Bài báo này tập trung phân tích mối liên hệ giữa cảnh quan không gian trung tâm đô thị cũ với không gian du lịch ven biển trong bối cảnh phát triển của đô thị Đà Nẵng và Quy Nhơn, cụ thể là phân tích sự chuyển đổi hình thái không gian kiến trúc cảnh quan và hoạt động đô thị từ trung tâm đô thị cũ ra khu vực du lịch ven biển nhằm chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gắn kết và tương tác giữa cảnh quan không gian trung tâm đô thị cũ với không gian du lịch ven biển. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Tổ chức cảnh quan gắn kết giữa không gian trung tâm đô thị cũ với không gian du lịch ven biển trong bối cảnh phát triển các đô thị du lịch ven biển miền Trung, trường hợp đô thị Đà Nẵng
và đô thị Quy Nhơn
ThS.KTS Cao Giang Nam
Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
Tóm tắt: Bài bào này tập trung phân
tích mối liên hệ giữa cảnh quan không
gian trung tâm đô thị cũ với không gian
du lịch ven biển trong bối cảnh phát
triển của đô thị Đà Nẵng và Quy Nhơn,
cụ thể là phân tích sự chuyển đổi hình
thái không gian kiến trúc cảnh quan và
hoạt động đô thị từ trung tâm đô thị cũ
ra khu vực du lịch ven biển nhằm chỉ ra
những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
gắn kết và tương tác giữa cảnh quan
không gian trung tâm đô thị cũ với
không gian du l ịch ven biển Lập luận là
các không gian trung tâm đô thị cũ với
các mô hình cảnh quan đô thị truyền
thống, được xây dựng dựa trên quá
trình lịch sử phát triển lâu dài đang đối
mặt với những thách thức gắn kết hài
hoà trước sự phát triển mới nhanh
chóng của các khu vực du lịch ven biển Đồng thời, phân tích chỉ ra rằng sự chuyển tiếp cảnh quan từ không gian trung tâm đô thị cũ sang không gian du lịch ven biển là quá trình thích ứng với các yếu tố mới, nhưng vẫn cần các không gian gắn kết giữa hai không gian
đô thị này Bài báo nêu ra vấn đề cốt lõi cần giải quyết là sự gắn kết và tương tác giữa cảnh quan truyền thống của khu vực trung tâm và cảnh quan mới hình thành của khu vực du lịch ven biển
Từ khóa: Gắn kết, đô thị du lịch biển,
hình thái không gian đô thị, kiến trúc
c ảnh quan, hoạt động đô thị, cảnh quan trung tâm đô thị, cảnh quan du lịch ven
bi ển
1 Th ực trạng đô thị hoá các thành phố ven biển miền Trung và quy hoạch cảnh quan đô thị
du l ịch ven biển hiện nay
Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển trải dài từ Móng Cái đến Hà Tiên dài 3.260km (đứng
thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới) Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100km2 đất liền có 1km bờ
biển) Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển Với chiến lược phát triển kinh tế biển của chính phủ mở ra
những cơ hội và thách thức lớn cho phát triển các đô thị du lịch ven biển Việt Nam
Trang 2Vùng duyên hải Trung Bộ với bờ biển dài có tiềm năng phát triển du lịch biển Một điểm chung của các đô thị ven biển miền Trung là thành phố nằm bên bờ biển, có điều kiện để phát triển du lịch biển Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, nhu cầu
du lịch của du khách trong nước và quốc tế đến các địa phương này tăng cao đột biến dẫn đến
sự bùng nổ về du lịch biển Hệ quả là đô thị hoá đã diễn ra mạnh mẽ tại các khu vực ven biển
của thành phố, hình thành nên các khu vực mới có cảnh quan kiến trúc và chức năng dịch vụ
