Dựa vào trụ cột thể chế Phân tích hiểu quả của quy định cấm bán hàng rong tại Hà Nội MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1 Thực trạng hoạt động bán hàng rong 2 1 1 Hoạt động bán hàng rong trên thế giới và các chính sách 2 1 2 Hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam 5 1 3 Chính sách “hạn chế bán hàng rong” ở Việt Nam 8 2 Lý thuyết về thể chế 10 2 1 Thế nào là thể chế? 10 2 2 Các trụ cột của thể chế 10 3 Phân tích tính hiệu quả của chính sách dựa trên góc độ thể chế 13 3 1 Trụ cột về mặt kiểm soát 13 3 2 Trụ cột về mặt.
Trang 1Dựa vào trụ cột thể chế: Phân tích hiểu quả của quy định cấm bán hàng rong tại Hà Nội
MỤC LỤC
1.1 Hoạt động bán hàng rong trên thế giới và các chính sách 2
1.3 Chính sách “hạn chế bán hàng rong” ở Việt Nam 8
4.2 Tác động của chính sách đối với nền kinh tế quốc dân 20
Trang 21 Thực trạng hoạt động bán hàng rong
Bán hàng rong không phải là một hoạt động kinh doanh mới mẻ và xa lạ vớicác quốc gia trên thế giới, thậm chí bán hàng rong còn được coi như là một nét vănhóa lâu đời tại một số khu vực như Thái Lan, Việt Nam, Singapore, Ấn Độ…Nghiên cứu hoạt động bán hàng rong, sẽ là thiếu sót nếu không nhìn nhận hoạtđộng bán hàng rong trên góc độ của các thành phố ở các quốc gia khác nhau từ đó
có cái nhìn toàn cảnh hơn về thực trạng phát triển của loại hình kinh doanh này
Nền kinh tế phi chính thức từ lâu đã trở thành bộ phận cấu thành quan trọng
và tất yếu vận hành song song với nền kinh tế chính thức của hầu như tất cả cácquốc gia trên thế giới
Theo ước tính của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), kinh tế phichính thức đóng góp trung bình từ 1-20% GDP/mỗi quốc gia Quan trọng và cầnthiết như vậy, thế nhưng, bản thân nền kinh tế này lại rất “mong manh” bởi cáchoạt động của nó ở nhiều nơi hầu như không được công nhận và vì vậy, thiếu sựbảo vệ, không có các quy định hướng dẫn và thường bị gắn nhãn “gây mất trật tự
xã hội”, nhất là buôn bán hàng rong
Theo thống kê thì có hơn 2 tỷ người trên thế giới - chiếm hơn ½ tổng sốngười lao động trên toàn cầu - hiện đang mưu sinh bằng những nghề thuộc khốikinh tế phi chính thức này, đặc biệt là ở các nước đang phát triển với sự tham giacủa những người nghèo, phụ nữ và cả trẻ em
1.1 Hoạt động bán hàng rong trên thế giới và các chính sách
Ấn Độ
Trong số các quốc gia châu Á thì Ấn Độ là một nước có nhiều điểm tươngđồng với Việt Nam Cùng là những quốc gia đang phát triển với nền văn hóa phongphú, Ấn Độ cũng đang phát triển mạnh mẽ với những cải cách lớn về cả kinh tế và
xã hội Cũng giống như tại Việt Nam, hoạt động bán hàng rong đã hình thành khá
Trang 3lâu tại Ấn Độ Số lượng người bán hàng rong chiếm tới 2% dân số và thu nhập của
họ đóng góp không nhỏ vào GDP của hàng năm của nước này
Tại Ấn Độ, hàng triệu người bán hàng rong tập trung tại các thành phố lớn.Phần lớn trong số họ là những người nghèo đến từ các vùng nông thôn Người bánhàng rong đã góp phần đáng kể vào phát triển nền kinh tế các đô thị Ấn Độ, cũng
