TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN BÀI TẬP LỚN THỂ CHẾ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỀ BÀI “Chất lượng thể chế và một số cách đo lường chất lượng thể chế, liên hệ tới một quốc gia, hoặc một số quốc gia ” Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Văn Đại Thành viên nhóm Nguyễn Thị Thảo Vân – 11195733 (L) Đào Thị Cẩm Chi – 11190794 Trần Cẩm Chi 11190869 Nguyễn Thị Thảo – 11194815 Phạm Nhật Ánh 11190673 Hà Nội, tháng 4 năm 2022 MỤC LỤC A LỜI MỞ ĐẦU 3 B NỘI DUNG 4 I Khái quát chung về chất lượng.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP LỚN THỂ CHẾ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
ĐỀ BÀI: “Chất lượng thể chế và một số cách đo lường chất lượng thể chế, liên hệ tới
một quốc gia, hoặc một số quốc gia.”
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Đại
Thành viên nhóm: Nguyễn Thị Thảo Vân – 11195733 (L)
Đào Thị Cẩm Chi – 11190794 Trần Cẩm Chi - 11190869 Nguyễn Thị Thảo – 11194815
Phạm Nhật Ánh - 11190673
Trang 2Hà Nội, tháng 4 năm 2022
MỤC LỤC
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
“Tại sao một quốc gia quá giàu trong khi một số khác lại quá nghèo?” Câu hỏi này đượcAdam Smith đặt ra ngay tựa đề của tác phẩm “An Inquiry into the Nature and Causes ofthe Wealth of Nations” vào năm 1776 Thể chế kinh tế khác nhau là một trong nhữngnguyên nhân giúp giải thích câu hỏi đó
Thể chế là một khái niệm rộng, được định nghĩa bao quát, đôi khi hơi mơ hồ TheoDouglas North(1990)- người tiên phong trong việc đưa ra khái niệm về thể chế rõ ràng và
cụ thể, theo đó thể chế là luật lệ của trò chơi trong xã hội, hay nói cách khác nó là cácràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác giữa người và người Nhưvậy, thể chế là những quy tắc tương tác của con người, ràng buộc cách ứng xử khả dĩ cơhội chủ nghĩa và thất thường của cá nhân, qua đó khiến cho hành vi con người trở nên dễtiên đoán hơn và tạo điều kiện cho sự phân công lao động cùng hoặt động tạo ra của cảivật chất
Xét trên nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, thể chế góp phần to lớn vào việc hìnhthành trật tự xã hội chung của một quốc gia, do đó việc phân tích các giá trị tác động, đolường mức độ tác động ảnh hưởng của một thể chế nhất định là việc cần thiết Việc phântích và đánh giá chất lượng của thể chế được coi là cần thiết không chỉ cho các nhà lãnhđạo của một địa phương mà còn quan trọng đối với một quốc gia và các chính trị gia giữacác nước với nhau Hiểu rõ và đánh giá đúng tác động của một thể chế cho phép nhà cầmquyền đưa ra những chính sách và xây dựng những khuôn khổ thể chế phù hợp nhằmphục vụ cho quá trình phát triển đất nước
Hàn Quốc là quốc gia nổi tiếng được nhiều người biết đến bởi tốc độ phát triển kinh tếthần kỳ từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành nước phát triển có thunhập cao chỉ qua vài thế hệ Có thể thấy, sự khác biệt chất lượng thể chế cuối cùng sẽ dẫnđến sự khác biệt về thành quả của phát triển Vậy nên, nhóm nghiên cứu đi sâu tìm hiểu
về: “Chất lượng thể chế và một số cách đo lường chất lượng thể chế, liên hệ tới quốc gia Hàn Quốc.”
