Rất nhiều vấn đề trong Số Học liên quan đến sự tồn tại vô hạn các số nguyên tố trong một dãy nguyên. Ví dụ như định lý Dirichlet, các số nguyên tố Fermat hay các số nguyên tố Mersene. Một vấn đề đơn giản hơn, đó là nói đến các ước nguyên tố của phần tử trong dãy. Bài viết này bàn về khái niệm ước nguyên tố của một dãy số nguyên, và tập các ước nguyên tố đó. Phạm vi bài viết là ở mức độ sơ cấp, mặc dù vấn đề nói đến trong bài vẫn được nghiên cứu ở lý thuyết Số cao cấp. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Ư ỚC NGUYÊN TỐ CỦA MỘT LỚP CÁC DÃY
SỐ NGUYÊN
Nguyễn Song Minh Hội toán học Hà Nội
Tóm tắt nội dung
Rất nhiều vấn đề trong Số Học liên quan đến sự tồn tại vô hạn các số nguyên tố trong một dãy nguyên Ví dụ như định lý Dirichlet, các số nguyên tố Fermat hay các số nguyên tố Mersene Một vấn đề đơn giản hơn, đó là nói đến các ước nguyên tố của phần tử trong dãy Bài viết này bàn về khái niệm ước nguyên tố của một dãy số nguyên, và tập các ước nguyên tố đó Phạm vi bài viết là ở mức độ sơ cấp, mặc dù vấn đề nói đến trong bài vẫn được nghiên cứu ở lý thuyết Số cao cấp.
Suốt bài viết này, tôi sử dụng các ký hiệu với ý nghĩa được quy ước thống nhất như sau:
• gcd(a, b): Ước số chung lớn nhất của a; b ∈ Z.
• m- a: Số nguyên a không chia hết cho số nguyên m (với m 6=0)
• bxc: Số nguyên lớn nhất không vượt quá số thực x (phần nguyên của x)
• ϕ(m): Phi hàm Euler
• vp(m): Hàm định giá p-adic
• P: Tập hợp chứa tất cả các số nguyên tố.
Dãy số nguyên về bản chất, là hàm số với tập nguồn làZ+và tập đích làZ Do giá
trị của các phần tử trong dãy là các số nguyên, vì thế chúng ta có được các tính chất
Trang 2Số Học của chúng Một vấn đề rất tự nhiên được đặt ra, đó là tìm hiểu các số nguyên
tố là ước của ít nhất một trong những phần tử trong dãy Bởi vậy, chúng ta quan tâm đến khái niệm sau
Định nghĩa 1 Cho dãy số nguyên{an}n∈Z+, số nguyên tố p được gọi là ước nguyên tố của dãy khi và chỉ khi tồn tại chỉ số m sao cho p | am.
Trong suốt bài viết này, với {an}n∈Z+ là một dãy số nguyên thì tập hợp các ước nguyên tố của dãy{an}n∈Z+ được ký hiệu là P(an) Còn với một tập con S củaZ thì
P(S)được hiểu là tập các số nguyên tố là ước của một phần tử nào đó trong S
Để minh họa cho định nghĩa nêu trên, ta xét một số ví dụ sau
Ví dụ 1 Với dãy các luỹ thừa của 2 là an = 2n−1, khi đó chỉ có 2 là ước nguyên tố của dãy Nói khác đi P 2n−1 = {2}
Ví dụ 2 Với dãy các luỹ thừa của 2 là an =2n−1 Khi đó mọi ước nguyên tố của dãy là các
số nguyên tố lẻ, nói khác đi P(2n −1) = P\ {2} Lý do là bởi vì 2 - (2n−1) ∀n ∈ Z+
và nếu p là số nguyên tố lẻ thì theo định lý Fermat bé ta có
p |2p−1 −1
Ví dụ 3 Xét dãy số nguyên sau đây
an =2n+3n+6n−1
Dễ kiểm tra rằng 6 | a2, do vậy 2, 3 đều là các phần tử của P(an), thêm nữa với p ∈
P\ {2, 3}thì theo định lý Fermat bé ta có
6ap−2 =3.2p−1 +2.3p−1 +6p−1−6≡ 3+2+1−6≡ 0 (mod p)
Điều đó cho thấy rằng
P(an) = P.
Bạn đọc hẳn nhận ra vấn đề với dãy số ở ví dụ này, chính là bài toán IMO 2005.