vì vậy mà hơn một nửa số người dân đô thị phụ thuộc vào họ
Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực của nó thì vấn đề bán hàng rong tại Ấn
Độ cũng tồn tại nhiều điểm bất cập Hiện tượng bán hàng không có tổ chức, trànlan, gây mất trật tự là điều không hề hiếm thấy Tệ nạn xã hội và những vấn đề đạođức phát sinh Điều đó yêu cầu có sự can thiệp của nhà nước Tuy nhiên, một mặtnhững người bán hàng rong phải tự thu xếp địa điểm, một mặt, họ đưa hối lộ chonhững cán bộ hay cảnh sát tham nhũng Điều này càng làm cho quản lý của Nhànước mất hiệu quả và trở nên khó khăn hơn
Những giải pháp mà các nhà quản lý đưa ra đầu tiên đó là cung cấp giấyphép bán hàng cho những người bán hàng rong và tất cả hoạt động của người bánhàng rong đều nằm trong quản lý của chính quyền Quy định về vấn đề này, cácđiều luật cụ thể đã được ban hành như Chính sách quốc gia về bán hàng rong tạikhu vực đô thị tại Hindu năm 2004, Chính sách quốc gia về bán hàng rong tại khuvực đô thị năm 2004, Chính sách quốc gia về bán hàng rong tại khu vực đô thị năm
2009 Những hội nghị thường niên, những cuộc họp của ủy ban các cấp thườngxuyên được tổ chức để bảo vệ quyền lợi cũng như đưa ra những giải pháp hợp lýnhất nhằm bảo vệ và quản lý những người bán hàng rong
Trang 4Nhằm giải quyết tình trạng người bán hàng rong chiếm lĩnh khắp các đườngphố, thay vì loại bỏ loại hình kinh doanh này, từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20,Singapore đã có kế hoạch điều chỉnh hệ thống quản lý hàng rong Một trong nhữnggiải pháp được chính phủ Singapore đưa ra là thực hiện chương trình xây dựng cáckhu trung tâm mua bán thực phẩm, chợ… để đưa người bán hàng rong vào buônbán Singapore được biết tới là quốc gia duy nhất trên thế giới nơi mà những ngườibán hàng rong được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh Singapore quản lý hoạtđộng bán hàng rong hiệu quả khi đã tạo ra được nhiều việc làm thay thế cho nhữngngười bán hàng rong Đồng thời thực hiện chế độ quản lý nghiêm, áp dùng hìnhphạt hành chính đối với những hành vi vi phạm luật kinh doanh, lấn chiếm lềđường hoặc không có giấy phép đăng ký kinh doanh.
Vào tháng 3/2019, Singapore bắt đầu trình lên UNESCO văn hóa bán hàngrong Văn hóa này bao gồm các trung tâm bán hàng rong như không gian ăn uốngcộng đồng, kỹ năng nấu nướng của người bán hàng rong Vào ngày 16/12/2020 cơquan văn hóa của Liên Hợp Quốc đã thông báo rằng họ đã thêm “hawker culture”(văn hóa hàng rong)” của đảo quốc sư tử vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thểcủa nhân loại gần hai năm sau khi Singapore nộp hồ sơ dự thầu để được đưa vàodanh sách
Hàn Quốc
Chính phủ Hàn Quốc đã từng tỏ ra không khôn ngoan trong quản lý hoạtđộng bán hàng rong Những người bán hàng rong và vô gia cư liên tục bị tấn công.Chính phủ Hàn Quốc thậm chí đã từng thuê các tổ chức gangster để xua đuổinhững nhóm người này Khủng hoảng kinh tế Hàn Quốc năm 1998 kéo theo hàngloạt cuộc tái cơ cấu, một bộ phận lớn công nhân mất việc làm và phải rời tới khuvực kinh doanh bất hợp pháp để kiếm sống Hiện nay, việc bán hàng rong cũngphải có giấy phép hoạt động theo quy định Thành phố Seoul cũng có những khuvực dành riêng cho hoạt động bán hàng rong