Trang 41.2 Các yếu tố đo lường chất lượng thể chế
a Tham nhũng
Một thể chế kinh tế tốt là thể chế tạo ra các khuyến khích và hạn chế được các chi phígiao dịch cho các chủ thể kinh tế Một trong các chi phí đó là những chi phí phát sinh từviệc tham nhũng của viên chức có thẩm quyền Từ đó tác động đến năng lực cạnh tranhcủa các chủ thể kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia, ảnh hưởng đến việc pháttriển kinh doanh và gia tăng thu nhập cho người lao động Bên cạnh đó, tệ nạn thamnhũng cũng tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh, ảnh hưởng đến động lực kinh doanhcủa nhà đầu tư, đồng thời ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả nguồn tài nguyên quốcgia Nguồn tài nguyên quốc gia không được phân bổ cho những nhà đầu tư năng lực vàhiệu quả cho những dự án có lợi cho quốc kế dân sinh, mà nó được chuyển vào nhóm lợiích dựa trên sự tham nhũng của người có thẩm quyền Tham nhũng cũng gây ảnh hưởngxấu đối với nguồn thu ngân sách cũng như việc sử dụng nguồn thu cho các phúc lợi xãhội Do vậy, tham nhũng được xem là biến đo lường chất lượng của thể chế
b Chất lượng bộ máy hành chính
Chất lượng bộ máy hành chính được thể hiện thông qua hiệu quả hoạt động của bộ máytrong việc cung cấp các dịch vụ công Việc kém hiệu quả của bộ máy hành chính trongviệc cung cấp các dịch vụ công và cấp phép trong hoạt động kinh doanh làm gia tăng chiphí giao dịch cho doanh nghiệp Do vậy, dù các chính sách kinh tế có tốt nhưng cơ chếthực thi và chủ thể thực thi thiếu hiệu quả cũng tác động lên hiệu quả của chính sách, từ
Trang 5đó tác động xấu lên nền kinh tế Hay nói cách khác, hiệu quả của bộ máy hành chính làthước đo chất lượng của thể chế
c Tuân thủ pháp luật
Sự tuân thủ pháp luật được xem là yếu tố đo lường sự tương thích giữa các quy định củapháp luật (thể chế chính thức) với thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội Khi hệ thốngpháp luật và thực thi pháp luật tốt thì người dân sẽ sẵn sàng tuân theo các quy định đó.Nhưng khi pháp luật kém hoặc hệ thống thực thi kém tạo ra những rào cản cho sự pháttriển kinh tế thì người dân sẽ tìm đến cơ chế phi chính thức khác để giải phóng năng lựckinh tế của mình Điều này làm tăng chi phí giao dịch cho các chủ thể, kìm hãm tốc độphát triển kinh tế Do vậy, sự tuân thủ các quy định của pháp luật kinh tế cũng là yếu tố
đo lường chất lượng của thể chế kinh tế
d Bảo vệ quyền tài sản
Cạnh tranh là động lực của phát triển Mục đích cạnh tranh chỉ đạt được khi đảm bảoquyền tự do kinh doanh của chủ thể Sự tự do kinh doanh chỉ đạt được khi các chủ thểđược tôn trọng và bảo vệ các quyền sở hữu đối với chính tài sản của mình Sự trao đổitrên thị trường thực chất là quá trình chuyển giao quyền đối với tài sản của chủ thể kinhdoanh Do vậy, sự yếu kém của thể chế kinh tế trong việc đảm bảo quá trình tự do dịchchuyển các quyền tài sản là rào cản cản trở quá trình tự do hóa kinh tế Điều này, buộccác chủ thể tìm đến những cơ chế khác để giải phóng năng lực kinh tế của mình, làm tăngchi phí giao dịch cho họ, tạo dư địa cho tham nhũng, lách luật, ảnh hưởng đến môi trườngcạnh tranh Chính vì vậy, bảo vệ quyền tài sản là yếu tố quan trọng trong việc đo lườngchất lượng của thể chế kinh tế
1.3 Vai trò chất lượng thể chế
Việc đánh giá chất lượng thể chế có vai trò giúp lượng hoá cụ thể và mang tính so sánhđược giữa các quốc gia, tỉnh, thành phố về chất lượng của các thiết chế thực hiện được;Đưa ra nhìn nhận tổng quan chung về sự tác động và mối quan hệ đồng thời giữa cácnhóm thể chế, chính sách; Là một trong những cơ sở thực chứng cho các nhà lãnh đạ, nhàcầm quyền xây dựng, cải cách khung thể chế phù hợp
II Một số bộ tiêu chí đánh giá chất lượng thể chế
2.1 Chỉ số chất lượng thể chế IQ
Chỉ số IQ đo lường chất lượng thể chế được đưa ra bởi một số các nhà khoa họcKafumanm, Kraay, Lobaton năm 1999 Nhóm tác giả đã đưa ra một bộ chỉ số để đánh giá
Trang 6chất lượng thể chế của một số nước, đặc biệt là so sánh giữa các quốc gia châu Âu, Nam
Á và các nước châu Phi
Chỉ số “chất lượng thể chế” (Insitutional Quaity- IQ) tổng hợp mức độ trung bình của 5chỉ số (tiêu chí), bao gồm: “Trách nhiệm giải trình”, “Hiệu lực của chính phủ”, "Chấtlượng luật lệ”, “Nhà nước pháp quyền”, “Kiểm soát tham nhũng” Sau này, khi so sánhcác nước có nền kinh tế đang chuyển đổi ngoài 5 chỉ số kể trên, chỉ số “Chất lượng thểchế” còn được đánh giá thông qua chỉ số "Sự ổn định về chính trị"
