng, Chống Dịch (PCD) Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, ban chỉ đạo PCD Covid-19 từ Trung ương tới cơ sở đã quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung cao nhất trí tuệ, công sức, thời gian, ưu tiên mọi nguồn lực, chủ động nắm chắc,
dự báo và kiểm soát tốt tình hình; không lơ là, chủ quan, không để bị động, bất ngờ trong ứng phó với diễn biến mới của dịch bệnh; linh hoạt, sáng tạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các biện pháp để dập dịch
Có lẽ chưa bao giờ, truyền thống "thương người như thể thương thân" lại được truyền
đi rộng khắp và nhân lên mạnh mẽ như trong thời gian này Hai tiếng “đồng bào” đã thôi thúc trái tim mỗi người con đất Việt, để cùng nhau đùm bọc, sẻ chia, cùng nhau vượt qua những khó khăn của dịch bệnh
Chị Đỗ Thị Ngọc Phượng (chủ nhà hàng chay Mãn Tự) cho biết, dù thời gian này mọi người đều rất vất vả, nhưng ai nấy đều nỗ lực để giúp đỡ phần nào cuộc sống bà con
đang chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh (Ảnh: Ngô Tùng)
Những ngày dịch bệnh khó khăn vừa qua, có biết bao chuyến xe yêu thương chuyên chở lương thực thực phẩm, rau củ, cá tươi, đồ khô, trứng… về TP Hồ Chí Minh hỗ trợ người
Trang 10dân an tâm chống dịch Nghĩa đồng bào gửi gắm cả vào từng mớ rau, quả trứng; tình yêu thương và niềm tin chiến thắng gửi vào từng hộp cá, từng trái bầu, trái bí vườn nhà Chúng ta cũng thật cảm mến khi đã có biết bao nhiêu bác sĩ, y tá, sinh viên y khoa từ mọi miền Tổ quốc tình nguyện “Nam tiến” vào hỗ trợ TP Hồ Chí Minh Hay như vào ngày 24/7, PGS.TS, Nguyễn Trường Sơn, Thứ trưởng Bộ Y tế, Trưởng bộ phận thường trực đặc biệt của Bộ Y tế tại TP Hồ Chí Minh vừa kêu gọi các đồng nghiệp tham gia chống dịch hỗ trợ TP Hồ Chí Minh thì chiều 26/7 đã có hơn 2 nghìn lượt người đăng ký Trong số đó, không ít người đã về hưu Họ chẳng nề hà khó khăn, hiểm nguy, thậm chí
họ chấp nhận rủi ro và nguy cơ lây nhiễm cao chỉ bởi sự thúc giục của con tim không cho phép họ “ích kỷ” Mệnh lệnh của trái tim ngay lúc này là “tối thượng” Có sự hi sinh nào cao quý hơn thế khi tất cả chỉ vì mục đích cứu người, bởi biết bao người bệnh đang cần, rất cần họ
Tiễn các y bác sĩ lên đường vào các tỉnh miền Nam chống dịch (Ảnh: baochinhphu.vn)
Những ngày này, vào các trang báo, trên mạng xã hội, các hội nhóm, đâu đâu chúng ta cũng thấy những hình ảnh xúc động về sự sẻ chia, đùm bọc nhau trong mùa dịch Bên cạnh sự “tàn khốc” của dịch bệnh COVID-19, chúng ta cảm nhận rõ hơn bao giờ hết chính là những giá trị nhân văn, là tình thương yêu của con người với con người Người
có điều kiện thì chia sẻ nhiều, người khó khăn thì chia sẻ ít nhưng điểm chung ở họ là một trái tim ấm áp, là nghĩa tình