BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PAGE TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y ((( LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP XÂY DỰNG CÁC BỘ KIỂM TRA NHANH (QUICK TEST KITS) KIỂM TRA MỘT SỐ TẠP CHẤT TRONG NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ngành Chăn Nuôi Khoá 2001 2005 Lớp Chăn Nuôi 2001 Sinh viên thực hiện Nguyễn Huỳnh Ái Thi 2005 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP XÂY DỰNG CÁC BỘ KIỂM TRA NHANH (QUICK TEST KITS) KIỂM TRA MỘT SỐ TẠP CHẤT TRONG NGUYÊN L.
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG CÁC BỘ KIỂM TRA NHANH (QUICK TEST KITS) KIỂM TRA MỘT SỐ TẠP CHẤT TRONG NGUYÊN LIỆU
THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Ngành: Chăn Nuôi
Khoá: 2001-2005
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Huỳnh Ái Thi
2005
Trang 2-LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG CÁC BỘ KIỂM TRA NHANH (QUICK TEST KITS) KIỂM TRA MỘT SỐ TẠP CHẤT TRONG NGUYÊN LIỆU
THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
T.S DƯƠNG DUY ĐỒNG NGUYỄN HUỲNH ÁI THI
2005
Trang 4Khi giá cả thị trường biến động hoặc nguồn cung cấp khan hiếm, vì mục tiêulợi nhuận, có thể người ta đã pha vào trong một nguyên liệu “thuần” một nguyênliệu khác rẻ tiền hơn theo một cách nào đó Ví dụ bột cá có thể bị pha với bột lôngvũ; cám gạo bị pha với trấu hoặc bột sò hay bột xương cũng có thể bị pha thêm bộtsò; v.v…
Vậy làm thế nào để biết trong nguyên liệu TĂCN có gì? Để giải đáp câu hỏinày, người ta phải luôn luôn thực hiện đánh giá các mẫu nguyên liệu thức ăn trướckhi tổ hợp công thức và phối trộn để tạo ra thức ăn hỗn hợp có thành phần nhưmong muốn
Tổng quát, có 2 phương pháp đánhgiá thức ăn là phương pháp phân tích hoáhọc và phương pháp phân tích nhanh gồm quan sát vi thể và phương pháp dùngthuốc thử (Quick Test)
Ở phương pháp dùng thuốc thử, người ta dùng những hợp chất hoá học đặcthù gọi là thuốc thử cho vào một nguyên liệu thức ăn để quan sát những biến đổi(chủ yếu về màu sắc) từ phản ứng giữa thuốc thử với tạp chất và từ đó có thể xácđịnh trong nguyên liệu này có lẫn tạp chất hay không hoặc để kiểm tra một chất xácđịnh nào đó
Với mong muốn xây dựng những bộ thuốc thử kiểm tra đó, chúng tôi đượcsự đồng ý của khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm Thành phố HồChí Minh và sự chỉ dạy tận tình của thầy Dương Duy Đồng, tiến hành thực hiện thí
nghiệm: “Xây dựng các bộ kiểm tra nhanh (quick test kits) kiểm tra một số tạp
chất có trong nguyên liệu thức ăn chăn nuôi”.
Trang 5- Thực hiện các phản ứng kiểm tra nhanh theo tài liệu có sẵn.
- Thiết lập được bộ thuốc thử kiểm tra
- Có hình ảnh minh hoạ các kiểm tra này
- Thu thập thực liệu được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và tiến hành kiểmtra nhanh
Trang 6Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 TÌNH HÌNH NGUỒN TĂCN TRÊN THỊ TRƯỜNG
2.1.1 Về số lượng
Sản lượng TĂCN tăng tỉ lệ thuận với sự gia tăng số đầu con gia súc gia cầm.Trong những năm gần đây với chính sách ”Đẩy mạnh ngành chăn nuôi làm ngànhmũi nhọn” của nhà nước, ngành sản xuất TĂCN đã phát triển mạnh mẽ
Có thể nói nguồn thức ăn chăn nuôi trên thị trường hiện nay rất phong phú và
đa dạng Tính từ năm 1996 - 1999 sản lượng TĂCN tăng từ 0,04 triệu tấn lên đến1,05 triệu tấn/năm Rồi 2,7 triệu tấn vào năm 2000 và 7 - 8 triệu tấn/năm vào năm
2003 – 2004
Chủng loại thức ăn cũng đa dạng, từ TĂHH trộn sẵn dành cho từng loại vậtnuôi thích hợp với từng giai đoạn tuổi của thú cũng như thích hợp cho mục tiêu sảnxuất của con thú đó, cho đến các loại thức ăn đậm đặc phù hợp với đặc điểm sảnxuất lương thực từng vùng địa phương (Viện chăn nuôi, 2003)
2.1.2 Về chất lượng
Do số lượng TĂCN phong phú như vậy nên chất lượng cũng thi nhau biếnđổi Một thực tế hiện nay đó là rất nhiều mẫu TĂCN chất lượng thấp kém, khôngđạt yêu cầu (khi đem kiểm tra thì thấy kết quả thấp hơn những chỉ tiêu đã công bố)
Theo Dương Đình Tường (2005), tại Bắc Giang kiểm tra 4 cơ sở sản xuấtTĂCN thì phát hiện 100% mẫu không đảm bảo chất lượng như công bố Kết quảđiều tra của đoàn kiểm tra sở NN & PTNT tỉnh Bắc Giang với 16 mẫu TĂGS của
14 doanh nghiệp trong cả nước, mỗi mẫu từ 2 - 3 chỉ tiêu chất lượng với tổng số chỉtiêu là 46 Kết quả có 16 chỉ tiêu đúng tiêu chuẩn công bố; 24 chỉ tiêu không đạttiêu chuẩn công bố (chênh lệch từ 0,34% - 19,91%) và 6 chỉ tiêu không công bố
Một nguồn số liệu khác (Phương Hà, 2005) cho biết theo kết quả kiểm tracủa Phạm Thị Oanh và ctv thuộc Cục Nông Nghiệp thì có 19/173 mẫu TĂGS cóprotein thấp hơn công bố (chủ yếu là TĂ đậm đặc) chiếm 11%, 16/95 mẫu có hàmlượng muối cao hơn qui định (16,8%), 4/125 mẫu có tỷ lệ cát sạn cao hơn qui định(3,2%)…