* Trách nhiệm giải trình
Là việc cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được giao và trách nhệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn đó (quy định của Nghị định 90/2013/NĐ-CP) Người yêu cầu giải trình là cơ quan, tổchức, cá nhân có yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải trình về những nộidung liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Người giải trình là ngườiđứng đầu cơ quan nhà nước hoặc người được người đứng đầu cơ quan nhà nước ủyquyền việc thực hiện giải trình
* Hiệu lực của chính phủ
Tính hiệu lực của chính phủ thể hiện thông qua kết quả đạt được của các chính sách vàpháp luật hiệu quả như thế nào, tác động đến xã hội ra sao
* Chất lượng luật lệ
Bao gồm quá tình soạn thảo, ban hành, sửa đổi và thực thi Hệ thống luật pháp rõ ràng, cụthể và được thực hiện công bằng phản ánh một chất lượng thể chế ở mức độ cao hơn
* Nhà nước pháp quyền
Pháp quyền là nguyên tắc chính quyền chỉ thực thi quyền hành một cách hợp pháp theocác luật được soạn thảo ra và phát hành rộng rãi Những luật đó được thông qua và thựcthi theo đúng các bước được gọi là thủ tục pháp lí
Nhà nước pháp quyền là hình thức mà trong đó nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản
lí xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật Mọi công đân, cơ quan nhà nước đều phải được tổchức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp hật Quyền côngdân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ
Điều kiện để có thể xây dựng một nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống phápluật hoàn chính, đồng bộ, phù hợp và kịp thời Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh phápluật
Trang 7* Kiểm soát tham nhũng
Tham nhũng về bản chất là sự lạm dụng quyền lực nhà nước, tha hóa quyền lực bởi người
có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước nhằm đạt được lợi ích rêng
Do đó, kiểm soát tham nhũng chính là vấn đề kiểm soát quyền lực Trong thực tế, ngườingoài rất khó xác định một chính sách của một ngành hay một địa phương ra đời nhằmphục vụ “tham nhũng cơ chế” hay không bởi tác động của bất kỳ chính sách nào cũng cóthể có lợi cho một số người này và bất lợi cho một số người khác Và đó chính là điểmnhạy nhất của tham nhũng vì chúng diễn ra công khai thường được che dấu dưới những
mỹ từ được đánh bóng
Tình trạng tham nhũng có thể nói lên chất lượng thế chế, và chính nó phản ánh được hệthống thực hiện pháp luật chặt chẽ hay vẫn để kẽ hở, phản ánh việc đảm bảo chất lượng,vai trò của từng cơ quan, bộ phận trong nhà nước
Các chỉ số trên (theo Kaufnanm, Kraay và Lobaton, 1999) được tính toán theo thangđiểm dao động từ -20 đến +20 (giá trị càng cao thì chất lượng thể chế càng cao) Chỉ số
“Chất lượng thể chế” được tính toán tổng hợp là mức độ trung bình của năm chỉ số nêutrên
* Một số ví dụ từ các nước Đông Âu
IQ trungbình
Nhànướcphápquyền
Kiểmsoátthamnhũng
Chấtlượngluật lệ
Tráchnhiệmgiảitrình
Hiệulực củaChínhphủCác nước chuyển đổi
Liên Xô cũ, Trung và
Bảng 1: Bảng so sánh chỉ số IQ được điều chỉnh theo thu nhập đầu người (1997 – 1998)
Từ bảng so sánh các chỉ số IQ đã được điều chỉnh theo mức thu nhập bình quân đầu người, kết quả cho thấy IQ trung bình của các nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông
Trang 8Âu có giá trị â, tức là chất lượng thể chế thấp hơn so với các nước có thu nhập bình quân đầu người tương đương Trong đó, IQ của các nước công nghiệp vẫn cao nhất, mức thấp nhất thuộc về các nước châu Phi
* So sánh giữ các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi
AbanniAcmeniaGeorgiaKazacstanKirghidistanMacxedoniaNga
Ucraina
AzecbaijanBelarusTurkmenistanUzbekitstan
2.2 Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI)
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh là một tập hợp các yếu tố vềthể chế, chính sách và các nhân tố quyết định năng suất của một quốc gia, trên cơ sở tiến