du lịch mật độ cao và khá tách biệt với phần còn lại của đô thị, đồng thời, hình ảnh đô thị biển
với diện mạo kiến trúc của nó đang dần dần tạo dựng đặc trưng của mỗi đô thị, mỗi vùng đất,
mỗi dự án, thu hút sự chiêm ngưỡng của du khách khi nhìn từ biển vào bờ và từ thành phố hướng ra biển
Tác động của đô thị hoá không gian du lịch ven biển quá nhanh thể hiện rõ nét qua các vấn
đề phát triển quỹ đất du lịch ven biển, các cơn sốt bất động sản du lịch ven biển, cơ hội để tạo
lập hình ảnh đô thị mang bản sắc riêng của từng khu vực, sự tương tác giữa khu vực phát triển
mới và khu vực trung tâm đô thị cũ, giữa cư dân bản địa và du khách, sự chiếm lĩnh thô bạo của
cảnh quan du lịch đối với không gian và cảnh quan thiên nhiên, lấn át di sản kiến trúc truyền
thống và thiếu gắn kết với không gian đô thị cũ
C ửa Lò
(Ngh ệ
An)
Đồng Hới
(Qu ảng
Bình)
Trang 3Đà Nẵng
Quy
Nhơn
(Bình
ĐỊnh)
Tuy Hoà
(Phú Yên)
Nha
Trang
(Khánh
Hoà)
Hình 1: Quá trình đô thị hoá một số đô thị ven biển miền Trung
Trang 45 Đà Nẵng và y Nhơn: Hai trường hợp điển hình phát triển cảnh quan không gian du lịch ven bi ển
2.1 Đà Nẵng
a) S ự biến đổi cảnh quan của không gian du lịch ven biển
Trong những năm gần đây, các đô thị ven biển Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đã tận dụng những thế mạnh về vị trí địa lý, cảnh quan tự nhiên để phát triển kinh tế
trong đó du lịch và kinh tế biển là mũi nhọn Rất nhiều các dự án khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao
cấp, khu đô thị mới được đầu tư xây dựng ồ ạt dọc bãi biển nhằm khác thác triệt để tiềm năng
mà thiên nhiên ban tặng Bên cạnh những mặt đạt được về việc góp phần phát triển kinh tế, đô
thị cho địa phương, các dự án xây dựng không được quy hoạch tốt cũng đã gây ra nhiều hệ luỵ
về mặt đô thị, môi trường, xã hội
Việc quy hoạch xây dựng theo kiểu “chia lô mặt biển” dọc theo bờ biển phía Đông Nam
của thành phố để xây dựng các khu resort cao cấp đã tạo ra nhiều vấn đề tranh cãi Các dự án này thường được xây dựng tách biệt với ranh giới, tường rào, thậm chí có bãi biển, mặt tiền
biển riêng đã gây cản trở cho khả năng tiếp cận không gian mặt biển của cộng đồng cư dân bản địa Điều đáng kể hơn là việc chiếm dụng các khu vực cảnh quan đẹp và nổi tiếng lâu đời như bãi biển Non Nước, bãi biển Mỹ Khê trước đây là không gian sử dụng công cộng của người dân
bản địa Bản thân các dự án này khi phát triển đã che chắn, cản tầm nhìn từ bờ ra biển, làm
giảm sự gắn kết giữa đô thị và biển
Việc di dời các làng chài ven biển và bến thuyền dân sinh để nhường chỗ cho khai thác du
lịch mà không có giải pháp thay thế phù hợp cũng làm mất đi không gian sinh kế truyền thống và gây ra thiệt thòi về kinh tế - xã hội cho ngư dân Những di sản đặc trưng của các làng chài ven
biển không được duy trì, bảo tồn và bảo vệ
Việc quy hoạch các tuyến đường ven biển Nguyễn Tất Thành, Võ Nguyên Giáp có chiều
rộng mặt cắt không hợp l{, lưu lượng giao thông cơ giới lớn tạo thành giải phân cách, tạo ra sự ngăn cách đáng kể giữa đô thị và khu vực dải đất ven biển Khoảng cách từ đường đến mặt biển quá gần không tạo ra được các không gian chuyển tiếp và không gian mở hướng biển