Trang 7Xét trên một góc độ khác thì các nguyên liệu TĂCN hiện tại đang bị pha tạpnghiêm trọng Bài báo “Nhập nhoạng thị trường TĂGS” của Dương Đình Tường,
2005 đã dẫn lời một nhân viên tiếp thị rằng: ”Cám nào chả là cám, anh có trộn thêmvào trấu rồi nghiền mịn cũng chả mấy ai biết Miễn đừng trộn nhiều quá kẻo heochê là được” Kết quả là các công ty sẽ rao giá rẻ, kích thích sức mua của ngườichăn nuôi Các kết quả kiểm tra ở trên đã chỉ ra một phần sự tạp nham này, vì saocùng 1 kg TĂ, mẫu này lại có mức protein thấp hơn tiêu chuẩn, vì nó đã bị trộn vớimột nguyên liệu nào đó mà thành phần protein thấp hơn
2.1.3.Về tình hình sản xuất và giá cả
Bắt đầu những năm 90, tình hình sản xuất có nhiều thay đổi rất rõ rệt Sựxuất hiện của một số công ty chăn nuôi và sản xuất thức ăn có vốn đầu tư nướcngoài đã một mặt góp phần phát triển ngành thức ăn một cách trực tiếp, mặc kháctạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nhà sản xuất thức ăn tư nhân và quốcdoanh trong nước (Dương Duy Đồng, 2005)
Một loạt các nhà máy, công ty sản xuất thức ăn gia súc đã mọc lên khắp nơi
từ Nam chí Bắc Qui mô sản xuất rất khác biệt giữa các nhà máy Có thể khoảng
1000 tấn/tháng (đã tính thức ăn đậm đặc qui đổi) cho đến 30.000 - 40.000 tấn/tháng.Các nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 60% thị phần thức ăn chăn nuôi,mặc dù số lượng các nhà máy này ít hơn các nhà máy có vốn nội địa
Ở các nhà máy có quy mô sản xuất dưới 5000 tấn thức ăn/tháng thì do vốnđầu tư hạn chế nên chỉ tập trung vào sản xuất các sản phẩm tương đối “dễ tính” vàcho thị trường nhỏ do hạn chế về vốn và sản xuất các dòng sản phẩm giá thấp nêncác công ty này cũng sẽ không hoặc ít sử dụng những nguyên liệu, chất bổ sung đắttiền, chất lượng cao theo ý nghĩa là làm tăng năng suất động vật đồng thời an toàn
vệ sinh thực phẩm cho người tiêu thụ Nhiều sản phẩm bổ sung thức ăn có tính độchại cho người (olaquindox, carbadox, sulfamid, nhóm beta-agonist) đã và vẫn cònđang được sử dụng ở nhiều nhà máy thuộc loại này
Các nhà máy vốn trong nước có sản lượng cao hơn, từ 5000 - 10.000tấn/tháng trở lên và đã có được thương hiệu tương đối rõ trên thị trường thì bắt đầutập trung vốn đầu tư cho chất lượng thức ăn và củng cố uy tín kinh doanh Tuy
Trang 8nhiên trong các nhà máy này vẫn đang còn tiếp tục sản xuất dòng sản phẩm giá thấpgiống như các nhà máy nhỏ.
Về giá cả, TĂCN hiện thường xuyên theo xu hướng tăng giá Theo ông Lê
Bá Lịch (2003), chủ tịch Hiệp Hội Chăn Nuôi Việt Nam cho biết TĂCN đã tăng giá20% Nguyên nhân là do trong thời gian qua nguyên liệu nhập về để chế biếnTĂCN tăng giá mạnh: bắp tăng 20%, bã khoai mì, bột thịt tăng 20-25%, lysine tăng5-10% Mặc dù Việt Nam là một nước nông nghiệp, giàu tiềm năng TĂCN nhưnghầu như trong những năm gần đây Việt Nam vẫn phải nhập toàn bộ hoặc một phầncác nguyên liệu chính cung đạm và cung năng lượng làm thức ăn chăn nuôi, chỉngoại trừ khoai mì lát là mặt hàng vẫn đủ dùng trong nước và thỉnh thoảng có xuấtkhẩu
Các nguyên liệu được nhập thường xuyên với số lượng lớn là khô dầu đậunành và bột cá Các nguyên liệu khác như acid amin, enzyme, hương liệu cũng đượcnhập phần lớn Do việc chịu thuế nhập khẩu cùng với biến động giá cả trên thế giớinên các loại nguyên liệu này góp phần làm tăng giá thành thức ăn chăn nuôi ở ViệtNam Chính sự tăng giá này nên xu thế tất yếu trong các nhà máy sản xuất thức ăn
là giảm giá thành sản phẩm bằng cách cắt giảm nhiều loại chi phí Một trong nhữngbiện pháp là giảm hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm thức ăn khi sử dụng nhiềuloại phụ phẩm giá rẻ và hàm lượng dinh dưỡng rất thấp như bã bột mì, lúa nghiền,cùi bắp nghiền nên dẫn đến hiệu quả chăn nuôi không cao, hệ số chuyển hoá thức
ăn của con thú thường cao hơn mức tiêu chuẩn của con giống Ít có nhà máy quantâm đến việc giảm giá thành thức ăn thông qua các biện pháp tổ hợp khẩu phần hợp
lý hơn bằng cách sử dụng enzyme, hoặc acid amin (Hồng Vỹ, 2005; Dương DuyĐồng, 2005)
Thêm vào đó, các phương thức quảng cáo, tiếp thị, kèm theo phần trăm hoahồng hấp dẫn cho các đại lý cũng như sự cạnh tranh về sức mua của các công ty đãlàm người nông dân rất khó lựa chọn Kết quả là một sản phẩm dù giá cao hay giáthấp cũng chưa hẳn có chất lượng tốt Vì vậy mà người chăn nuôi trước sự đa dạng
đó không thể nào biết được sản phẩm nào là phù hợp cho con thú của mình
Trang 92.2 Vì sao phải tiến hành phân tích mẫu TĂCN?