bộ về năng suất sẽ xác lập mức độ thịnh vượng mà một nền kinh tế có thể đạt được Năngsuất cũng sẽ quyết định tỷ lệ lợi tức thu được từ đầu tư trong nền kinh tế, là động lực cơbản của tăng tưởng kinh tế Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh hơn thì tăngtrưởng bền vững hơn
Xếp hạng năng lực cạnh tranh trên thế giới hiện nay được thực hiện theo hai hình thức.Thứ nhất là các báo cáo thường niên đánh giá các yếu tố khác nhau của năng lực cạnhtranh Hình thức này chủ yếu do các tổ chức quốc tế thực hiện nhằm xếp hạng các quốcgia Các báo cáo thuộc loại này bao gồm Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu ( GlobalCompetitiveness Report) của WEF, Báo cáo Môi trường kinh doanh ( Doing Business)của Ngân hàng Thế giới, Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh của tạp chí Forbes,Báo cáo về chỉ số tự do kinh tế của Quỹ hỗ trợ di sản và Tạp chí phố Wall, Báo cáo tham
Trang 9nhũng của tổ chức minh bạch quốc tế, Chỉ số Quản trị toàn cầu ( Worldwide GovernanceIndicators) của Ngân hàng Thế giới
Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu là một báo thường niên do Diễn đàn Kinh tế Thếgiới thực hiện, xuất bản lần đầu vào năm 1979 Từ năm 2005, Diễn đàn Kinh tế Thế giới
sử dụng chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu ( Global Competitiveness Index – GCI) nhưmột công cụ để đo lường các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới năng lực cạnhtranh quốc gia; những điểm mạnh, điểm yếu của nền kinh tế các nước Xếp hạng củaWEF cũng phản ánh các nhân tố ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh của một quốc gia,vốn cũng là các yếu tố cơ bản đối với tăng trưởng kinh tế bền vững
WEF đo lường chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu trên cơ sở tính bình quân gia quyềncủa các chỉ số thành phần khác nhau, mỗi chỉ số đo lường các khía cạnh khác nhau củanăng lực cạnh tranh
a Mô tả về GCI
GCI dựa trên 12 chỉ số thành phần ( 12 trụ cột), với mỗi trụ cột đại diện cho một khu vựcđược coi là một yếu tố quyết định của khả năng cạnh tranh 12 chỉ số thành phần khôngđộc lập mà tác động ảnh hưởng lẫn nhau Ví dụ như cải cách yếu kém trong lĩnh vực nàyảnh hưởng tiêu cực tới lĩnh vực khác Điểm và xếp hạng đối với mỗi chỉ số thành phầndựa trên điểm của của các chỉ số con Tất cả các chỉ số, gồm chỉ số con, chỉ số thànhphần, chỉ số nhóm và chỉ số tổng hợp GCI được cho theo thang điểm từ 1- 7 với 1 là kémnhất và 7 là tốt nhất
Trang 10Sơ đồ khung chỉ số cạnh tranh toàn cầu (( Nguồn: Báo cáo GCI 4.0 2019)
B – Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả - chìa khóa cho thúc đẩy hiệu quả
5 Đạo tạo và giáo dục ở bậc cao hơn
6 Hiệu quả của thị trường hàng hóa
7 Hiệu quả của thị trường lao động
8 Sự phát triển của thị trường tài chính
9 Công nghệ tiên tiến
Trang 1110 Quy mô thị trường
C – Nhóm chỉ số về sự đổi mới và sự phát triển của các nhân tố - chìa khóa thúc đẩy đổi mới cho các nền kinh tế
11 Sự phát triển của hệ thống kinh doanh
12 Đổi mới công nghệ
Tất cả các nền kinh tế đều có thể cùng nhau cải thiện để nâng cao năng lực cạnh tranh.Cải thiện tiêu chuẩn giáo dục ở quốc gia A không hạ thấp tiêu chuẩn ở quốc gia B Xử lýtham nhũng ở quốc gia A không làm cho quốc gia B tham nhũng hơn Tức là tất cả cácnền kinh tế đều cùng lúc có thể trở nên cạnh tranh hơn, năng suất hơn nhưng những quốcgia có nhiều nỗ lực cải thiện hơn thì có khả năng hấp dẫn nhà đầu tư hơn trong cuộc đuanâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư Việc theo đuổi năng lực cạnh tranh quốcgia không làm suy yếu sự hợp tác toàn cầu, mà ngược lại, nỗ lực của các quốc gia còngóp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia, đưa mặt bằng về năng lực cạnhranh toàn cầu lên mức cao hơn, đòi hỏi từng quốc gia phải nỗ lực hơn qua mỗi năm
Bảng: So sánh xếp hạng năng lực cạnh tranh GCI 4.0 của Việt Nam với các nước ASEAN ( Nguồn: Báo cáo GCI 4.0 2019)
Hình trên cho thấy GCI 4.0 năm 2019 xếp hạng Việt Nam ở vị trí 67/141 quốc gia trênthế giới, và đứng ở vị trí 7/9 quốc gia ASEAN, Việt Nam đứng trên Lào và Campuchia.Điều đáng ghi nhận là Việt Nam là quốc gia có điểm số và thứ hạng tăng nhiều nhất trênbảng xếp hạng GCI 4.0 2019 Sự thăng hạng này cho thấy năng lực cạnh tranh toàn cầu
Trang 124.0 của Việt Nam đã được đánh giá là cải thiện vượt trội so với những lần đánh giá trướcđó.
