Trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam nói riêng cũng như các nước khác trên thế giới nói chung, việc tổ chức bộ máy nhà luôn luôn có sự biến đổi, không ngừng phát triển ở mỗi thời đạ
Trang 1TR ƯỜ NG Đ I H C KINH TẾẾ QUỐẾC DÂN Ạ Ọ
KHOA LU T Ậ
MỐN H C Ọ : LÝ LU N NHÀ N Ậ ƯỚ C VÀ PHÁP LU T 1 Ậ
LÂẤY VÍ D MINH H A BẰẰNG M T TRIỀẰU Đ I PHONG KIỀẤN C TH Ụ Ọ Ộ Ạ Ụ Ể
C A VI T NAM Ủ Ệ
Trang 2Giáo viên h ướ ng dẫẫn : TS.GVC Nguyêẫn H u M nh ữ ạ
Nhóm sinh viên : Nguyêẫn Ph ươ ng Th o ả - 11218371
: Ph m Kiêều Linh ạ - 11218347 : Trẫền Th Linh Đan ị - 11218323 : Vũ Th Thuyên ị - 11218375 : Nguyêẫn Quý B o ả - 11218311
L p h c phẫền ớ ọ : Lý lu n vêề Nhà n ậ ướ c và pháp lu t (121_03) ậ
Hà N i – 202 ộ 1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA BỘ MÁY NHÀ
1.1 Khái niệm bộ máy nhà nước 4 1.2 Đặc điểm bộ máy nhà nước 5
CHƯƠNG 2 VÍ DỤ MINH HỌA VỀ MỘT TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN CỤ
2.1 Sơ lược về tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam thời kỳ nhà Nguyễn (1802
2.2 Đặc điểm của bộ máy nhà nước thời Nguyễn (1802 – 1884) 7
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
LỜI MỞ ĐẦU
Nhà nước là một sản phẩm của xã hội có giai cấp Nhà nước xuất hiện khi các mâu thuẫn giai cấp trong xã hội đã phát triển đến mức không thể dung hòa, giai cấp thống trị lập ra nhà nước làm nhiệm vụ thiết lập trật tự, ổn định của xã hội, duy trì và bảo vệ địa vị, quyền lợi cho giai cấp thống trị
Trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam nói riêng cũng như các nước khác trên thế giới nói chung, việc tổ chức bộ máy nhà luôn luôn có sự biến đổi, không ngừng phát triển ở mỗi thời đại khác nhau, với các cách thức tổ chức được xây dựng trên những nguyên tắc riêng, phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng
Dưới sự tác động, ảnh hưởng của các vấn đề ở thời điểm lúc ấy, bộ máy nhà nước luôn luôn được cải tiến nhằm hoàn thiện một tổ chức bộ máy hoàn chỉnh, chặt chẽ và phù hợp Chính sự đa dạng và phức tạp trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước đã tạo nên các nguyên tắc riêng và đặc thù cho từng thời kì
Tuy nhiên, tùy theo thời đại mà bộ máy nhà nước lại có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lúc ấy Với lịch sử Việt Nam đã từng trải qua rất nhiều triều đại, thời kỳ khác nhau tạo nên sự đa dạng trong cách thức tổ chức
Trang 4bộ máy nhà nước Nếu như bộ máy tổ chức thời Lê là bộ máy quân chủ chuyên chế quan liêu được tổ chức khá chặt chẽ và hoàn chỉnh, nhà nước thời Trần là một tổ chức Nhà nước trung ương tập quyền theo chế độ quân chủ…thì nhà Nguyễn lại thiết lập được thiết chế quân chủ với tính tập quyền cao nhất trong lịch sử chính trị Việt Nam sau khi kế thừa những di sản từ mô hình thể chế chính trị và tổ chức bộ máy chính quyền trước đó
Bộ máy nhà Nguyễn được xây dựng trên những nền tảng nguyên tắc nhất định, phù hợp với bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu của triều đại Với những đặc điểm khác biệt so với các triều đại trước, Bộ máy nhà nước thời Nguyễn được đánh giá là bộ máy có quyền lực mạnh nhất so với các triều đại trước đó
CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương tới địa phương,
được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra đối với nhà nước
Phân tích rõ hơn:
Hệ thống là các yếu tố trong đó liên kết theo trình tự logic khách quan,
chúng có sự ràng buộc chi phối lẫn nhau