Ngoài khái niệm về ước nguyên tố của dãy nguyên và tập ước nguyên tố, để thuận tiện cho việc theo dõi bài viết Tôi nhắc lại một vài định lý và bổ đề Số Học hay sử dụng ở đây
Trang 3Định lý 1 (Euler) Với ϕ(m) là số các số nguyên dương không vượt quá m và nguyên tố cùng nhau với m, khi đó
aϕm ≡1 (mod m)
Từ định lý Euler, ta có một hệ quả đáng chú ý sau đây
Hệ quả 1 Cho k số nguyên khác 0 là a1, a2, , akvà một số nguyên dương m >1, khi đó tồn tại N đủ lớn để
aiN+nϕ(m) ≡ aiN (mod m) ∀i = 1, k, n∈ Z+
Chứng minh. Giả sử ta có phân tích ra thừa số nguyên tố của m là
m =
t
∏
j = 1
pkjj, pj ∈ P, p1 < p2 < < pt, kj ∈ Z+
Giả sử N =maxkj : j =1, t , khi đó
1 Nếu pj - ai thì từ pkjj | m, vì phi hàm Euler có tính chất nhân tính nên ϕpkjj |
ϕ(m)sử dụng định lý Euler ta có
aiϕ(m) ≡1 (mod pkjj)
Từ đó mà có được
aNi +nϕ(m) ≡ aiN (mod pkjj)
2 Nếu pj |ai thì do N ≥kj nên
aiN+nϕ(m) ≡ aNi ≡0 (mod pkjj)
Từ pkjj | aiN+nϕ(m)−aiN ∀j = 1, t để có m |aNi +nϕ(m)−aNi ∀i = 1, k
Với số nguyên tố p bất kỳ, ta có ϕ(p) = p−1 Vì vậy, trong trường hợp m = pthì định lý Euler trở thành định lý sau đây
Định lý 2(Fermat bé) Với p là số nguyên tố và p -a, khi đó
ap−1 ≡1 (mod p)
Trang 4Định lý 3 (Định lý Trung Hoa về số dư) Với m1, m2, , mn là các số nguyên dương đôi một nguyên tố cùng nhau còn r1, r2, , rn là các số nguyên bất kỳ, khi đó tồn tại duy nhất r ∈ {0, 1, , m1m2 mk−1}thỏa mãn hệ đồng dư sau
r ≡rk mod mk ∀k =1, n
Những kiến thức cơ bản nêu trên là cần thiết để theo dõi các vấn đề ở mục tiếp theo, ngoài ra bạn đọc cần có những trang bị về định giá p-adic, bổ đề nâng bậc hay những kiến thức về cấp, căn theo modulo và thặng dư bậc hai để xử lý các bài tập đề nghị
Bài toán 1(Định lý Schur) Cho đa thức hệ số nguyên f(x) có bậc dương, khi đó tập các ước nguyên tố của dãy an = f(n)là vô hạn.
Lời giải. Giả sử ngược lại là tập tất cả các ước nguyên tố của dãy an = f(n)chỉ là tập hữu hạn sau đây
P(fn) = {p1, p2, , pt}
Do f ∈ Z[x]nên f(x) = a0+a1x+ .+anxn, với ai ∈ Z∀i =1, n, ta xét hai trường hợp sau
1 Nếu a0 = 0, khi đó p | f(p) ∀p ∈ P cho nên dãy an nhận mọi số nguyên tố làm ước nguyên tố Điều này, mâu thuẫn với giả sử ở trên
2 Nếu a0 6= 0 với mỗi số nguyên dương k đặt kp1p2 pt = mk, ta có
f (a0mk) = a0+a1a0mk+ .+anan0mnk
= a0.1+a1mk+a2a0m2k+ .+anan0−1mnk Đặt g(x) = 1+a0a1x+ .+an0−1anxn vì deg(g) = deg(f) = n ∈ Z+ cho nên phương trình |g(x)| = 1 chỉ có hữu hạn nghiệm, tức là tồn tại k ∈ Z+ sao cho
|g(mk)| > 1 Để ý rằng g(x) ∈ Z[x]nên giá trị g(mk)là một số nguyên và vì thế
nó có ước nguyên tố p nào đó Rõ ràng g(mk) ≡ 1 (mod mk), cho nên
gcd(g(mk), mk) = 1
Điều này cũng dẫn đến gcd(mk, p) = 1 cho nên p /∈ P(fn), dẫn đến điều mâu thuẫn
Trang 5Dựa vào định lý Schur, chúng ta có thể giải quyết bài toán sau