2.3 Chỉ số tự do kinh tế
Chỉ số tự do kinh tế được tính dựa trên 12 thành phần tự do kinh tế, chia thành 4 nhóm: Nềnpháp quyền, Quy mô Chính phủ, Hiệu quả Điều tiết, Thị trường Tự do Mỗi chỉ số tự do được
đo theo thang điểm 100 (từ 0 – 100 điểm), với 0 là ít tự do nhất và 100 là tự do nhất
Ví dụ: Theo bảng xếp hạng tự do kinh tế toàn cầu năm 2018
• 100-80: Tự do (Hong Kong, Singapore, Úc, )
• 79.9-70: Gần tự do (Anh, Hoa Kỳ, Hàn, …)
• 69.9-60: Tự do trung bình (Romania, Mexica, Pháp, …)
• 59.9-50: Gần mất tự do (Campuchia, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, …)
• 49.9-40: Bị đàn áp (Cộng hòa Trung Phi, Đông Timor, Zimbabwe, …)
• Một số nước có chỉ số tự do kinh tế thấp: Cuba (31.9), Venezuela (25.2), Triều Tiên(5.8), …
Nhóm 1: Nền pháp quyền (Rule of Law)
Quyền tư hữu (Property Rights)
Quyền tư hữu đánh giá mức độ tự do mà khung pháp lý của một quốc gia cho phép các cánhân tư hữu tài sản, được đảm bảo bởi những quy định rõ ràng và được chính phủ thực thimột cách hiệu quả Chỉ số cung cấp một thang đo định lượng về mức độ bảo vệ của luật phápquốc gia cho quyền tư hữu tài sản của người dân, và hiệu lực của những luật pháp đó
Điểm số quyền tư hữu được tính bằng số trung bình cộng của 5 yếu tố phụ:
• Quyền tư hữu tài sản vật lý,
• Quyền sở hữu trí tuệ,
• Mức độ bảo vệ nhà đầu tư,
• Nguy cơ bị tước đoạt tài sản,
• Chất lượng quản lý đất đai
Hiệu quả tư pháp (Judicial Effectiveness)
Hiệu quả tư pháp đòi hỏi các hệ thống tư pháp phải có tính hiệu quả và công bằng để đảm bảoluật pháp được tôn trọng một cách tuyệt đối
Điểm số hiệu quả tư pháp được tính bằng số trung bình cộng của 3 yếu tố phụ:
Trang 13• Mức độ độc lập của bộ máy tư pháp,
• Chất lượng của quá trình tư pháp,
• Khả năng có được các quyết định tư pháp thuận lợi
Chính phủ liêm chính (Government Integrity)
Tham nhũng làm xói mòn tự do kinh tế thông qua việc đem đến sự ép buộc và bất ổn vào cácmối quan hệ kinh tế Mối quan tâm lớn nhất ở đây chính là sự tham nhũng mang tính hệ thốngcủa các cơ quan chính phủ làm ảnh hưởng đến việc ra quyết định thông qua tham ô, hối lộ,mua chuộc, tống tiền, gia đình trị, sự thân hữu, nâng đỡ
Điểm số chính phủ liêm chính được tính bằng số trung bình cộng của 6 yếu tố phụ:
• Sự tín nhiệm của công chúng đối với các chính trị gia,
• Thanh toán các khoản không theo quy tắc và hối lộ,
• Sự minh bạch khi hoạch định chính sách của chính phủ,
• Không tham nhũng,
• Nhận thức về tham nhũng,
• Tính minh bạch trong hoạt động chính phủ và trong công vụ
Nhóm 2: Quy mô chính phủ (Government Size)
Gánh nặng thuế (Tax Burden)
Gánh nặng thuế phản ánh mức thuế suất biên trên thu nhập cá nhân lẫn doanh nghiệp, và mứcthuế chung (bao gồm các loại thuế gián thu và trực thu được áp bởi các cấp chính quyền) dướidạng tỷ lệ phần trăm tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Điểm số gánh nặng thuế được tính dựa trên 3 yếu tố phụ:
• Thuế suất biên cao nhất của cá nhân,
• Thuế suất biên cao nhất của doanh nghiệp,
• Tỷ lệ phần trăm gánh nặng thuế trên GDP
Chi tiêu chính phủ (Government Size/Spending)
Trang 14Chi tiêu chính phủ thể hiện mức độ chi tiêu của chính phủ tính theo phần trăm GDP, bao gồmviệc tiêu thụ và điều động ngân sách Chính phủ chi tiêu quá đà sẽ gây thâm hụt ngân sáchkinh niên và tích tụ nợ công.