Phân tích mẫu TĂCN là phương pháp dùng những kỹ thuật phân tích để xác định thành phần dinh dưỡng của mẫu thức ăn Đối với hầu hết các loại TĂCN thông thường thì thành phần của chúng được thể hiện theo sơ đồ dưới đây
THỨC ĂN GIA SÚC GIA CẦM
NƯỚC VCK THUẦN
TRO TOÀN PHẦN CHẤT HỮU CƠ Protein thuần
chứa các acid amin
KHOÁNG KHOÁNG Các Hợp Chất Amid:
TINH KHIẾT TẠP CHẤT peptid, acid amin, betain,
(tan trong acid) (không hoà tan) glucosid…
CHẤT BÉO THÔ - Dầu mỡ, lipid EE phức tạp… - Khoáng Cấu Trúc Ca, P -Khoáng Chức Năng XƠ THÔ -Cellulose, hemicellulose, K, Na, Mg, Cl, S CF lignin, chitin… -Khoáng Xúc Tác (vi khoáng như DẪN XUẤT VÔ -Tinh bột, pectin, đường, Fe, Cu, Zn, Mn…) ĐẠM NFE acid hữu cơ… CÁC VI CHẤT -Các vitamin,các hoạt chất DINH DƯỠNG sinh học UGF
CÁC CHÁT HỖ - Kháng sinh, Probiotic, vi
TRỢ DINH DƯỠNG sinh hữu ích, enzyme, , chất chống nấm mốc, chất
chống oxy hoá, chất hấp phụ
độc tố…
Sơ đồ 2.1 Thành phần các chất dinh dưỡng trong thức ăn
Vậy thì vì sao phải phân tích mẫu TĂCN?
Thứ nhất, để biết rõ giá trị dinh dưỡng của mẫu thức ăn (đạm, đường, béo…) Mỗi một loài thú nuôi, tuỳ theo giai đoạn tuổi, giới tính, thể trạng của từng
cơ thể mà bộ máy tiêu hoá hoạt động khác nhau, vì vậy mà nhu cầu dinh dưỡng cũng khác nhau Chẳng hạn, kiểu hình bộ máy tiêu hoá của loài thú ăn cỏ là biến đổi
dạ dày thành nhiều túi nhưng khi chúng còn non thì kiểu hình cũng giống như thú
dạ dày đơn…
Trang 10Vì vậy mà làm sao để cung cấp không thiếu, đảm bảo sự phát triển, hoạtđộng của con thú được bình thường cũng như cung cấp thức ăn không thừa đảm bảomục tiêu kinh tế thì phải biết được thành phần cơ thể thú, dựa trên nhu cầu dinhdưỡng của cơ thể thú và biết được thành phần dinh dưỡng của thức ăn, để từ đó tatính ra được khẩu phần tương đối Khẩu phần này đảm bảo sự phát triển bìnhthường và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Thứ hai, để biết chất lượng thật sự của mẫu thức ăn đó về nhiều mặt như:mẫu thức ăn có bị nhiễm độc tố nấm mốc không, có bị nhiễm độc chất không, có bịpha lẫn với các chất khác hay không
Khi biết được rõ thành phần của thực liệu, một công thức thức ăn hợp lý chophép tiết kiệm được lượng thức ăn ăn vào và đảm bảo lượng mà con thú ăn vào hữudụng cho cơ thể của nó
2.3 Các hệ thống đánh giá TĂCN
Hiện nay có 2 hệ thống đánh giá thức ăn là:
- Đánh giá bằng phân tích hoá học
- Đánh giá bằng kiểm tra nhanh
Sau đây, chúng tôi xin nêu tổng quát từng phương pháp
2.3.1 Phương pháp phân tích hoá học
2.3.1.1 Phương pháp phân tích hoá học cổ điển
Phương pháp này còn được gọi là phân tích gần đúng (Proximate analysis)
Hệ thống các phương pháp phân tích hoá học được phát triển vào giữa thế kỷ XIX ởĐức bởi Henneberg và Stoman (thuộc Weende Experiment Station) để phân tíchthức ăn cho người và động vật Các chỉ tiêu được phân tích là ẩm độ, protein thô,béo thô (ether extract), xơ thô, tro và NFE Đây là mốc khởi điểm cho sự phát triểncủa các phương pháp phân tích hoá học sau này
Cơ sở chung cho các phương pháp phân tích hoá học đó là sự tách rời chấtmuốn kiểm tra ra khỏi những hợp chất khác của nguyên liệu thức ăn Cho đến nay,phương pháp này vẫn được ứng dụng rộng rãi ở Việt Nam và nhiều nơi trên thếgiới
Trang 11Nhược điểm của phương pháp cổ điển đó là các kết quả phân tích được cóthể chưa thể hiện được đúng bản chất Thí dụ như chỉ tiêu ẩm độ bao gồm cả nhữngchất có thể bay hơi hoặc thăng hoa khi nhiệt độ trên 100oC như acid béo bay hơitrong cỏ ủ, amoniac, alcohol chứ không phải chỉ là hơi nước không Giá trị CP(protein thô) xác định bằng phương pháp Kjeldalh được tính từ Nitơ tổng số trongmẫu TĂ nhân với hệ số 6,25 không phản ánh giá trị protein thực và chất chứa Nitơphi protein (NPN) trong TĂ Giá trị CP đó không nói lên được protein đó có đượccon vật tiêu hóa và hấp thu hay không
2.3.1.2 Phương pháp phân tích hoá học hiện đại
Đó là phương pháp sử dụng kính quang phổ cận hồng ngoại, gọi tắt là NIRShoặc đôi khi là NIR (Near Infra Respectrophotometer)
Kỹ thuật NIRS được sử dụng lần đầu tiên do Norris và ctv (1976) giới thiệucho việc đo chất lượng của thức ăn thô xanh Kính quang phổ cận hồng ngoại dựatrên sự hấp thụ quang phổ của nhóm liên kết C-H, N-H và O-H trong chất hữu cơ.Vùng quang phổ cận hồng ngoại được hấp phụ và vùng quang phổ này được sửdụng để xác định thành phần cũng như chất lượng của nhiều sản phẩm và theo dõicác quá trình biến động sinh học, hoá học thông qua đường cong chia độ Tức làmột mẫu khi đem phân tích một chỉ tiêu nào đó, dựa trên bước sóng mà nó hấp phụrồi đem so với đường cong chia độ (đường cong có phân bố chuẩn), và đọc kết quảtheo sự so sánh đó
NIRS được ứng dụng để xác định các thành phần TĂGS như sau:
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu phân tích được bằng phương pháp NIRS
STT LOẠI THỨC ĂN CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH
2 Khẩu phần hỗn hợp và các chấtnguyên liệu TĂ gồm TĂ gia
cầm và heo
Phân tích như trên và protein thô có khả năng tiêu hoá, lysin, dầu thực vật, tinh bột, đường, lưu huỳnh tự do (S).