Cảnh quan ven biển được quy hoạch, thiết kế và xây dựng khá nghèo nàn chủ yếu là các bãi tắm và và các công viên thiếu điểm nhấn nên chưa tạo được bản sắc biển cho thành phố Các tuyến đường dọc sát biển được quy hoạch thành các khu đất xây dựng khách sạn, nhà hàng,
dịch vụ với kiến trúc to lớn, hiện đại, sang trọng, mà thiếu cảnh quan sinh hoạt đô thị thường
nhật đã tạo thành một bức tường vô hình ngăn cách không gian đô thị bên trong với lớp vỏ bọc
du lịch của không gian ven biển
Trang 5(a) Đường Võ Nguyên Giáp (b) Đường Phạm Văn Đồng (c) Đường Võ văn Kiệt
Hình 2: Kiến trúc trên các trục đường chính bao quanh ô phố du lịch ven biển
(a) Dãy nhà hàng chiếm mặt
tiền biển
(b) Khu Resort chiếm mặt tiền
biển (c) Cảnh quan đường phố nội ô
Hình 3:Sự tương phản cảnh quan giữa bên ngoài với bên trong nội ô và sự lấn chiếm mặt tiền
không gian các bãi tắm công cộng dành cho cư dân bản địa và du khách
b) Hình thái c ảnh quan không gian du lịch ven biển
Cảnh quan không gian du lịch ven biển hiện nay đang phát triển theo kiểu bám biển nhiều hơn là hướng biển Kiến trúc đô thị chủ yếu tập trung dọc theo tuyến đường ven biển Võ Nguyên Giáp Các trục cảnh quan hướng biển ít được chú trọng phát triển chỉ tập trung trên 4
trục giao thông lớn là Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Thoại, và Hồ Xuân Hương với khoảng cách giữa 2 trục đường lớn từ 1000m đến 2000m Khoảng giữa các trục chính này chưa được quy hoạch, thiết kế đô thị đồng bộ, xứng tầm và chưa tạo ra sức hấp dẫn đô thị cho người dân và du khách
Có sự tương phản mạnh mẽ về cảnh quan kiến trúc trong khu vực, giữa ranh giới (Edge) và
nội ô phía trong các khu vực (District) Các công trình kiến trúc cao tầng, hiện đại, sang trọng có
diện tích ô đất lớn tập trung các trục đường chính bao quanh khu vực, trong khi khu vực bên trong là kiến trúc kiểu nhà ống thấp tầng có mặt tiền 5m Việc quy hoạch các trục đường chính bao quanh các khu phố có mặt cắt đường lớn (20m - 50m), trong khi các tuyến phố trong nội ô
lại quá nhỏ (5.5m, 7.5m, 10.5m) với kiểu quy hoạch chia lô nhà ở mặt tiền rộng 5m là nguyên nhân của tình trạng này
Trang 6Các công trình kiến trúc dàn trải dọc theo mặt biển và các trục đường chính hướng biển, trong khi không gian đô thị này thiếu các yếu tố cột mốc (Landmark) hay nút (Node) để làm điểm nhấn và định hướng không gian, cảnh quan đô thị Một số không gian công cộng được xây
dựng dọc trên tuyến ven biển Võ Nguyên Giáp như quảng trường, công viên Tuy nhiên các không gian này chiểm tỷ trọng ít, thiếu bản sắc và chưa đủ sức hấp dẫn đô thị
Không gian du lịch ven biển Đà Nẵng có một đặc điểm là khu vực đô thị có hai mặt tiền gắn
liền với cảnh quan sông biển: Phía Đông giáp biển, phía tây tiếp xúc với sông Hàn Trước đây, khu vực này có hình thái địa hình thay đổi kiểu gò đồi cao ở giữa và thấp dần về hai phía sông,
biển Đây là điều kiện địa hình l{ tưởng để khai thác giá trị cảnh quan sông biển mà thiên nhiên ban tặng, đồng thời kiến tạo cảnh quan đặc trưng, có bản sắc cho đô thị Tuy nhiên việc quy
hoạch và phát triển đô thị đã không khai thác được tính chất cảnh quan này
Hoạt động du lịch dịch vụ diễn ra khá nhộn nhịp tại các tuyến phố chính bao quanh khu
phố Trong khi khu vực nội ô lại là một trạng thái đối lập bình yên và thiếu sự khám phá trải nghiệm dành cho du khách Những khu phố du lịch ven biển nổi tiếng Pattaya (Thailand), Malaca (Malaysia), Bali (Indonesia), đều có những khu phố đi bộ, những khu chợ đêm nổi tiếng làm cho những khu phố du lịch ven biển mới được xây dựng sau này trở nên sống động, hấp dẫn