Trang 5Trung Quốc
Năm 2020, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã tuyên bố một số kếhoạch phát triển kinh tế đất nước, bao gồm cả mục tiêu lớn là tạo ra 9 triệu việclàm mới bên cạnh nỗ lực giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5.5% Một trong nhữngđiểm khiến nhiều nhà quan sát kinh tế ngạc nhiên, đó là ông đã nhấn mạnh đến mộtnhóm thành phần kinh tế tưởng như bị xem nhẹ lâu nay: những người bán hàngrong
Vậy là sau hàng thập niên quyết tâm lập lại trật tự đường phố, trong đó có cảviệc “quét sạch” nạn buôn bán hàng rong, giờ đây, chính quyền Trung Quốc đãnhìn nhận những gánh hàng rong như là “một nguồn lực mới góp phần phát triểnkinh tế và tạo công ăn việc làm cho người dân Trung Quốc”
1.2 Hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam
1.2.1 Cơ sở hình thành nên hoạt động bán hàng rong ở Việt Nam
1.2.1.1 Dựa trên yếu tố cung
Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Minh giải thích trong một bài nghiên cứu được tiếnhành tại Hà Nội từ năm 2012-2015 đã chỉ ra một số nguyên nhân mà các cá nhânquyết định tham gia vào hoạt động buôn bán hàng rong:
Thứ nhất, liên quan đến tính truyền thống Hàng rong có từ lâu đời, tồn tại từthời phong kiến Hiện nay vẫn tồn tại một số làng nghề chuyên đi bán hàng rong ở
Hà Nội, và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Họ đều có truyền thống từ xưa
Thứ hai là do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ Tình trạng mất đất nông nghiệphoặc năng suất nông nghiệp thấp hiện nay đã thúc đẩy nông dân tìm kiếm việc làmvới, hoặc tìm kiếm việc làm để cải thiện thu nhập Và với khả năng của họ, phầnlớn họ tham gia và khu vực kinh tế phi chính thức, trong đó có hàng rong
Yếu tố tiếp theo là do suy thoái kinh tế, cụ thể là do sự suy thoái kinh tế năm
2008 hoặc thời điểm thị trường bất động sản đóng băng cũng khiến nhiều ngườimất việc làm và gia nhập hoạt động bán hàng rong
Trang 61.2.1.2 Dựa trên yếu tố cung
Ngoài yếu tố cung kể trên, còn phải nhắc đến yếu tố về mặt cầu
Nhu cầu hàng hoá giá rẻ, đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp ở đôthị và những lao động di cư đến Hà Nội làm những công việc, tạm gọi là tay chânnặng nhọc, thì hàng rong với giá rẻ đáp ứng được khả năng về tài chính của họ
Ngoài ra, nhu cầu về sự thuận tiện trong mua bán, nhất là trong bối cảnh áplực về thời gian, về giao thông như hiện nay ở Hà Nội Thay vì phải vào siêu thị,vào chợ mua một ít hành, một mớ rau, người ta có thể mua ngay gần nhà họ, ở chợcóc, ở người buôn bán rong
Ngoài ra, ở Hà Nội có một đặc điểm là sử dụng phương tiện cá nhân trong dichuyển rất phổ biến Điều này cũng góp phần tạo ra nhu cầu tiêu thụ sản phẩmrong Chúng ta dễ dàng bắt gặp người mua hàng, họ vẫn ngồi trên xe máy hoặc trên