Bài toán 2. Cho các số nguyên dương a, b với a > b, tìm tất cả các đa thức hệ số nguyên P(x)thỏa mãn
P(n) | (an −bn) ∀n ∈ Z+
Lời giải. Ta xét hai trường hợp
1 Nếu deg(P) > 0, khi đó theo định lý Schur sẽ tồn tại vô số ước nguyên tố p của dãy P(n) Giả sử p là một ước nguyên tố bất kỳ như thế (với p > a) và p | P(m)
với m ∈ Z+, ta có
p| (am−bm) Mặt khác do P(x) ∈ Z[x]nên
P(m+p) ≡ P(m) ≡ 0 (mod p)
Từ đây ta lại có
p| am+p−bm+p
Vì p - a, p- bvà am ≡ bm (mod p)nên kết hợp định lý Fermat bé ta có
am+p −bm+p ≡ am(ap −bp) ≡ am(a−b) (mod p) Điều này kéo theo p | (a−b), nhưng do a−blà một số nguyên dương cố định cho nên nó không thể có vô số ước nguyên tố Vậy nên trường hợp này không thể xảy ra
2 Nếu deg(P) ≤ 0, tức P(x) là đa thức hằng thế thì P(x) = d với d = P(1) và
là ước của a−b Lúc đó do (a−b) luôn là ước của an−bn với mọi số nguyên dương n do đó trường hợp này thỏa
Vậy, kết quả của bài toán là P(x) = d ∀x ∈ R với d là một ước số bất kỳ của a−b
Kết quả của Schur ứng với lớp dãy số đặc biệt, đó là các dãy sinh ra từ các đa thức
hệ số nguyên Ở bài toán tiếp theo, chúng ta sẽ xử lý một bài toán về mục đích thì tương tự nhưng dãy số được cho phức tạp hơn chút xíu
Trang 6Bài toán 3 Chứng minh rằng P(an)là vô hạn, với
an =blog(2017n +1)c ∀n∈ Z+
Lời giải. Giả sử P(an)chỉ là hữu hạn Ta lấy ra 5 số nguyên tố pi ∈/ P(an), theo CRT
sẽ tồn tại 5 số nguyên dương liên tiếp N+1, N+2, , N+5 sao cho
pk | (N+k) ∀k =1, 5
Giờ gọi m là chỉ số lớn nhất sao cho am ≤ N+1, khi đó am+1 > N+1 và vì
1< am+1−am =jlog2017m+1+1k− blog(2017m+1)c <5
Cho nên ta có được
{am; am+1} ∩ {N+1, N+2, , N+5} 6= ∅
Từ đây thấy sẽ tồn tại số nguyên tố p /∈ P(an)thoả p | amam+1, và điều đó mâu thuẫn với giả sử ban đầu của chúng ta
Nhận xét 1. Bài toán trên, chỉ là hệ quả của bài toán sau đây (ứng với d = 5) Và lời giải là hoàn toàn tương tự
Bài toán 4 Cho d là một số nguyên dương lớn hơn 1, dãy số nguyên{an}n∈Z+ tăng ngặt
và thỏa mãn
an+1−an < d ∀n ∈ Z+
Chứng minh rằng tập các ước nguyên tố của dãy là vô hạn.
Bài toán vừa nêu này tôi không đưa ra lời giải chi tiết, vì nó còn một phiên bản nâng cấp mạnh hơn nhiều Ở bài toán tiếp theo, thì cách xử lý như hai bài trước tỏ ra thiếu hiệu lực
Bài toán 5 Cho dãy số nguyên{an}n∈Z+ tăng ngặt và giả sử tồn tại một đa thức hệ số thực
P(x)thỏa mãn
an+1−an < P(n) ∀n∈ Z+
Chứng minh rằng tập các ước nguyên tố của dãy{an}n∈Z+ là vô hạn.
Trang 7Lời giải. Đặt 1+deg(P) = k, khi đó tồn tại N0 đủ lớn sao cho
an+1 < an+P(n) < an+nk ∀n ∈ Z+, n > N0 Giả sử P(an)là tập hữu hạn, cụ thể
P(an) = {p1, p2, , pt} Với mỗi số nguyên dương n thỏa n> M = max N0, aN0 , ta xét hai tập hợp sau
Pn = npk1
1 pk2
2 pkt
t : ki ∈ N, pk1
1 pk2
2 pkt
t < no, An = {ai : ai <n}.