3 TĂ ủ chua Như TĂ thô xanh, men cellulase, NH3 , N, pH, VCK, acid
béo bay hơi, ảnh hưởng của sự nhiễm đất đến phân tích NIRS, đặc trưng lên men.
Trang 12Các công trình nghiên cứu của Lindgren (1983) và Robert (1986) cho thấyphương pháp NIRS cho dự đoán tỷ lệ tiêu hoá chính xác hơn phương pháp phân tíchcổ truyền.
Tuy là một phương pháp có nhiều triển vọng, nhưng nó cũng có một số hạnchế Số lượng mẫu phân tích, các mẫu thu được trong năm này không giống vớinăm khác gây nên sự phức tạp trong chia độ Vấn đề phức tạp nằm ở trong chínhbản chất của mẫu phân tích, sự khác nhau theo mùa sinh trưởng, giữa các mùa, giữacác địa điểm sinh trưởng…Các mẫu có độ ẩm cao (như TĂ ủ chua), mẫu có nhiềunước thì các nhóm nước có xu hướng chồng chéo và che lấp các đặc tính quang phổkhác Và quang phổ đặc biệt khác nhau ở mỗi chất đường, trong dung dịch quangphổ không rõ và khá giống với cellulose, tinh bột Mặc khác, giá trị của NIRS là giátrị trung bình không chính xác hơn so với giá trị xác định hoá học Do vậy , NIRSrất tốt cho phân tích VCK, protein nhưng không tốt đối với xơ và lignin; và NIRS sẽtiện dụng khi cần có kết quả phân tích nhanh hoặc cần thực hiện kiểm tra hàng loạtmẫu trong một thời gian ngắn Hơn nữa, chi phí để đầu tư cho NIRS ban đầu là rấtcao, ngay cả đầu tư để xây dựng một phòng phân tích theo phương pháp cổ điểncũng là một việc quá tầm tay đối với một số cơ sở sản xuất TĂCN qui mô nhỏ Hiệntại, NIRS hoạt động tốt nhất ở lĩnh vực nguyên liệu khô và nó đòi hỏi kiểm trathường xuyên để duy trì độ chính xác trong chia độ
2.3.2 Phương pháp kiểm tra nhanh
Phương pháp này có nguồn gốc từ Mỹ vào những năm 1960 Đặc thù củaphương pháp này là sự nhanh gọn, hầu hết các kiểm tra không qua các bước cầu kỳ
về dụng cụ, cách làm cũng như thời gian thực hiện Vì thế, đây là một phương pháp
có nhiều khả năng ứng dụng trong việc đánh giá nguyên liệu thức ăn
Phương pháp phân tích nhanh gồm phương pháp kiểm tra bằng Quick Test
và phương pháp quan sát vi thể
2.3.2.1 Phương pháp kiểm tra nhanh bằng Quick Test
Nguyên tắc của mỗi phản ứng kiểm tra nhanh Quick Test là dựa trên nhữngtương tác của hoá chất với một thành phần nào đó trong nguyên liệu TĂ mà kết quả
Trang 13là nó thể hiện thành những biểu hiện rõ ràng và đặc hiệu cho từng nguyên liệu nhưsự thay đổi màu sắc, xuất hiện kết tủa, sủi bọt…
Người ta sử dụng các chất hoá học vô cơ lẫn hữu cơ, rồi dùng những hoáchất này pha chế thành những thuốc thử để sẵn Mẫu thức ăn sẽ được kiểm tra bằngthuốc thử Mỗi thuốc thử đặc hiệu cho một chất nào đó trong nguyên liệu thức ăn.Việc kiểm tra cho kết quả dương tính có nghĩa là chất X nào đó tồn tại trong nguyênliệu Ví dụ:
- Trong phản ứng kiểm tra Carbonate, khi nhỏ dung dịch thuốc thử HCl vàomẫu, nếu thấy sủi bọt (mẫu dương tính) tức là có nhóm CO3 trong nguyên liệu thức
ăn đó Thông thường CO3 có trong bột đá vôi, bột sò, hoặc bột vỏ trứng Do đó nếumẫu nguyên liệu như bột thịt xương dương tính với phản ứng carbonate chứng tỏmẫu này đã bị pha tạp với bột đá vôi, hoặc bột sò, bột vỏ trứng
- Trong phản ứng kiểm tra Kẽm, nhỏ dung dịch B (dithizone trong CCl4), nếuthấy có màu đỏ nhạt xuất hiện nghĩa là có kẽm trong mẫu thức ăn này
Các chỉ tiêu mà Quick Test có thể kiểm tra, đa phần nghiêng về định tínhhoặc những định lượng mang tính tương đối trong một khoảng giá trị nào đó Đó làkiểm tra nitrate, carbonate, urea, bột lông vũ, bột thịt xương bị pha tạp trong TĂ;các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Zn, S… Kiểm tra có hay không các kháng sinhtrong TĂ, kiểm tra sự hiện diện của độc tố nấm mốc
Trang 14ngoài như hình dạng, màu sắc, kích cỡ thông thường, độ mềm, độ cứng, kết cấu,mùi…
Sau đó, quan sát dựa trên cấu trúc tế bào và cấu trúc mô học của nguyên liệuthức ăn bằng kính hiển vi lập thể Phương pháp này đòi hỏi những kỹ năng chyênsâu, và kết quả sẽ chính xác hơn ngay cả khi nguyên liệu thức ăn được nghiền càngmịn Kết quả tốt nhất khi có sự quan sát kết hợp giữa hai phương pháp, đôi khi mộtvài thực liệu đòi hỏi phải quan sát vĩ mô (quan sát bằng mắt thường)
Việc phân biệt các nguyên liệu theo từng nhóm họ hàng là rất quan trọng vìsự pha tạp một phần dựa vào nguyên lý này Nó đòi hỏi nhà phân tích phải cónhững hình ảnh của từng nguyên liệu, từng tạp chất chuẩn để so sánh cộng với sựrèn luyện kỹ năng quan sát bằng thực nghiệm
+ Phương pháp phù nổi (Flotation)
Kỹ thuật quan sát thứ hai trên kính hiển vi là phương pháp phù nổi Phươngpháp này phỏng theo nguyên tắc nổi của thức ăn trong dung dịch dầu nhẹ (nhưCCl4) để xác định những mảnh vỡ từ côn trùng, các tạp chất khác trong nguyên liệuthức ăn, phân biệt thành phần vô cơ và hữu cơ Những thí nghiệm sâu hơn đó là phatrộn mẫu lại với nhau, sau đó xác định thành phần và tỷ lệ của chúng, việc này đượcứng dụng để kiểm tra thức ăn hỗn hợp Hàng trăm mẫu thức ăn đã được thựcnghiệm từ vài mươi năm trước đây Kết quả cho thấy các nhà nghiên cứu thức ănbằng kính hiển vi có thể áp dụng phương pháp phù nổi để xác định tên nguyên liệucũng như tỷ lệ phần trăm chúng trong thức ăn hỗn hợp