xe đạp, chỉ cần chống chân xuống đất là có thể mua hàng của những người buônbán rong ngay ở dưới lòng đường
Thêm một ý nữa là nhu cầu tiêu dùng sản phẩm tươi sống Khác với ngườiphương Tây, như ở Pháp chẳng hạn, người ta đi chợ một tuần một lần hoặc vài bangày một lần Nhưng ở Việt Nam, có lẽ một phần do người dân muốn ăn sản phẩmtươi sống nên đi chợ hàng ngày, thậm chí nhiều lần trong một ngày Vì thế, hàngrong và chợ cóc, chợ truyền thống trong trường hợp này có ưu thế hơn hẳn so vớicác siêu thị hay là trung tâm thương mại
Một đặc điểm khác nữa là nhu cầu ăn quà vặt trên đường phố cũng tạo điềukiện cho hàng rong phát triển Chẳng hạn buổi chiều đi làm về ăn một cốc chè,hoặc buổi trưa làm một cốc tào phớ cho mát mẻ
1.2.2 Đặc điểm hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một nước nông nghiệp lúa nước, ngườidân có truyền thống cần cù, chăm chỉ làm lụng Trong quá trình phát triển, đô thịmọc lên đối lập với nông thôn nhưng với tập quán tiểu nông lâu đời thì ngày nay
Trang 7những đô thị luôn mang theo mình những tập quán tiểu nông của đại bộ phận dân
cư, và có những tập quán cố hữu ăn sâu vào tiềm thức người dân không dễ gì từ bỏ,hàng rong đã trở thành một đặc thù của hầu hết các đô thị Việt Nam Những gánhhàng rong là hình ảnh đậm nét về Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế và cả nhữngngười Việt xa quê
Hàng rong đơn giản chỉ là phục vụ những nhu cầu của người dân về sự ngon
bổ rẻ, tiện lợi, bởi bánh trái thì nhà làm, và có thể mua được ở bất kỳ đâu Nét độcđáo ấy đã góp phần tạo nên sức hút đối với du khách
Ẩm thực đường phố Việt Nam đã nổi tiếng ra thế giới Điều này thực sự gópphần vào sự phát triển của ngành du lịch Hai món ăn đường phố phổ biến ở ViệtNam là phở và bánh mì đã được đưa vào từ điển tiếng Anh - Oxford EnglishDictionary Năm 2012, tạp chí ẩm thực thế giới “Food and Wine” đã bình chọnthành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố có món ăn đường phố ngonhàng đầu thế giới
Tuy nhiên, những gánh hàng rong bây giờ là một trong những nguyên nhângây nên tắc đường, tai nạn, va quệt, làm xấu đi nét thẩm mỹ của thành phố Hàngrong tràn ngập trên phố, trong mọi ngóc ngách Thật dễ để thấy trên một vỉa hè,đây là gánh hàng bún đậu mắm tôm, kia là gánh hàng khoai lang luộc, bên cạnh làhàng ngô luộc, cháo nóng
Hà Nội ngày nay luôn có mặt những đội quân "hai sọt, một xe" đi nghênhngang trên đường, rong bán quần áo, giày dép, hoa quả Những điều đó khiến HàNội bây giờ như nơi quy tụ của mọi thứ hàng hoá, mọi thứ nghề và biến Hà Nộithành cái chợ tạp nham không người quản lý
Không chỉ gây nên tình trạng lộn xộn trên các nẻo đường, một bộ phậnnhững người bán hàng rong đang làm xấu đi hình ảnh của thành phố bởi nạn chèokéo khách du lịch Ấn tượng về sự độc đáo từ những gánh hàng rong của khách du
Trang 8lịch nước ngoài sẽ không còn khi họ bị quấy rầy, ép mua hàng Đây thật sự là điềukhông mong muốn ở một thành phố văn minh.