Cơ quan nhà nước là là bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước, bao gồm số
lượng người nhất định, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, nhân danh nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước
Trang 51.2 Đặc điểm bộ máy nhà nước
Là một hệ thống các cơ quan nhà nước: Bao gồm tất cả cơ quan nhà nước
giữa các cơ quan nhà nước có sự liên kết chặt chẽ tác động qua lại với nhau
Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc
nhất định Nguyên tắc tổ chức và hoạt động là những nguyên lý tư tưởng
chỉ đạo then chốt, làm cơ sở cho toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước được thiết lập để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ
của nhà nước Nhà nước thành lập ra các cơ quan tương ứng để thực hiện
chức năng nhiệm vụ
Mối liên hệ về mặt tổ chức thể hiện chỗ các cơ quan trong bộ máy nhà
nước được sắp xếp liên kết với nhau trong một chỉnh thể, tồn tại trong một trật tự thứ bậc nhất định
Mối liên hệ về mặt hoạt động thể hiện chỗ mỗi cơ quan nhà nước có chức
năng khác nhau, kiểm tra giám sát lẫn nhau
Trang 6Cụ thể hơn, bộ máy nhà nước bao gồm rất nhiều cơ quan Lãnh thổ được
chia thành nhiều đơn vị hành chính và trong các đơn vị hành chính ấy thì có người dân Và để quản lý người dân được hiệu quả cho nên đã lập ra các cơ quan nhà nước được thiết lập theo từng đơn vị hành chính
Các cơ quan được sắp xếp theo những thứ bậc, trật tự nhất định, quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống Hệ thống rất nhiều cơ quan đó không phải lúc nào cũng ổn định Chúng luôn vận động, biến đổi vì khi nền tảng xã hổi thay đổi thì nó cũng thay đổi và biến đổi theo để phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội ở giai đoạn, thời kì đó Những biến đổi thường thấy như sự thay đổi số lượng cơ quan, tên gọi các cơ quan, chức năng, nhiệm vụ thay đổi theo thời gian Ví dụ như, Bộ Nội vụ từng có tên gọi là Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ và Bộ Nội vụ từng đảm nhiệm công tác Thương binh, liệt sĩ Hay năm 1987, Bộ Lao động và Bộ Thương binh
và Xã hội hợp nhất thành Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Mỗi một cơ quan nhà nước lại có những đặc điểm rất riêng Chính vì vậy làm cho các cơ quan nhà nước khác biệt hoàn toàn với những cơ quan khác trong xã hội
Các cơ quan nhà nước được lập ra trên cơ sở Hiến pháp và Pháp luật Mỗi
cơ quan nhà nước lại có một vị trí nhất định trong hệ thống cơ quan nhà nước, được phân chia một phần quyền lực nhà nước, từ đó tác động, chi phối lên và bắt buộc mọi người phải tuân thủ Để thực hiện quyền lực, tác động tới các cá nhân; các cơ quan han hành ra văn bản, mệnh lệnh, từ đó tạo thành luật mà mọi người phải tuân thủ Các cơ quan nhà nước luôn nhận được sự phối hợp, hỗ trợ từ các cơ quan khác, đặc biệt là những cơ quan tư pháp Khi mà cơ quan nhà nước ban hành ra văn bản pháp luật mà các cá nhân, tổ chức không tuân theo thì cơ quan tư pháp sẽ vào cuộc xử lí
Trang 7CHƯƠNG 2 VÍ DỤ MINH HỌA VỀ MỘT TRIỀU ĐẠI PHONG
KIẾN CỤ THỂ CỦA VIỆT NAM
2.1 Sơ lược về tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam thời kì nhà Nguyễn
(1802 – 1884)
Vài nét tiêu biểu có thể kể đến của bộ máy nhà nước Việt Nam thời Nguyễn như:
Thứ nhất, bộ máy nhà nước thời Nguyễn được đánh giá là bộ máy có quyền
lực mạnh nhất so với các triều đại trước đó
Thứ hai, bộ máy theo hướng tinh giản, hiệu quả.