Lấy e ∈ Pn, thế thì e= pk1
1 pk2
2 pkt
t với
2ki ≤ pki
i ≤e <n
Như vậy 0 ≤ki < log2n, nên theo quy tắc nhân ta có đánh giá sau
|Pn| < (1+log2n)t ∀n> M
Mặt khác ta lại có n > M thì n > N0 nên với am =max An ta có
aN0 ≤ am < am−1+mk < < aN0+ ∑
N0< j < m
jk < aN0+mk+1
Từ đó nếu chọn m0 = k +√1
n−aN0 thì am0 ∈ An, vì dãy tăng ngặt thế nên
|An| ≥ m0 > k +pn1 −aN
0 −1 ∀n> M
Với giả thiết phản chứng ở trên thì An ⊂ Pn ∀n > M, tức là có
k +√1
n−aN
0−1 (1+log2n)t <
|An|
|Pn| <1 ∀n > M
Lấy giới hạn ở vô cùng, cho ta điều vô lý Vậy,P(an)phải là tập vô hạn
Bây giờ là một bài toán xét kỹ thì cùng bản chất, mặc dù đọc qua yêu cầu thì cảm thấy khác biệt với các bài toán trên
Bài toán 6(China TST, 2006) Cho các số nguyên dương m và n, chứng minh rằng luôn tồn
tại số nguyên dương k sao cho 2k−m có ít nhất n ước nguyên tố phân biệt.
Trang 8Lời giải. Giả sử với mọi số nguyên dương k số ước nguyên tố của 2k−m đều nhỏ hơn n, ta giả sử K là số thỏa 2K−mcó nhiều ước nguyên tố nhất Và phân tích ra thừa
số nguyên tố của 2K−mlà
2K−m = pk1
1 pk2
2 pkt
t Đặt M = p1+k1
1 p1+k2
2 p1+kt
t , thế thì với k đủ lớn ta có được
2K+kϕ(M)−m ≡2K−m (mod M) Tức là 2K+kϕ(M)−mchia hết cho 2K−m, nên 2K+kϕ(M)−mnhận mọi ước nguyên tố của 2K −m làm ước nguyên tố Nhưng do vai trò của K nên 2K+kϕ(M)−m cũng chỉ được phép có đúng bấy nhiêu ước nguyên tố, đồng thời do vpi(M) = vpi 2K−m+
1∀i = 1, t nên
vpi2K+kϕ(M)−m =vpi2K−m ∀i =1, t
Từ đó dẫn đến điều vô lý là
2K+kϕ(M)−m = 2K−m ∀k∈ Z+
Bằng kỹ thuật tương tự, ta dễ dàng có được lời giải cho bài toán sau
Bài toán 7 Cho a, b, c là các số nguyên thỏa ac 6= 0 và b >1 Xét dãy số fn = abn+c ∀n ∈
Z+ Chứng minh rằngP(fn)là tập vô hạn.
Tôi không trình bày lời giải chi tiết cho bài toán này, thay cho việc đó tôi nêu ra và
xử lý kết quả khá mạnh sau của Polya
Bài toán 8 (Polya) Giả sử a1, a2, , am là các số nguyên dương phân biệt, 0 < a1 <
a2 < < am và P1(x), P2(x), , Pm(x)là các đa thức hệ số nguyên khác đa thức 0 Khi
đó dãy số nguyên cho bởi công thức dưới đây, sẽ có vô hạn ước nguyên tố
fn = an1P1(n) +an2P2(n) + .+anmPm(n) ∀n ∈ Z+
Lời giải. Không mất tính tổng quát, ta giả sử hệ số bậc cao nhất của Pm(x)là dương Giả sử rằng P(fn)là tập hữu hạn, cụ thể
P(fn) = {p1, p2, , pt}
Trang 9Rõ ràng là lim fn = +∞, cho nên tồn tại N0 đủ lớn sao cho fN0 > 1 và đồng thời với
số nguyên dương m cho trước ta sẽ có
aN0 +nϕ( m )
i ≡ aN0
i (mod m) Giả sử ta có phân tích ra thừa số nguyên tố của fN0 là
fN0 = pk1
1 pk2
2 pkt
t ; ki ∈ N.