Vậy việc quản lý của nhà nước đối với việc bán hàng rong như thế nào? Vàvấn đề của nhà nước hiện nay có nên cho hoạt động bán hàng rong tiếp tục tồn tạihay nên dẹp bỏ hoàn toàn? Nhưng để trả lời chính xác cho câu hỏi này thì chúng tanên cân nhắc, xem xét kỹ và thấy được những mặt tồn tại của vấn đề hiện nay, đểđưa ra các biện pháp đúng đắn nhất giải quyết vấn đề này
1.3 Chính sách “hạn chế bán hàng rong” ở Việt Nam
Hoạt động bán hàng rong càng phát triển thì những vấn đề liên quan đến cácmặt kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát sinh Trước ngày 16/3/2007, khichưa có quy định của chính phủ, bán hàng rong còn chưa được công nhận là mộthoạt động thương mại Nghị định 39/2007/NĐ-CP của Chính phủ ra đời, quy định
về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng
ký kinh doanh Theo đó, bán hàng rong đã được xem xét như một loại hình kinhdoanh mà những người bán hàng rong không phải đăng ký kinh doanh nhưng vẫnchịu quản lý ở các cấp xã, phường
Người bán hàng rong bị cấm kinh doanh ở các khu vực thuộc các di tích lịch
sử, văn hóa đã được xếp hạng, các danh lam thắng cảnh khác; khu vực các cơ quannhà nước, cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế; cảng hàng không, sân ga, bếntàu, bến xe, bến phà, bến đò và trên các phương tiện vận chuyển; trường học, bệnhviện; khu vực tạm dừng, đỗ của phương tiện giao thông đang tham gia giao thông,trừ các khu vực, tuyến đường, phần vỉa hè đường bộ, ngõ hẻm được cơ quan cóthẩm quyền quy hoạch hoặc cho phép sử dụng tạm thời để thực hiện các hoạt độngmua bán hàng rong…
Theo đó, người bán hàng rong chỉ được bán hàng ở các khu vực, tuyếnđường, phần vỉa hè đường bộ, ngõ hẻm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyhoạch hoặc cho phép sử dụng tạm thời
Trang 9Thành phố cũng nghiêm cấm người bán hàng rong chiếm dụng trái phép, tự
ý xây dựng, lắp đặt cơ sở, thiết bị, dụng cụ thực hiện các hoạt động mua bán hànghóa và trưng bày hàng hóa ở bất kỳ địa điểm nào trên đường giao thông và nơicông cộng; lối ra vào, lối thoát hiểm hoặc bất kỳ khu vực nào làm cản trở giaothông, gây bất tiện cho cộng đồng và làm mất mỹ quan chung
Người bán hàng rong phải di chuyển hàng hóa, phương tiện, thiết bị, dụng
cụ thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để tránh làm cản trở hoặc tắc nghẽn giao thông trong trường hợpkhẩn cấp hoặc vì lý do an ninh hoặc ảnh hưởng các hoạt động xã hội khác theo quyđịnh của pháp luật
Theo Nghị định này, UBND xã, phường, thị trấn lập sổ theo dõi hoạt độngthương mại và việc tuân thủ pháp luật của những người bán rong, buôn bán vặt,buôn chuyến, kinh doanh lưu động tại địa phương và từ nơi khác thường xuyên luiđến địa bàn Đồng thời, các cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm thông báo với các cánhân về các khu vực được phép buôn bán, thực hiện quy định về thuế và lệ phíhoạt động thương mại, báo cáo về việc quản lý các cá nhân hoạt động thương mạitrên địa bàn
Riêng với thành phố Hà Nội, UBND thành phố đã ban hành Quy định số46/2009/QĐ-UBND “Quy định về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bànthành phố Hà Nội”, thay thế Quyết định 02/2008/QĐ UBND ngày 09/01/2008 của
Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành “Quy định về quản lý hoạt động bán hàngrong trên địa bàn Thành phố Hà Nội" Đây là quy định riêng áp dụng cho thànhphố Hà Nội - nơi tập trung rất nhiều người bán hàng rong Nghị định cũng đã quyđịnh chi tiết về hàng hóa, dịch vụ được phép kinh doanh, phạm vi và địa điểm kinhdoanh của cá nhân hoạt động thương mại Bên cạnh đó, nghị định cũng yêu cầubảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh, an toàn trong hoạt động của cá nhân hoạt độngthương mại, trách nhiệm cụ thể của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, các Bộ,
Trang 10ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong quản lý nhà nước đối với cá nhân hoạtđộng thương mại cũng như phạm vi xử phạt cụ thể.