Việc tính điểm theo cách tính chi tiêu càng nhiều, điểm số càng thấp (từ 0) sẽ không thực tế,
vì một số quốc gia kém phát triển, đặc biệt là ở một số quốc gia mà năng lực của chính phủyếu kém, có thể nhận được điểm số cao một cách giả tạo Chất lượng dịch vụ công của cácchính phủ này thường ít hoặc kém chất lượng, do đó, các quốc gia này sẽ có khả năng nhậnđiểm số thấp ở các yếu tố tự do kinh tế khác như quyền tư hữu, tự do tài chính, tự do đầu tư
Vì thế, chi tiêu chính phủ gần bằng 0 sẽ bị “phạt nhẹ”, chi tiêu quá 30% GDP thì điểm số sẽgiảm mạnh, và chi tiêu quá 58% GDP sẽ nhận điểm 0
Tình hình tài khóa (Fiscal Health)
Bội chi ngân sách và nợ công gia tăng gây ra bởi việc quản lý ngân sách yếu kém của chínhphủ sẽ làm xấu đi tình hình tài khóa của quốc gia, từ đó dẫn đến sự bất ổn về kinh tế và kinh
tế vĩ mô
Điểm số tình hình tài khóa được tính dựa trên 2 yếu tố phụ:
• Tỷ lệ các khoản thâm hụt trung bình trên GDP (chiếm 80% điểm số),
• Tỷ lệ nợ công trên GDP (chiếm 20% điểm số)
Nhóm 3: Hiệu quả Điều tiết (Regulatory Efficiency)
Tự do kinh doanh (Business Freedom)
Thành phần tự do kinh doanh đo lường mức độ mà các môi trường pháp lý và cơ sở hạ tầnglàm hạn chế sự hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố ảnhhưởng đến việc thành lập, vận hành và giải thể doanh nghiệp
Điểm số tự do kinh doanh được tính dựa trên 13 yếu tố phụ (không trọng số), gồm:
• Thủ tục thành lập doanh nghiệp,
• Thời gian để thành lập doanh nghiệp,
• Chi phí thành lập doanh nghiệp,
• Vốn tối thiểu thành lập doanh nghiệp,
• Thủ tục xin giấy phép,
• Thời gian xin giấy phép,
• Chi phí xin giấy phép,
• Thời gian để giải thể doanh nghiệp,
• Chi phí giải thể doanh nghiệp,
• Tỷ lệ thu hồi nợ (của các chủ nợ) khi giải thể doanh nghiệp,
• Thủ tục tiếp cận với nguồn điện,
Trang 15• Thời gian để tiếp cận với nguồn điện,
• Chi phí tiếp cận với nguồn điện
Tự do lao động (Labor Freedom)
Thành phần tự do lao động xem xét các khía cạnh khác nhau của khung quy định và pháp lýtrong thị trường lao động của một quốc gia
Điểm số tự do lao động được tính dựa trên 7 yếu tố phụ:
• Tỷ lệ tiền lương tối thiểu trên giá trị gia tăng trung bình một công nhân,
• Trở ngại khi thuê thêm nhân công,
• Giờ lao động cứng nhắc,
• Khó khăn trong việc sa thải nhân sự dư thừa,
• Thời gian thông báo nghỉ việc bắt buộc (về mặt pháp lý),
• Trợ cấp thôi việc bắt buộc (về mặt pháp lý),
• Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Tự do tiền tệ (Monetary Freedom)
Đánh giá mức độ can thiệp vi mô của chính phủ nhằm kiểm soát giá cả và lạm phát
Điểm số tự do tiền tệ được tính dựa trên 2 yếu tố phụ:
• Bình quân gia quyền của tỷ lệ lạm phát trong 3 thập niên gần nhất,
• Những kiểm soát về giá cả
Nhóm 4: Thị trường Tự do (Open Markets)
Tự do thương mại (Trade Freedom)
Tự do thương mại đo lường mức độ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan ảnh hưởng đếnviệc xuất – nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Điểm số tự do thương mại được tính dựa trên 2 yếu tố phụ:
• Tỷ lệ thuế nhập khẩu bình quân theo lưu lượng thương mại,
• Các hàng rào phi thuế quan
Tự do đầu tư (Investment Freedom)
Trang 16Hầu hết các quốc gia đều có những hạn chế về đầu tư khác nhau: một số thì ban hành các quyđịnh về đầu tư trong và ngoài nước; một số thì giới hạn hoạt động ngoại hối; một số thì hạnchế việc thanh toán, chuyển khoản và giao dịch vốn; thậm chí, một số quốc gia còn ban hànhlệnh cấm đầu tư nước ngoài ở một số ngành công nghiệp nhất định.