Dung dịch TĂ hoà tan được tách thành 2 hoặc 3 phần: phần nổi và phầnchìm Sau đó, lọc và sấy khô, cân trọng lượng và quan sát từng phần dưới kính hiển
vi, định danh nguyên liệu và ước lượng chúng Phần nổi và phần chìm đó có thể là:
Trang 152.3.3 Nhận xét về phương pháp Quick Test
Hạn chế của phương pháp phân tích hoá học chính là những gì mà phươngpháp vi thể và phương pháp Quick Test làm được Điều dễ nhận thấy nhất đó làphương pháp hoá học rất khó có thể kiểm tra được sự pha tạp các tạp chất vàoNLTĂ Trong khi đó, phương pháp vi thể kiểm tra thành phần của thức ăn, kiểm trachất lượng của nguyên liệu; phương pháp Quick Test hầu như không đi vào kiểmtra thành phần hoá học mà chủ yếu kiểm tra những chỉ tiêu phương pháp hoá họckhông kiểm tra được hoặc kiểm tra được nhưng chi phí quá tốn kém, trong đó ưuthế nghiêng về các quick test kiểm tra kháng sinh, kiểm tra vitamin, kiểm tra cácchất khoáng vi lượng, kiểm tra sự pha tạp chất trong các nguyên liệu
Ưu điểm của phương pháp Quick Test đó là có thể biết được kết quả sau mộtthời gian rất ngắn so với phương pháp hoá học và phương pháp quan sát vi thể Thứhai, Quick Test không đòi hỏi một chi phí lớn, những dụng cụ cũng như hoá chấtdùng trong các thí nghiệm khá đơn giản, giá thấp và dễ dàng tìm mua trên thịtrường Việt Nam
Một ưu điểm khác của Quick Test nữa đó là sự tiện dụng như một cái máytính xách tay, người ta có thể mang theo thuốc thử đến tại nơi thu mua nguyên liệu
và kiểm tra ngay tại đó mà các phương pháp khác không làm được
So với phương pháp hoá học đòi hỏi người phân tích phải có một trình độnhất định, phương pháp phân tích vi thể cũng đòi hỏi một sự huấn luyện thông quakính hiển vi, đặc biệt khi quan sát trên kính hiển vi lập thể và quan sát để xác định
tỷ lệ thành phần nguyên liệu trong TĂHH, cần phải có những hiểu biết thấu đáocũng như kinh nghiệm nhất định đối với đặc điểm của từng nguyên liệu thì phươngpháp Quick Test không cần phải thế, nó không đòi hỏi một sự chuẩn bị kỹ lưỡngnào vì những thao tác của qui trình phản ứng thực hiện rất dễ dàng cũng như không
có khó khăn nào trong việc quan sát kết quả của phản ứng vì chỉ thông qua sự thayđổi màu sắc, sự xuất hiện kết tủa hoặc có hiện tượng sủi bọt… Phương pháp vi thểhầu như chỉ xác định thành phần của nguyên liệu thức ăn thông qua những đặc tínhnhìn thấy được, trong khi đó Quick Test lại có khả năng nhận biết nguyên liệu thức
Trang 16ăn ở nhiều khía cạnh khác như có chất kháng sinh hay không; có bị nhiễm độc tốnấm mốc hay không…
2.4 Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng và phân tích TĂCN của Việt Nam trong
20 năm vừa qua
Theo Lã Văn Kính và Huỳnh Thanh Hoài (2003), những tiến bộ trong lĩnhvực nghiên cứu về dinh dưỡng TĂCN đã góp phần cải thiện năng suất và giá thànhsản phẩm chăn nuôi Các lĩnh vực nghiên cứu trong 20 năm từ 1982 - 2002 tậptrung vào:
- Xác định thành phần hoá học của nguyên liệu làm thức ăn gia súc gia cầm:thành phần hoá học gần đúng của hầu hết các loại TĂ (6500 mẫu) với các chỉ tiêunhư ẩm độ, protein thô, xơ thô, ADF, NDF, béo thô, khoáng tổng số, NaCl, Ca, Ptổng số, khoáng vi lượng trong một số thức ăn (300 mẫu) như Fe, Cu, Zn, Co, Inhưng số liệu chưa nhiều chưa đại diện; đường, tinh bột, năng lượng thô, nănglượng trao đổi của các nguyên liệu
- Nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hoá
- Nghiên cứu xác định nhu cầu protein, năng lượng, acid amin cho các loạigia súc gia cầm khác nhau
- Nghiên cứu về chế biến nguyên liệu
- Rất ít số liệu phân tích thành phần các vitamin, độc tố, chất kháng dinhdưỡng trong TĂ
Vẫn chưa thấy có tài liệu chính thức trong nước công bố về cá nhân hay tổchức nào thực hiện kiểm tra thức ăn bằng phương pháp vi thể hay quick test cũngnhư chưa thấy công bố các kết quả kiểm tra thức ăn theo 2 phương pháp này
Hiện nay, đối với các nhà máy sản xuất TĂCN qui mô 3000 tấn /tháng trởxuống thì thường không đủ chi phí để xây dựng một phòng phân tích TĂ Thống kêtrong cả nước chỉ có 20/60 tỉnh thành có bố trí riêng phòng Chăn Nuôi trong cơ cấutổ chức của Sở NN và PTNT Các cán bộ kiểm tra chất lượng TĂCN là vô cùng ít
so với tầm phát triển của ngành sản xuất TĂCN hiện nay Và do đó, người nông dânvới vốn ít rất khó có thể biết được chất lượng thật sự của loại thức ăn họ đã mua
Trang 17Do vậy, phương pháp Quick Test với tất cả những ưu điểm ở trên hứa hẹn sẽ là mộtgiải pháp tốt để kiểm tra chất lượng NLTĂ.