Thứ ba, nguyên tắc tổ chức “tôn quân quyền” của Nho giáo được áp dụng
triệt để
Cụ thể hơn về “tôn quân quyền”, là nguyên tắc mà ở đó, quyền lực nhà vua
là tối cao, vua nắm mọi quyền hành, tất cả mọi người phải phục tùng theo nhà vua, vua là “thiên tử” (con trời) nên ý của vua cũng chính là ý trời
Trang 8Là một nhà nước đỉnh cao dưới thời kỳ vua Minh Mạng (1820 -1840) Công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của triều Nguyễn đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Việc tổ chức, kiện toàn một bộ máy nhà nước theo hướng tinh giản, hiệu quả là một trong những khâu trọng yếu góp phần mang lại hiệu lực, hiệu quả cho các chính sách của nhà nước dưới thời Nguyễn
2.2 Đặc điểm của bộ máy nhà nước thời Nguyễn (1802 – 1884)
Bộ máy nhà nước thời Nguyễn (1802-1884) có 2 đặc điểm chính:
Thứ nhất, quy định rõ cơ cấu, chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của các
cơ quan, chức danh trong bộ máy nhà nước, tránh chồng chéo công việc
Cụ thể:
Chính quyền trung ương, thông qua hệ thống các văn bản pháp luật phong
phú thời Nguyễn, thiết chế tổ chức, quản lý bộ máy nhà nước đã được phác dựng tương đối rõ nét
Lục Bộ - thiết chế kinh điển của bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam, là
hệ xương sống của nền hành chính phong kiến đã được quy định rõ Lục Bộ được nhà vua giao quản lý các lĩnh vực quan trọng nhất của nhà nước về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
Về thẩm quyền, gồm 6 bộ:
+ Bộ Lại: giúp vua quản lý đội ngũ quan lại cả nước bao gồm việc tuyển bổ, thăng giáng, phong tước phẩm, khảo xét thuyên chuyển quan lại, quy định lương bổng của quan lại
+ Bộ Lễ: quản lý việc giáo dục, thi cử; quản lý việc lễ nghi, tế tự trong triều
và của quan lại; lễ tân ngoại giao; đúc ấn tín; đôn đốc công việc của Tư thiên giám và Thái y viện; quản lý đền, chùa, miếu mạo…
+ Bộ Hộ: giúp vua quản lý ruộng đất, hộ khẩu, tài chính thuế khóa, kho tàng, ngân sách nhà nước, cấp phát lương bổng cho quan lại…
+ Bộ Binh: giúp vua quản lý lĩnh vực quân sự như hoạch định chính sách quốc phòng và kế hoạch tác chiến khi có chiến tranh, tuyển quân, quản lý
và huấn luyện quân đội, quân trang, khí giới, trông coi việc trấn giữ biên ải,
hộ giá nhà vua, ứng phó với tình hình khẩn cấp, tuyển bổ các võ quan
Trang 9hợp thì tâu vua để sửa đổi; xét xử một số vụ trọng án hoặc phúc thẩm các án nặng, kiểm tra việc xét xử của các nha môn cả nước, quản lý và kiểm tra việc giam giữ các tù nhân, truy nã tù trốn và tội phạm…
+ Bộ Công: giúp vua quản lý việc sửa chữa, xây dựng cung điện, thành trì, đường sá, cầu cống…, quản lý các công xưởng và thợ thuyền của nhà nước Cùng với Lục Bộ, tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan khác trong chính quyền trung ương cũng được quy định rõ ràng, rành mạch để tránh chồng chéo trong công việc
Ngoài ra, nhà nước đã đặt các chức quan có chức năng giám sát và thiết lập
cơ quan chuyên trách là Đô sát viện (năm 1832) với các chức năng:
+ Giám sát hành vi của các quan lại trong triều kể cả hoàng thân quốc thích
để phát hiện ra những hành vi khuất tất, không công bằng, không giữ phép, dối trá, bưng bít, chuyên quyền
+ Giám sát việc thi cử tuyển chọn nhân tài cho đất nước nhằm đảm bảo sự công bằng trong thi tuyển, lựa chọn được người hiền tài giúp nước, giúp vua
Đô sát viện có một hệ thống giám sát đoàn, giám sát ngự sử 16 đạo, có nhiệm vụ giám sát dưới địa phương để phát hiện quan lại có tệ tham ô, tham hặc, những việc không công bằng, không giữ phép Các quan chức trong Đô sát viện và các giám sát đoàn có quyền “hặc tấu lẫn nhau” Đô sát viện là cơ quan giám sát chuyên trách về hành chính và tư pháp, có sự độc lập rất cao, chỉ trực thuộc trực tiếp dưới hoàng đế mà không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào nên hiệu quả giám sát được nâng cao
Nhà nước còn đặt ra viên quan Kinh lược sứ đặc trách đi kinh lý, kiểm tra, giám sát các nơi và có quyền giải quyết những công việc trong quyền hạn được giao sau đó mới tâu lên triều đình Bên cạnh đó, mỗi cơ quan nhà nước cũng là một cơ quan giám sát các cơ quan khác theo nguyên tắc kiểm tra chéo