Từ điểm số lý tưởng 100, các quốc gia sẽ bị trừ dần điểm số tự do đầu tư nếu:
• Có những hạn chế trong nguyên tắc đối xử quốc gia đối với đầu tư nước ngoài,
• Hạn chế trong quy định đầu tư nước ngoài,
• Hạn chế quyền sở hữu đất,
• Hạn chế đầu tư theo ngành,
• Sung công các tài sản đầu tư mà không đền bù thỏa đáng,
• Kiểm soát ngoại hối,
• Kiểm soát vốn
Tự do tài chính (Financial Freedom)
Tự do tài chính là một chỉ báo về hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng như là mộtthước đo sự độc lập khỏi việc kiểm soát và can thiệp của chính phủ trong lĩnh vực tài chính.Việc xuất hiện sở hữu Nhà nước trong ngân hàng và các tổ chức tài chính khác sẽ làm giảm sựcạnh tranh và thường làm giảm mức độ tiếp cận với tín dụng
Từ điểm số lý tưởng 100, các quốc gia sẽ bị trừ dần điểm số tự do tài chính nếu:
• Mức độ quy định chính phủ trong dịch vụ tài chính cao,
• Mức độ can thiệp của chính phủ vào ngân hàng và các công ty tài chính cao thông qua
sở hữu trực tiếp và gián tiếp
• Mức độ ảnh hưởng của chính phủ lên việc phân bổ tín dụng cao,
• Mức độ phát triển của thị trường vốn và thị trường tài chính thấp,
• Giới hạn cạnh tranh với nước ngoài
Trang 17m chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam 1995-2021 ( Nguồn: The Heritage Foundation)
Kể từ tháng 9/2018, chính phủ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 96,9% đất đaitại Việt Nam Báo cáo đã đánh giá khởi sự kinh doanh đã trở nên dễ dàng hơn và chi phí đăng
ký kinh doanh tại Việt Nam đã được cắt giảm Tuy nhiên, các tiêu chuẩn quản trị doanhnghiệp và việc thực thi luật lao động vẫn còn yếu Kiểm soát ổn định giá vẫn có hiệu lực đốivới nhiên liệu, năng lượng và nước, tài nguyên thiên nhiên và dược phẩm Khung đầu tư tổngthể đã được hiện đại hóa và tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài, song hiệu quả chưa cao.Lĩnh vực tài chính tiếp tục phát triển và hoạt động cho vay theo chỉ đạo của các ngân hàngthương mại nhà nước đã được thu hẹp trong những năm gần đây Ngoài ra, nhiều ý kiến cũngcho rằng Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất trên thế giới, đồng thời cũng làmột trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất châu Á Việc tham gia và thựcthi các FTA đem lại nhiều cơ hội to lớn đối với Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc
tế sâu rộng Việt Nam cũng đang ngày càng trở nên hội nhập hơn khi trở thành thành viên củacác hiệp định thương mại lớn
Số điểm của Việt Nam năm 2018 là 53,1, xếp hạng 141 thế giới Và năm 2019, số điểm củaViệt Nam là 55,3 và xếp hạng 128 thế giới
Đến năm 2020, kết quả tổng thể của Việt Nam đã tăng 3,5 điểm do tăng đáng kể tình hình tàikhóa Việt Nam xếp hạng 21 trong số 42 quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương
và điểm tổng thể của Việt Nam thấp hơn một chút so với mức trung bình của khu vực và thếgiới Báo cáo năm 2020 ghi nhận tăng trưởng mạnh mẽ kinh tế của Việt Nam năm qua đãphản ánh sự cải thiện tự do kinh doanh
Trang 18Theo Bảng xếp hạng Chỉ số tự do kinh tế năm 2021 do Heritage Foundation của Mỹ công bố,nền kinh tế Việt Nam bước vào nhóm các nền kinh tế có “tự do trung bình”, với 61.7 điểm(tăng 2,9 điểm và tăng 15 bậc so với năm 2020) Nhờ tình hình tài chính trong nước được cảithiện nên Chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam được thăng hạng Việt Nam đứng thứ 17 trong số
40 nền kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và đứng 90 trên toàn thế giới, cao hơnmức trung bình của khu vực và thế giới
2.4 Chỉ số thuận lợi kinh doanh