2.5 Một số NLTĂ có khả năng bị pha tạp và các nguyên liệu có thể kiểm tra bằng Quick Test
2.5.1 Một số NLTĂ có khả năng bị pha tạp
Dưới đây là khả năng nguyên liệu TĂCN bị pha tạp theo điều tra chưa côngbố chính thức của Nguyễn Quang Thanh Nhi (2005)
Bảng 2.2 Một số tạp chất có trong các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thông thường và khả năng kiểm tra của Quick Test
STT NGUYÊN
LIỆU TẠP CHẤT THÔNG
THƯỜNG
MỨC ĐỘ PHA TẠP NHẬN BIẾT PHẢN ỨNG CAO TRUNG
5 Cát (sét cao lanh) x
3 1 CÁM LÚA MÌ Bột bã khoai mỳ x
Trang 182.5.2 Các NLTĂ có thể kiểm tra bằng Quick Test
2.5.2.1 Các loại rau củ và cây TĂ thô xanh
Tất cả những nguyên liệu này đều có thể chứa Nitrate Bằng phương phápQuick Test có thể kiểm tra được sự hiện diện của nitrate trong nguyên liệu thôngqua phản ứng kiểm tra nitrate
Trong tự nhiên tất cả nitơ có được từ sự phân giải nitơ hữu cơ, quá trình oxyhoá - khử nitơ trong đất, từ không khí do sấm sét tạo ra, từ phân bón hữu cơ… đượchấp thu vào đất tạo thành Nitrate trong đất Thực vật sẽ hấp thu lượng nitrate này,xem như một trong những nguồn nitơ để tổng hợp ra protein
Khi cơ thể hấp thu nitrate đến một mức nào đó thì sẽ gây ngộ độc Cơ chếgây ngộ độc của nitrate trên động vật: phong bế hoạt động của hemoglobin, gây rahiện tượng Methemoglobin (nitrate bị khử thành nitrit kết hợp với nhân sắt tronghemoglobin tạo thành methemoglobin); gây nên hội chứng xuống máu, giảm huyếtáp; ức chế một số vi sinh vật tiêu hoá xơ trong đường ruột; hiện tượng ngộ độcnitrate mãn tính xảy ra trên thú nhai lại khi người ta bón phân nitrate trên đồng cỏ;đối với người, nitrate và nitrite còn là nguồn gốc sinh ra các nitrosamine, một trongnhững tác nhân gây ung thư dạ dày Trong thực tiễn, hiện tượng ngộ độc nitrate ítxảy ra vì thú có sức chịu đựng lớn Tuy nhiên, nếu cho thú ăn một lượng nitrate lớnthì sẽ gây ra rối loạn sinh sản, giảm thấp tỷ lệ đậu thai
Dùng phản ứng Quick Test kiểm tra Nitrate để xác định định tính (hoặc địnhlượng tương đối) nitrate trong NLTĂ
2.5.2.2 Bột cá
Dựa trên hàm lượng muối, bột cá được phân thành 2 loại là bột cá mặn vàbột cá lạt Bột cá tốt là nguồn cung tuyệt hảo các protein cân đối nhưng gía lại cao.Việt Nam chủ yếu sản xuất bột cá từ nguồn cá cơm với 55% đạm Với thú nhai lạibột cá được quan tâm sử dụng như một nguồn protein by-pass Tuy nhiên khi sử
dụng bột cá thì nên xem xét khả năng nhiễm vi sinh vật gây bệnh (Samonella, E.
coli) Nồng độ muối cao trong bột cá có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của thú,
nhất là thú non Việc kiểm tra hàm lượng muối trong bột cá có thể dùng phản ứng
Trang 19kiểm tra muối của Quick Test Thông thường lượng muối trong bột cá khoảng 2 –3% hoặc ít hơn nữa.