Hình 4: Ý tưởng quy hoạch cấu trúc không gian và cảnh quan Tp Đà Nẵng
(Ngu ồn: Đoàn nghiên cứu DaCRISS)
Trang 7Hình 5: Cấu trúc cảnh quan đô thị Đà Nẵng từ không gian trung tâm đến không gian du lịch ven
biển
2.2 Quy Nhơn
a) Cảnh quan tự nhiên thành phố Quy Nhơn và vùng lân cận
Thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận có các dạng địa hình: núi, gò đồi (cao độ 200-700m)
rải rác với những dải đất sườn đồi không lớn, xen kẽ, còn lại là đồng bằng thấp với đầm phá và
bờ biển dài, nhiều cồn cát tự nhiên Cảnh quan tự nhiên đặc trưng của Thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận gồm:
- Bờ biển đẹp, đa dạng trong sự kết hợp với cảnh quan nông nghiệp, đầm phà hoặc cảnh quan núi, rừng như trường hợp Khe gió, Nhơn L{ trên bán đảo Phương Mai, hay Bãi Dài, Ghềnh Ràng Tiên Sa, Quy Hòa ở trung tâm thành phố Quy Nhơn,…
- Đầm Thị Nại có giá trị đa dạng sinh học của vùng sinh thái ngập mặn Ngoài giá trị cảnh quan độc đáo, Đầm Thị Nại với hệ thống rừng ngập mặn kết hợp với hệ thống rừng trồng bao quanh giữ vai trò là lá phổi xanh, điều hòa khí hậu của khu vực
- Khu vực đồng bằng thấp, thuộc hạ lưu của 2 con sông Sông Côn và Sông Hà Thanh là vùng thường bị Ngập, lụt và lũ do nước từ thượng nguồn Tây Nguyên đổ về, kết hợp với đầm Thị Nại
tạo nên cảnh quan văn hóa nông nghiệp trải rộng và có đặc trưng
- Hệ thống núi, rừng bao quanh, tạo nên những điểm cảnh quan hấp dẫn, đặc biệt là dãy núi Phương Mai ở vị trí quan trọng, làm thành một điểm nhấn tự nhiên độc đáo của thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận
b) C ảnh quan đô thị (cảnh quan nhân tạo) thành phố Quy Nhơn
Cấu trúc không gian đô thị Quy Nhơn và vùng phụ cận bao gồm các khu vực:
Trang 8- Trung tâm thành phố Quy Nhơn là khu vực trung tâm đô thị cũ với chức năng động lực chính là thương mại, dịch vụ và du lịch biển Khu vực này có mật độ xây dựng và dân cư trập trung cao Điểm đặc trưng của Quy Nhơn là khu du lịch ven biển gắn liền với trung tâm đô thị
hiện hữu tạo nên một quần thể cảnh quan không gian đô thị nén trong phạm vi giới hạn không gian đô thị nhỏ hẹp
- Khu vực Diêu Trì, Tuy Phước với chức năng động lực mới là đào tạo, nghiên cứu và sản
xuất dạng khu công nghệ cao Cảnh quan không gian đô thị phát triển theo mô hình đô thị hiện đại, xây dựng tập trung, mật độ cao trong tương lai Khu vực đô thị này hình thành sẽ tạo điều
kiện để tuyến đô thị dọc quốc lộ 1A phát triển thuận lợi, đặc biệt là làm giảm áp lực xây dựng công trình dân dụng lên trung tâm thành phố Quy Nhơn và công trình công nghiệp tại Khu kinh
tế Nhơn Hội trên bán đảo Phương Mai
- Khu kinh tế Nhơn Hội nên phát triển với chức năng động lực chính là cảng và công nghiệp
nhẹ Phát triển quy mô lớn công nghiệp, nhất là lọc hóa dầu,… mâu thuẫn với các chức năng du
lịch đã được quy hoạch và là nguy cơ làm mất giá trị của tài nguyên cảnh quan tự nhiên độc đáo
của Bán đảo, mà rất ít nơi có được Đó là sự hội tụ các giá trị cảnh quan biển, núi, rừng, cồn cát, đầm phà và đồng bằng
Hình 6: Đô thị Quy Nhơn có tính chất nén, cảnh quan đan xen gắn kết giữa 2 không gian