Đặt M = p1+k1
1 p1+k2
2 p1+kt
t và M0 = p2+k1
1 p2+k2
2 p2+kt
t , thế thì
ϕ M0 = M ∏
1 ≤ i ≤ t
(pi−1) = p1p2 ptϕ(M)
Điều đó kết hợp với Pi(x) ∈Z[x]để thấy với mọi số nguyên dương n ta có
fN0+nϕ(M0 ) = ∑
1 ≤ j ≤ m
aN0 +nϕ( M0)
j Pj N0+nϕ M0
1 ≤ j ≤ m
aN0
j Pj(N0) ≡ fN0 (mod M)
Do vpi(M) = 1+vpi fN0 ∀i =1, t, nên từ đó có được
vpifN0+nϕ(M0 )
=vpi fN0 ∀i =1, t, ∀n ∈ Z+ Điều đó cho thấy rằng
lim fN
0 +nϕ( M 0 ) = fN0 Kết quả vừa rút ra, trái với nhận xét từ ban đầu của chúng ta là lim fn = +∞
Vậy, P(fn)phải là tập vô hạn
Ta quan tâm đến một vấn đề khác liên quan đến kết quả của Polya nêu trên, đó là với dãy fn xác định như thế thì liệu số ước nguyên tố của một phần tử của dãy có bị giới hạn hay không? Cụ thể là nếu ta cố định một số nguyên dương k, thì có tồn tại hay không một chỉ số m để fm có ít nhất k ước nguyên tố phân biệt
Bài toán 9 Giả sử a1, a2, , am là các sô nguyên dương phân biệt, và
P1(x), P2(x), , Pm(x) là các đa thức hệ số nguyên khác đa thức 0 Xét dãy số nguyên cho bởi công thức
fn = an1P1(n) +an2P2(n) + .+anmPm(n) ∀n ∈ Z+
Chứng minh rằng, với k là số nguyên dương cho trước, luôn tồn tại m∈ Z+sao cho fm có ít nhất k ước nguyên tố phân biệt.
Trang 10Lời giải. Nếu không tồn tại m ∈ Z+ sao cho fm có ít nhất k ước nguyên tố phân biệt, thì mọi phần tử của dãy fn đều có hữu hạn ước nguyên tố Ta giả sử K là số thỏa fK
có nhiều ước nguyên tố nhất Và phân tích ra thừa số nguyên tố của fK là
fK = pk1
1 pk2
2 pkt
t Lại đặt M = p1+k1
1 p1+k2
2 p1+kt
t và M0 = p2+k1
1 p2+k2
2 p2+kt
t , để với n đủ lớn ta có
fK+nϕ(M0 ) ≡ fK (mod M)
Từ đây có fK | fK+nϕ(M0 ) và bởi vậy fK+nϕ(M0 ) cũng có t ước nguyên tố là các ước nguyên tố của fK Nhưng do vai trò của K nên fK+nϕ(M0 ) cũng chỉ có bấy nhiêu ước nguyên tố Đồng thời do vpi(M) = 1+vpi (fK)và fK+nϕ(M0 ) ≡ fK (mod M)nên với mọi n đủ lớn ta sẽ có
vpifK+nϕ(M0 )
=vpi(fK) ∀i =1, t
Điều này kéo theo dãy con nfK+nϕ(M0 )
o
n ∈Z+ là dãy dừng, mâu thuẫn với việc lim fn = +∞
Bây giờ, ta xét đến một bài toán olympic ứng dụng trực tiếp kết quả của Polya ở trên
Bài toán 10(China MO, 2011) Cho m, n là các số nguyên dương Chứng minh rằng tồn
tại vô hạn các cặp số nguyên dương(a; b)sao cho(a+b) | ama+bnbvà gcd(a, b) = 1.