2 Lý thuyết về thể chế
2.1 Thế nào là thể chế?
Thể chế là những quy tắc tương tác của con người, ràng buộc cách ứng xửkhả dĩ cơ hội chủ nghĩa và thất thường của cá nhân, qua đó khiến cho hành vi conngười trở nên dễ tiên đoán hơn và tạo điều kiện cho sự phân công lao động cùnghoạt động tạo ra của cải vật chất
2.2 Các trụ cột của thể chế
2.2.1 Trụ cột về mặt kiểm soát
Trụ cột về mặt kiểm soát bao gồm một số quy trình điều chỉnh dưới hìnhthức quy tắc, giám sát và xử phạt các hoạt động vi phạm, nhằm gây ảnh hưởng đếnhành vi trong tương lai của các cá nhân, tổ chức (Scott, 2008) Vì vậy, các quytrình quản lý này liên quan đến việc thiết lập và thiết lập các quy tắc, tuân thủ sựphù hợp, và đưa ra các hình thức xử phạt hành vi hoặc thông qua khen thưởng hoặctrừng phạt Trụ cột này sử dụng các biện pháp xử phạt hợp pháp làm cơ sở cho tínhhợp pháp, dựa trên logic công cụ
Trong trụ cột kiểm soát, thể chế thể hiện rõ vai trò điều tiết trong hạn chế vàkhuyến khích hành vi thông qua các hoạt động điều chỉnh, giám sát, và các xử phạt
rõ ràng Quá trình điều chỉnh hoạt động dựa trên các cơ chế áp dụng chung hoặcchính thức hóa và chỉ định cho các đối tượng cụ thể Các nghiên cứu gần đây vềkinh tế nhấn mạnh đến chi phí điều tiết
Theo North (1990), sức mạnh bắt buộc, tính răn đe và tính thiết thực lànhững yếu tố trung tâm của trụ cột điều chỉnh Các yếu tố này được đảm bảo thựchiện bởi các quy tắc hợp lý (chính thức hoặc không chính thức) và luật pháp chínhthức Trong một số trường hợp, các chủ thể phải thừa nhận hệ thống quy tắc màkhông nhất thiết phải tin rằng các quy tắc này là công bằng hoặc hợp lý North
Trang 11(1990) cũng đặc biệt chú ý đến các vấn đề có thể xảy như “việc thực thi được thực hiện bởi các đại lý có chức năng hữu ích tác động đến kết quả”, nghĩa là các bên
thứ ba không trung lập Theo cách này và các cách khác, sự chú ý đến các khíacạnh điều tiết của các thể chế tạo ra sự quan tâm mới trong vai trò của nhà nước: làngười ra quy tắc, giám sát thực hiện, và người thi hành
Theo North (1990), trụ cột kiểm soát là hình thức phổ biến nhất Quan điểmnày phù hợp với hiện thực xã hội khách quan, đồng thời đảm bảo tuyệt đối tính hợp
lý Theo đó trong trụ cột kiểm soát, các cá nhân được thúc đẩy hoạt động, quyếtđịnh theo logic hiệu quả, đem lại lợi ích cao Thông qua các định mức thưởng,phạt, nhà nước tác động tới hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong tương lainhằm đảm bảo sự phát triển chung của xã hội
2.2.2 Trụ cột về mặt nhận thức
Trụ cột nhận thức (cognitive pillar) đề cập đến các khuôn khổ nhận thứcchính xác tác động tới hoạt động của cá nhân trên thực tế (Scott, 2008) Trong đó,tính chính xác bắt nguồn từ các tập tục, truyền thống văn hóa chính thống Các môhình hợp pháp về văn hóa phần lớn được bắt chước, hiểu và thực hiện trong khuônkhổ của thay đổi đồng hình bắt chước Phạm vi nhận thức văn hoá của các thể chế