Bột cá còn có thể bị pha tạp với urea (dùng phản ứng kiểm tra urea củaQuick Test); bị pha tạp với bột sò hoặc bột đá (kiểm tra Carbonate); bị pha với bộtxương hoặc bột lông vũ (kiểm tra bột lông vũ)
2.5.2.3 Bột thịt và bột thịt xương
Có hàm lượng protein biến động từ 30 – 50%, tuy ít protein nhưng lại lànguồn cung Ca (7 – 10%) và P hữu dụng (3,8 – 5%) tốt Giống như bột cá, nguy cơnhiễm các mầm bệnh từ vi sinh vật cũng cần được quan tâm
Hai loại nguyên liệu này có khả năng bị pha tạp với bột lông vũ (dùng phảnứng kiểm tra bột lông vũ); hoặc pha với bột xương; hoặc bị pha với bột sò hay bột
đá vôi (dùng kiểm tra carbonate) Người ta cũng có thể dùng bột xương pha vàotrong bột cá làm giảm giá trị của bột cá
2.5.2.4 Bột lông vũ
Bột lông vũ là sản phẩm từ lông gia cầm Các sản phẩm chế biến từ lông heo,lông gia súc khác cũng có thành phần và tính chất tương tự bột lông vũ Hàm lượngprotein thô trong bột lông vũ có thể lên đến mức 80 - 85% nhưng chủ yếu là proteinkhông hoà tan (dạng keratin), có độ tiêu hoá rất thấp Bột lông vũ thiếu methionine,thiếu lysine, chỉ nhiều cystein
Bột lông vũ nếu được thuỷ phân, TLTH protein có thể đạt 70 - 75% và sẽ lànguồn cung protein có giá trị cao Trong thức ăn thú dạ dày đơn, khuyến cáo khôngnên sử dụng hơn 5 - 7% trong khẩu phần vì có thể gây mất cân đối acid amin và gâytoan huyết (do cystein chuyển hoá thành lưu huỳnh tự do) Đối với thú nhai lại, cầnxét đến khả năng hấp thu protein mà không bị phân giải bởi vi sinh vật dạ cỏ (by-pass) Bột lông vũ cũng có thể thay thế một số bột cá trong thức ăn của gà thịt Tỷ lệ
từ 2 - 4% trong thức ăn hỗn hợp tuỳ theo tuổi gà sẽ làm cho màu da vàng hơn, vịthịt đậm đà, không có mùi của bột lông vũ Các nhà khoa học đề nghị sử dụng bộtlông vũ trên 4 - 5% trong thức ăn hỗn hợp cần bổ sung thêm 0,6% lysine, 0,5%methione, 0,5% khoáng và vitamin Hiện nay, chế phẩm enzyme keratinase trộn
Trang 20chung vào bột lông vũ trong thức ăn thú dạ dày đơn như là nguồn cung protein vàacid amin rẻ tiền (Đinh Văn Cải, 2000).
Vì bột lông vũ rẻ tiền nên người ta có thể đem pha với bột cá hoặc bột thịtxương Theo cách này khi kiểm tra bằng phương pháp hoá học thông thường, người
ta không nhận biết được có sự pha tạp (vì kiểm tra dựa trên lượng nitơ có trongmẫu) Nếu bị pha với bột lông vũ thì bột cá hoặc bột thịt giảm lượng, làm cho khẩuphần thiếu chất nhất là các acid amin Nếu như bột xương đem pha tạp với bột lông
vũ, thì dẫn đến tăng P Hậu quả là dư P Tuy là dư, nhưng sự dư thừa P ít có tác hạiđối với động vật ăn thịt và ăn tạp bởi vì nó đã thích ứng lâu đời, thận của chúng cókhả năng thải P ra ngoài dễ dàng Nhưng đối với động vật ăn cỏ, do TĂ của chúngluôn có dư Ca, Mg, K trong khi P thấp do đó khi cung dư P thì P này sẽ phản ứngvới Mg2+, Ca2+ tạo nên dạng muối phosphate không tan, tích luỹ trong thận gây nênsạn thận, kết hạt trong bọng đái có thể làm tắt nghẽn ống dẫn niệu
2.5.2.5 Đậu nành và khô dầu đậu nành
Hạt đậu nành có hàm lượng đạm cao (38%), nhiều béo (18%) nên trong chănnuôi ít sử dụng hạt nguyên mà thường dùng khô dầu đậu nành (đạm thô khoảng 43 -49%, rất giàu acid amin thiết yếu, đặc biệt là lysine) Dạng hạt chỉ được sử dụngtrong khẩu phần thú nhỏ, nhất là heo con tập ăn cần khẩu phần năng lượng và đạm
cao Tuy vậy, trong hạt đậu nành lại chứa nhiều loại độc tố: protease inhibitor (còn
gọi là anti-trypsin), lectin, phytoestrogen, saponin, goitrogen (chất gây bướu cổ).Protease inhibitor có tác dụng ức chế hoạt động của enzyme trypsin vàchymotrypsin của tuyến tụy, làm tuyến tụy triển dưỡng, từ đó dẫn đến mất cácprotein và các acid amin cần thiết
Bên cạnh đó, đậu nành sống có mùi hăng hăng, làm giảm độ ngon miệng, thúkhông thích ăn Hơn nữa, một số thí nghiệm cho thấy nếu cho thú ăn đậu nành sốngthì tăng trọng chỉ bằng 1/3 thú ăn đậu nành đã xử lý chín
Như đã biết, các anti-trypsin chỉ bị mất hoạt tính khi xử lý đậu nành ở nhiệt
độ 105oC trong khoảng 30 phút Nếu xử lý nhiệt quá mức, phản ứng Maillard sẽxuất hiện và do vậy làm mất giá trị tiêu hoá của acid amin Việc hết anti-trypsintrong sản phẩm sau xử lý được xem như đậu nành đã chín Vì trong hạt đậu nành
Trang 21sống có chứa phong phú enzyme urease (có tác dụng chuyển urea thành amoniac).