Lời giải. Nếu m= n =1 thì bài toán cực kỳ là tầm thường, bởi vì nếu điều đó xảy ra
ta có thể chọn b = 1 còn a tùy ý Vì thế, ta có thể giả sử n > 1 và xét dãy số xác định như sau
ak = (mn)k−n ∀k∈ Z+ Theo bài toán trên thìP(ak)là tập vô hạn, như vậy ta có thể lấy ra vô số các số nguyên
tố p từP(ak)thỏa mãn p > m+nđồng thời khi đó tồn tại kp sao cho p| akp, tức là
(mn)kp ≡n (mod p) Bởi vì 0 < n−1 < pnên từ định lý Fermat bé (p−1) - kp, ta chọn a là số dư của kp khi chia p−1 còn b = p−a, để có a, b ∈ Z+ và
gcd(a, b) = gcd(a, a+b) = gcd(a, p) = 1
Trang 11Lại có p- mnnên theo định lý Fermat bé, ta có
n ≡ (mn)kp ≡ (mn)a (mod p) Thêm một lần nữa sử dụng định lý Fermat bé, để có
naama+bnb= a(mn)a+ (p−a)np ≡ an+ (p−a)n ≡0 (mod p)
Bây giờ để ý rằng p =a+bvà p -nb, ta có điều cần chứng minh
Nhận xét 2. Nếu bỏ đi yêu cầu gcd(a, b) = 1 thì bài toán sẽ trở nên tầm thường, bởi
vì khi đó với số nguyên tố p bất kỳ ta chỉ cần chọn
(a, b) = p−1, (p−1)2
Từ bài toán của Polya nêu trên, ta thấy rằng với cặp số nguyên dương phân biệt
a, b bất kỳ thì dãy số fn = an +bn sẽ có vô hạn ước nguyên tố Có một vấn đề đặt ra
ở đây là nếu ta lấy ra một dãy con nào đó của fn, thì dãy con đó còn có vô hạn ước nguyên tố hay không? Ta có bài toán sau đây
Bài toán 11 Cho a và b là các số nguyên dương nguyên tố cùng nhau, với a+b > 3 Khi
đó, nếu p là một số nguyên tố lẻ thì tồn tại ước nguyên tố lẻ khác p của ap +bp, và đồng thời ước nguyên tố đó không là ước của a+b.
Lời giải. Ta có Φp = ap+bp
a+b là một số nguyên dương lớn hơn 1, bởi vậy Φp luôn có ước nguyên tố q nào đó Mặt khác do p lẻ, nên ta có
v2(ap+bp) = v2(a+b)
Từ đó sẽ cóΦp là số lẻ, kéo theo q lẻ
1 NếuΦp chỉ có ước nguyên tố là p, thế thì từ(a+b) | (ap+bp)và
(ap +bp) ≡ (a+b) (mod p),
ta có a+bcũng có và chỉ có ước nguyên tố lẻ là p, đồng thời
vp(ap+bp) = vp(a+b) +1
Trang 12Tức là ta có biểu diễn sau
ap+bp = 2kpl+1 = p(a+b) Tuy nhiên, ta lại có đánh giá sau
ap +bp ≥ a3+b3 = (a+b)a2−ab+b2> (a+b)2 Nhưng p | (a+b)do đó từ a+b ≥ pmà có điều mâu thuẫn là
ap +bp > p(a+b)
2 NếuΦp có ước nguyên tố q 6= p, thế thì hễ q| (a+b)ta có điều vô lý là
vq Φp =vq(ap+bp) −vq(a+b) = 0
Như vậy,Φp luôn phải có một ước nguyên tố q lẻ và q 6= p, để ý rằngΦp | (ap+bp)
mà ta có điều cần chứng minh
Từ lời giải bài toán trên, ta thấy từ dãy fn = an+bn có thể trích ra một dãy con fpn
có vô hạn ước nguyên tố Cũng cần nói thêm rằng, bài toán trên là một phiên bản của định lý Zsigmondy nổi tiếng Nhưng chuyện đó bàn sau, giờ ta đến với một bài toán khác như sau
Bài toán 12(Romania TST, 2014) Cho m và k là các số nguyên dương cho trước với m lẻ,
chứng minh rằng luôn tồn tại n sao cho mn+nm có ít nhất k ước nguyên tố phân biệt.
Lời giải. Lấy ra một số nguyên tố p lớn hơn m+2 bất kỳ và xét n =mp2.3k, ta có
nm +mn = mm
mm
p2.3k− 1
+p3k.2m
=mm
m
m p2.3
k
− 1 3k
! 3k
+p3k.2m
Giờ để ý rằng do p> 3 nên 3 | p2 −1 và vì thế
v3p2.3k −1= v3(p2 −1) +k > k
Tức là p
2.3k −1
3k ∈ Z+, nên nếu đặt m
m p2.3
k
− 1 3k
!
= a, p2m = b thì a, b ∈ Z+ thỏa gcd(a, b) = 1 tất nhiên a+b >3, đồng thời
nm+mn =mma3k +b3k