là đặc điểm phân biệt chính yếu của chủ nghĩa thể chế mới (neo-institutionalism)trong xã hội học và nghiên cứu tổ chức
Để hiểu hoặc giải thích bất kỳ hành động nào, nhà phân tích không nhữngphải xem xét đến các điều kiện khách quan mà còn là nhận thức chủ quan của các
cá nhân Các quy tắc cấu thành có vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình thểchế hóa tổ chức Các quy tắc này liên quan đến khả năng xây dựng các tiêu chuẩn
trong các quá trình là “những trải nghiệm độc đáo và cụ thể… đảm bảo cả ý nghĩa thực tế và khách quan” (Berger và Luckmann, 1967,) Các quy trình như vậy được
áp dụng cho các ý tưởng, sự kiện, và các yếu tố nhận thức Khi các quy tắc được
Trang 12thành lập và công nhận, lúc này, hành vi cá nhân thường là sự phản ánh nhận thức
ra các hành động cụ thể bên ngoài
Quan điểm trụ cột nhận thức nhấn mạnh đến khả năng gắn kết của các cánhân và tập thể trong đời sống xã hội Thay vì theo quan điểm doanh nghiệp là mộtphần của trật tự tự nhiên, các nhà lý luận nhấn mạnh đến trụ trụ cột nhận thức vềnguồn gốc, khả năng duy trì và khả năng giải thích các vấn đề giữa các chủ thểtrong các hoạt động xã hội Quan điểm này của các nhà lý luận có tính quy chuẩn,mang tính định hướng, hướng dẫn tiêu chuẩn hành động nhận thức, đồng thời nhấnmạnh tầm quan trọng của bản sắc xã hội trong nhận thức hành vi của mỗi cá nhân.Theo đó, Meyer và Rowan (1977) và DiMaggio và Powell (1983) nhấn mạnh khảnăng tác động của hệ thống tín ngưỡng và bối cảnh văn hoá tới nhận thức của các
cá nhân và doanh nghiệp Các doanh nghiệp cố gắng thay đổi để đạt được cấu trúcđồng hình với mô hình văn hoá hiện tại thông qua cơ chế nhận thức
Các tiêu chí đánh giá của trụ cột sẽ dựa trên các cơ sở: sự đương nhiên (cơ
sở tuân thủ); bắt chước (cơ chế); tính chính thống (logic); sự phổ biến, sự đồngdạng (chỉ số); sự ủng hộ từ văn hóa, chuẩn xác về văn hóa (cơ sở cho sự chấpnhận)
2.2.3 Trụ cột về mặt chuẩn mực
Theo lý thuyết, trụ cột về mặt chuẩn mực được đánh giá dựa trên tiêu chítổng hợp trong đó có 5 tiêu chí đặc trưng là: trách nhiệm xã hội (cơ chế tuân thủ);chuẩn mực (cơ chế); sự phù hợp (logic); đánh giá, kiểm định (chỉ số) và điều chỉnhtheo chuẩn mực đạo mức (cơ sở cho sự chấp nhận)
Trụ cột về mặt chuẩn mực (normative pillar) “tạo ra những kỳ vọng theo chiều hướng nhất định, đồng thời đưa ra những giới hạn và bắt buộc thực hiện trong đời sống xã hội” (Scott, 2003) Tính hợp pháp của các trụ cột này được hình
thành được dựa trên các chuẩn mực xã hội Các doanh nghiệp tuân thủ các quy tắcđạo đức có tính quy phạm hoặc phù hợp với các tiêu chuẩn, quy định do các ngành
Trang 13thương mại, các tổ chức nghề nghiệp và các trường đại học xây dựng Các trụ cộtquy chuẩn cho phép doanh nghiệp nghiên cứu các động lực thay đổi, hành động xãhội; các vấn đề chính sách; vấn đề quyền lực và xung đột.