Như vậy, nhà Nguyễn đã xác lập một cơ chế thanh tra, giám sát hết sức chặt chẽ với nhiều hình thức tạo nên sự ràng buộc lẫn nhau giữa các cơ quan nhà
Trang 10nước Một cơ chế giám sát cả bên trong và bên ngoài được thiết lập nhằm nâng cao chất lượng công vụ; buộc các cơ quan phải thực thi công vụ trong thẩm quyền, tránh tình trạng lạm quyền và lộng quyền
Chính quyền địa phương, về cơ bản có 4 cấp: tỉnh, phủ, huyện, xã
Quy định rõ chức năng, thẩm quyền của các quan chức đứng đầu các cấp hành chính ở địa phương
Thể hiện ở cấp tỉnh, tổng đốc coi việc thống trị quân dân và các hàng văn
võ, sát hạch quan lại và sửa sang bờ cõi; Tuần phủ coi việc tuyên bố đức hóa của nhà vua, vỗ yên dân chúng, coi quản chính trị, giáo hóa, trừ hại cho dân; Ở cấp phủ: quản trị các huyện thuộc phủ hạt, tuyên dương chấn hưng, phong hóa, quân bình phú thuế, sưu dịch, xét xử kiện tụng,…Ở cấp xã, năm
1828, vua Minh Mạng xuống chiếu quy định mỗi xã, thôn, phường chỉ đặt một lý trưởng, nếu đinh số trên 50 người thì đặt một phó lý, trên 150 người thì đặt 2 phó lý Giúp việc cho lý trưởng ngoài phó lý, còn có trương tuần, khán thủ giữ gìn trật tự trị an làng xã
Mỗi cấp chính quyền cũng được ấn định số lượng lãnh đạo Nhà Nguyễn đã căn cứ vào đặc điểm, tính chất công việc của từng địa phương để phân bổ quan lại một cách phù hợp Những chức danh không cần thiết, sản sinh mối
tệ sẽ lập tức bị cắt bỏ
Thứ hai, xây dựng bộ máy hành chính gọn nhẹ từ trung ương đến địa phương
Nhà Nguyễn thường xuyên tiến hành việc tinh giản đội ngũ quan lại Mục
đích nhằm giảm số tiền mà nhà nước phải trả lương cho quan lại hàng năm, giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy, đồng thời nạn tham nhũng, quan liêu Phương châm của nhà nước: “Việc chính trị hay dở cốt không phải nhiều người mà chủ yếu ở người hiền tài”
Việc cắt giảm thể hiện rõ ở:
+ Cơ quan xương sống của chính quyền trung ương - Lục Bộ, đã bị nhà nước mạnh dạn cắt bỏ cả lãnh đạo lẫn nhân viên của cả 6 bộ Như Bộ Lại
Trang 11bớt 1 lang trung, 1 tư vụ, 1 bát phẩm,… Nhìn chung các bộ đều cắt giảm cả lãnh đạo lẫn nhân viên Chính vì vậy, số lượng nhân viên ở các bộ không quá cồng kềnh, nhiều nhất là bộ Binh cũng chỉ 176 viên và ít nhất là Bộ Hộ
50 viên
+ Với địa phương, những nơi công việc không nhiều, tình hình không phức tạp, nhà nước đã giảm bớt số quan lại Và số nhân sự nhiều nhất là tỉnh Sơn Tây với 173 viên, còn ít nhất là tỉnh Hưng Yên với 17 viên
Qua đây đã cho thấy sự linh hoạt của nhà Nguyễn trong quản lý và phân bổ nguồn lực
TỔNG KẾT VÀ NHẬN XÉT
1 Khái niệm bộ máy nhà nước:
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ trung ương tới địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra đối với nhà nước
2 Đặc điểm của bộ máy nhà nước:
Có 3 đặc điểm chính:
- Là hệ thống các cơ quan từ trung ương tới địa phương
- Được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định
- Nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra đối với nhà nước
3 Tổ chức bộ máy nhà nước thời Nguyễn (1802- 1884)
Bộ máy nhà nước thời Nguyễn được đánh giá là bộ máy có quyền lực mạnh nhất so với các triều đại trước đó
Trang 12Hai đặc điểm chính của bộ máy nhà nước thời Nguyễn gồm:
- Quy định rõ cơ cấu, chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, chức danh trong bộ máy nhà nước, tránh chồng chéo công việc
- Xây dựng bộ máy hành chính gọn nhẹ từ trung ương đến địa phương
Bộ máy nhà nước thời Nguyễn (1802 -1884) tinh giản, nâng cao hiệu quả
hoạt động Và là bài học còn nguyên giá trị đối với tổ chức bộ máy chính quyền ở Việt Nam hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lý luận về nhà nước và pháp luật, học phần 1, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân,
khoa Luật (2018)
2 Kỷ yếu hội thảo khoa học, Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam - từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, tr.14, NXB Thế giới (2008).
3 Đại Nam thực lục, tập 3, Quốc sứ quán triều Nguyễn, tr.886, NXB Giáo dục (2007).
4. Lịch sử Bộ Nội vụ, chương X, L ch s B n i v (moha.gov.vn)ị ử ộ ộ ụ
5. Các thời kỳ phát triển ngành Lao động – Thương binh và Xã hội với chặng đường lịch sử, C ng TTĐT B Lao đ ng- Thổ ộ ộ ương binh và Xã h i (molisa.gov.vn)ộ
12