Do đó, để xác định đậu nành đã xử lý hết anti-trypsin, người ta dùng phản ứngQuick Test kiểm tra Urease Nguyên tắc là do urease và anti-trypsin đều bị khử ởcùng mức nhiệt độ như nhau nên nếu kiểm tra không phát hiện urea trong mẫu đậunành thì cũng đồng nghĩa với việc mẫu này không có anti- trypsin
Đậu nành có thể bị trộn lẫn với nhiều vỏ, hoặc bị trộn với cùi bắp nghiền nhỏhoặc có thể bị một số loại khô dầu khác lẫn vào Tuy nhiên vấn đề quan tâm nhấtkhi sử dụng KDĐN vẫn là anti-trypsin
2.5.2.6 Cám gạo
Cám gạo có hàm lượng béo cao, xơ thô cao Thường được sử dụng nhiềutrong thức ăn heo, bò NSP trong cám gạo làm thú dạ dày đơn không tiêu hoá đượccũng như lượng P trong cám gạo ở dạng phytin sẽ ức chế tiêu hoá các dưỡng chấtnhư protein, acid amin và các loại vi khoáng như kẽm
Cám gạo có thể bị pha lẫn với trấu nghiền mịn (màu của chúng khá giốngnhau), bột sò hoặc bột đá (dùng phản ứng kiểm tra carbonate), đôi khi lại thấy phatạp với bã khoai mì
2.5.2.7 Muối ăn
Muối ăn (NaCl) là nguồn thực liệu cung natri (Na) và clo (Cl) cho thú
Cùng với kali (K), Na và Cl có chức năng giữ cân bằng áp suất thẩm thấu vàcân bằng chất điện giải, ổn định pH của huyết tương và mô bào, tạo ra chênh lệchđiện thế ion để dẫn truyền xung động thần kinh trong các nơron thần kinh Sự hấpthu, phân giải 3 nguyên tố trên do hormone Corticoid của tuyến thượng thận điềukhiển
Khi cung cấp dư muối thì thú ăn thịt có khả năng chịu đựng sự dư thừa Na và
Cl tốt, nhưng heo và gia cầm thì không được Xét về nhu cầu lý thuyết thú chỉ cần0,3 - 0,5% NaCl Nhưng thực tế ở heo choai cung 1% muối, heo vỗ béo cung 1,5%,
bò sữa cung gần bằng 2% vẫn không có biểu hiện xấu Tuy nhiên, đối với gia cầm
vì không có tuyến mồ hôi, không có đường nước tiểu riêng nên việc bài trừ muối dưkhó khăn Do đó không nên cung cấp dư, khoảng 0,15 - 0,20 % là vừa
Trang 22Và nên cung cấp bổ sung muối trong các trường hợp thú tiêu chảy do ngộđộc mycotoxin, do vi khuẩn đường ruột tấn công; thú bị nhiễm một số bệnh nhưGumboro, siêu vi gây tiêu chảy; thú bị stress nhiệt, gây hô hấp nhanh, mệt mỏi; khi
có sự mất quân bình các chất điện giải (bổ sung kèm với NaHCO3, KHCO3, NaCl,KCl, đường glucose)
Nếu thiếu muối ăn trên gà có thể dẫn đến hiện tượng cắn mổ lẫn nhau Trêngia súc làm chậm lớn, giảm độ ngon miệng
2.5.2.8 Bột sò, bột đá vôi, bột vỏ trứng
Các nguyên liệu này sử dụng trong TĂCN như là nguồn cung chất khoángcalci cho thú Có khoảng 37 - 40% calci trong calci carbonate
Ảnh hưởng của TĂ bị pha tạp với bột sò, bột đá vôi hoặc bột vỏ trứng
- Bột cá thiếu đạm, cám gạo thiếu năng lượng so với nhu cầu của thú và TĂ
bị pha tạp này sẽ có mùi của tanh làm giảm độ ngon miệng
- Khi thức ăn có chứa calci carbonate vào ruột, dưới tác dụng của acid HCldịch vị thì phản ứng hoá học diễn ra như sau:
Nếu dư gốc carbonate trong cơ thể thì nhìn chung không có ảnh hưởng gìlớn, vì hầu hết đều được thải ra ngoài nếu dư
Động vật đơn vị nếu thiếu canxi thì sử dụng CaCO3 rất tốt Bò sữa dễ bị bạiliệt sau khi sinh, do đó trước khi sinh 2 - 3 tuần nên cung thêm CaCO3
2.5.2.9 Urea
Urea có công thức hoá học là CO(NH2)2, còn gọi là carbamid
Người ta sử dụng urea làm phân bón và làm nguồn thức ăn cung đạm cho thúnhai lại Khi bò (nhai lại) ăn vào, carbamid tan ra có hiện tượng thu nhiệt gây cảmgiác lạnh cho thú, vì vậy mà làm giảm độ ngon miệng Khi trộn quá nhiều urea vượt
Trang 23quá nhu cầu của vi sinh vật để tổng hợp ra acid amin thì lượng dư thừa carbamiddưới tác dụng của enzyme urease dạ cỏ bị phân huỷ sinh ra CO2 và NH3 gây nhiềuđộc hại cho thú Vì vậy người ta đề ra một số nguyên tắc khi sử dụng carbamid vẫnđảm bảo an toàn cho thú như không sử dụng quá liều qui định, không nên đưa ureavào khẩu phần có nhiều protein dễ tan, phải trộn đều, dùng ở dạng phân giảichậm…
Đối với TĂ của heo và gia cầm, urea chỉ được xem như là một loại tạp chấtlẫn trong NLTĂ hoặc người ta dùng nó để pha vào bột cá Dùng phản ứng kiểm traurea của Quick Test để kiểm tra điều này
Trang 24Phần III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN
3.1.1 Thời gian
- Từ 20-03-2005 đến 30-03-2005: chuẩn bị và pha chế hoá chất thí nghiệm
- Từ 01-04-2005 đến 17-06-2005: thu thập mẫu nguyên liệu thức ăn và tiếnhành các phản ứng kiểm tra nhanh
- Từ 20-06-2005 đến 30-08-2005: viết và sửa chữa luận văn
3.1.2 Địa điểm
Các thí nghiệm được tiến hành tại phòng phân tích dinh dưỡng thuộc bộ mônDinh Dưỡng, khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ ChíMinh
3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
Lĩnh vực kiểm tra Quick Test gồm nhiều chỉ tiêu kiểm tra, chúng tôi chỉ tậptrung vào các kiểm tra mà các ứng dụng của chúng là để kiểm tra các tạp chất khôngmong muốn hiện diện trong nguyên liệu thức ăn vì trên thị trường nguyên liệu thức
ăn chăn nuôi đang bị pha tạp nghiêm trọng
Tiến hành kiểm tra nhanh 7 phản ứng dựa theo tài liệu “Manual of Feed
Microscopy and Quality Control” của Jowaman Khajarern và DuangsmornSinchermsiri (1987) của trường Đại Học Khon Kaen, Thái Lan và tài liệu “Manual
of Microscopical Analysis of Feedstuffs” của The American Association of FeedMicroscopists (1978)
3.2.1 Kiểm tra định tính
3.2.1.1 Phản ứng kiểm tra Nitrate
+ Cách làm mẫu kiểm tra Nitrate:
Chọn mẫu là rau củ, lấy đều các phần của mẫu, nghiền nhỏ (ví dụ, mẫu dưaleo chúng tôi làm chia làm 3 phần đầu, phần cuống, phần giữa rồi mỗi phần lấy một
ít, sau đó nghiền nhỏ, mẫu nào ít nước thì nhỏ thêm vào vài giọt nước cất, sau đótrộn đều, rồi dùng giấy lọc thấm ướt dung dịch này, sau đó lấy miếng giấy lọc chokiểm tra Nitrate)