Trong trụ cột về mặt chuẩn mực, các hệ thống tiêu chuẩn bao gồm cả các giátrị (values) và quy tắc (norms) Trong đó, giá trị là các kết quả mong, quy tắc là cácđịnh hướng thực hiện hoạt động và các hệ thống tiêu chuẩn là căn cứ xác định cácmục tiêu (ví dụ như chiến thắng trò chơi hoặc kiếm được lợi nhuận) Bên cạnh đó,các trụ cột cũng chỉ ra các phương pháp hành động thích hợp, cho phép doanhnghiệp đạt được mục tiêu đề ra (ví dụ, khái niệm về thực tiễn kinh doanh côngbằng)
Trong hình thức này, một số giá trị và quy tắc có thể áp dụng cho tất cả cácthành viên hoặc chỉ áp dụng cho từng cá nhân và trường hợp cụ thể Các giá trị vàquy tắc chuyên biệt như vậy được coi là các vai trò (roles) của doanh nghiệp.Berger và Luckmann (1967) nhấn mạnh vai trò trung tâm của các doanh nghiệp
như sau: “Tất cả các hành vi được thể chế hóa đều có vai trò Như vậy vai trò chia
sẻ trong quy chế phân công nhiệm vụ Ngay khi các cá nhân được coi là người thực hiện vai trò, hành vi của họ có thể bị cưỡng chế thi hành”
Trụ cột về mặt chuẩn mực nhấn mạnh đến mức độ ảnh hưởng của các tínngưỡng và các chuẩn mực xã hội tới quá trình thể chế hóa Đối với các nhà lý luậnthế hệ đầu như Parsons, các quy tắc và giá trị là nền tảng phát triển Tuy nhiên,những người theo chế độ sau này lại nhấn mạnh đến những ảnh hưởng của hệthống quy tắc văn hoá tới sự ổn định của xã hội
3 Phân tích tính hiệu quả của chính sách dựa trên góc độ thể chế
3.1 Trụ cột về mặt kiểm soát
Về cơ sở tuân thủ, xem xét dựa trên cơ sở lợi ích và chi phí của việc tuân thủquy định cấm bán hàng rong ta nhận thấy rằng dù có thể cải thiện tình trạng lấn
Trang 14chiếm vỉa hè, đường phố nhưng quy định này lại để lại nhiều bất cập cho người laođộng
Hiện tại, lượng người bán hàng rong khá nhiều, nếu cấm đoán là không đơngiản Trước hết, khi cấm bán hàng rong thì những người bán và gia đình họ sẽ tiếptục sống ra sao? Chính quyền có khả năng giải quyết cuộc sống cho họ không khi
họ mất đi công việc đang gắn bó trong suốt khoảng thời gian dài? Chắc là không,bởi khi đó có quá nhiều thứ tác động tới cần phải giải quyết Tiếp đến, bán hàngrong cũng là một trong các kênh bán hàng, đóng góp không ít cho nền kinh tế và xãhội Bán hàng rong giúp tiêu thụ được hàng hóa, tạo công ăn việc làm và thuận tiệncho người tiêu dùng ở đường lớn cũng như hẻm nhỏ Thiếu hàng rong, các chợ đầumối chắc chắn sẽ ngưng trệ Thiếu hàng rong, nền nông nghiệp, thậm chí cả nềntiểu thủ công nghiệp theo mô hình hộ gia đình nhỏ lẻ, sẽ gặp khó khăn
Những người bán hàng rong là một phần năng động của đời sống ở nhiềuthành phố tại Việt Nam Nhưng họ cũng thường bị lên án vì lấn chiếm vỉa hè, lối đichung gây ùn tắc giao thông, bất tiện cho di chuyển; hay thói quen xả rác thải bừabãi, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng mỹ quan đường phố; làm cản trở quyhoạch đô thị Chính vì vậy, chính sách hạn chế bán hàng rong phần nào được kỳvọng giúp hạn chế tác động không tốt tới môi trường và xã hội mà việc bán hàngrong mang lại
Từ phân tích cho thấy rằng, xét trên cơ sở lợi ích và chi phí của việc cấmbán hàng rong, sự thiệt nhiều hơn là có lợi nhất là về phía người lao động và nềnkinh tế
Quyết định số 46/2009/QĐ-UBND quy định về quản lý hoạt động bán hàngrong trên địa bàn thành phố Hà Nội đã chỉ rõ trách nhiệm của các đối tượng liênquan đến hoạt động bán hàng rong: Trách nhiệm và nghĩa vụ của người người bánrong và trách nhiệm của các cơ quan chức năng đối với hoạt động bán hàng rong(Sở, Ban, Ngành TP, UBND TP, Phường, Xã, Thị trấn, ) Và trong chương IV: xử