Trang 9Hình 7: Quy hoạch định hướng phát triển không gian thành phố Quy Nhơn đến năm 2030, tầm
nhìn 2050
Trang 10Hình 8: Phối cảnh tổng thể cảnh quan không gian thành phố Quy Nhơn
c) Hình thái c ảnh quan không gian du lịch ven biển
Cảnh quan tự nhiên của Quy Nhơn phong phú, có biển, núi, đồi, rừng phòng hộ, đầm phá cùng hệ thống sông và đồng bằng trải rộng ở giữa, trong đó Đầm Thị Nại như một thành phần liên kết hệ thống cảnh quan tự nhiên, tạo nên nét đặc trưng và vẻ độc đáo của cảnh quan tự nhiên của thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận Đây là tài nguyên qu{ giá, là bộ khung cảnh quan tự nhiên, để cấu trúc không gian tổng thể đô thị dựa vào mà phát triển để làm nên hình ảnh không gian đô thị đặc trưng và thương hiệu riêng có của thành phố Quy Nhơn
Ở khía cạnh khác, chính sự chia cắt phức tạp của địa hình để lại không nhiều diện tích thuận
lợi cho xây dựng, là những gì bất lợi Nhưng chính điều này lại gợi ý tích cực cho việc lựa chọn quy
mô và cấu trúc không gian đô thị Quy Nhơn theo hướng tỷ lệ nhỏ và phân tán là hợp lý
Ngoài cảnh quan tự nhiên, thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận còn có tiềm năng về con người và cảnh quan văn hóa với di sản của văn hóa Chăm Pa và văn hóa Việt thời phong kiến Đồng thời, khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của hiện tượng biến đổi khí hậu đang làm cho thiên tại, bão lũ, trong những năm gần đây diễn ra ngày càng khốc liệt hơn Đây là những vấn đề
cần được đặc biệt quan tâm trong quá trình nghiên cứu xác lập cấu trúc không gian tổng thể đô
thị Quy Nhơn và vùng phụ cận
Hình 9: Không còn khoảng cách và ranh giới giữa không gian trung tâm đô thị cũ
ịch ven biển
Trang 116 Kh ả năng tương t c cảnh quan giữa không gian du lịch ven biển và không gian trung tâm
đô thị cũ
6.1 Hình thái đô thị
Các thành phố du lịch ven biển miền Trung với ưu thế của mình, đã nhanh chóng phát triển thành những đô thị gắn liền với du lịch biển Mỗi địa phương có những định hướng phát triển riêng nhằm khai thác ưu thế mà mình có trên nền đô thị cũ dẫn đến hình thái đô thị rất đa
dạng và có bản sắc riêng cho mỗi đô thị Qua nghiên cứu khoảng cách không gian từ bên trong
nội đô ra đến cạnh biên bờ biển của các đô thị, chúng ta dễ dàng nhận dạng được hình thái đô
thị các thành phố ven biển miền Trung có 3 dạng cơ bản:
Dạng hình thái đô thị với ranh giới phân tách mờ nhạt: Sự phân tách không gian giữa trung tâm đô thị và không gian du lịch ven biển theo kiểu đan xen, hỗn hợp có tính chất hướng
biển với khoảng cách giữa hai không gian 0.5 – 1km Đại diện tiêu biểu cho kiểu hình thái đô thị này là thành phố Nha Trang, Tuy Hoà, Quy Nhơn
Dạng phân tách “mềm”: Khoảng cách giữa 2 không gian 3 – 5 km, có không gian đệm là các khu dân cư đô thị làm không gian chuyển tiếp giữa 2 không gian như Đà Nẵng, Đồng Hới
Kiểu hình thái đô thị này mang tính chất bám biển nhiều hơn là hướng biển
Dạng phân tách “cứng”: Khoảng cách giữa 2 không gian khá xa từ 10 – 20 km bằng không gian nông nghiệp nông thôn Đặc điểm của mối quan hệ này là đô thị du lịch biển làm đô thị vệ tinh liên kết với đô thị trung tâm thông qua trục giao thông kết nối: Vinh – Cửa Lò, Huế - Thuận
An, Hội An – Cửa Đại
Hình 10: Các dạng phân tách không gian giữa không gian đô thị cũ và không gian du lịch ven biển