Chỉ số thuận lợi kinh doanh (EBDI - Ease of Doing Business Index) là chỉ số được đề ra bởi
Ngân hàng thế giới Thứ hạng cao chỉ ra rằng các quy tắc cho kinh doanh tốt hơn, đơn giảnhơn và bảo vệ quyền sở hữu mạnh hơn Nghiên cứu thực nghiệm được tài trợ bởi Ngân hàngthế giới chỉ ra rằng ảnh hưởng của việc hoàn thiện những điều chỉnh này đối với tăng trưởngkinh tế là rất mạnh mẽ
Chỉ số thuận lợi kinh doanh là chỉ số xếp hạng các nền kinh tế từ 1 đến 189, với vị trí đầu tiên
có môi trường kinh doanh thuận lợi nhất
Chỉ số EDBI được tính toán thông qua 10 tiêu chí, từ đó làm rõ độ thuận lợi hay phức tạp chocác doanh nhân địa phương mở và thực hiện công việc kinh doanh từ cỡ nhỏ đến tầm trungkhi đối mặt với những yêu cầu pháp lí liên quan Bộ tiêu chí được dùng để phân tích phạm vinhững đầu ra kinh tế và xã hội với những chú trọng về số lượng các bước phải hoàn thành,dđộ dài thuồi gian của mỗi công đoạn và chi phí để hoàn thành các bước
• Khởi sự doanh nghiệp: thủ tục pháp lý, thời gian, vốn và giá trị doanh nghiệpcực tiểu theo quy định
• Đăng ký giấy phép kinh doanh: thủ tục pháp lý, thời gian và chi phí của việcxác minh & cấp giấy phép kinh doanh (xây dựng công nghiệp)
• Chi phí thuê nhân công & tình trạng khan hiếm lao động: mức độ khó khăn vềgiá nhân công và chỉ số mềm dẻo về thỏa ước thời gian lao động
• Đăng ký quyền sở hữu: thủ tục, thời gian và chi phí khi đăng ký các tài sản làbất động sản thương mại như đất đai thực
• Mức khấu trừ tín dụng: chỉ số hiệu lực của các quy định luật pháp, chỉ số côngkhai thông tin tín dụng
Trang 19• Mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư: phạm vi quyền hạn cũng như trách nhiệmpháp lý của người quản lý doanh nghiệp & các đại cổ đông.
• Gánh nặng thuế phải trả: các khoản thuế phải nộp, thời gian tiêu tốn cho thủtục hành chính trong thanh toán thuế, tỉ lệ thuế phải trả so với tổng số lợinhuận ròng
• Hoạt động thương mại dọc & xuyên biên giới: số lượng các tài liệu, số lượngchữ ký và thời gian cần thiết để thực hiện cho mỗi thương vụ xuất hoặc nhậpkhẩu
• Mức thực thi các hợp đồng: thủ tục, thời gian & chi phí để bắt buộc thực thimột thỏa ước vay nợ chưa thanh toán
• Chấm dứt kinh doanh: thời gian & chi phí khi tuyên bố đóng cửa kinh doanhhoặc phá sản & mức bồi hoàn thuế
Chỉ số thuận lợi kinh doanh của Việt Nam 2015-2019 (Nguồn: World Bank)
Khả năng cạnh tranh thương mại của Việt Nam ngày càng được gia tăng và trở thành mộttrung tâm sản xuất hấp dẫn Việc Việt Nam hội nhập thành công vào Hiệp hội các quốcgia Đông Nam Á (ASEAN) là chìa khóa để hoạt động thương mại tăng trưởng mạnh mẽ.Nhờ việc ký các hiệp định thương mại tự do với nhiều nền kinh tế lớn như Trung Quốc,Liên minh châu Âu (EU), Anh hay Nhật Bản, Việt Nam đã tạo môi trường thuận lợi đểquan hệ thương mại phát triển
Trong thập kỷ qua, với lợi thế chi phí lao động thấp khả năng cạnh tranh của ngành sảnxuất đã được củng cố Lực lượng dân số trẻ tăng nhanh giúp duy trì áp lực tiền lương ởmức thấp dù kinh tế tăng trưởng nhanh
Các chính sách ưu đãi của chính phủ đã giúp Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoàimột cách thành công Dòng vốn FDI của Việt Nam tăng nhanh nhất trong khu vực Dựatrên các điểm đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên mức độ thuận lợi kinh doanh, chấtlượng hậu cần, chi phí tiền lương, tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng nhưnhững thay đổi trong tỷ trọng xuất khẩu và FDI, Việt Nam được đánh giá là nước có khả
Trang 20năng cạnh tranh cao nhất trong khu vực Điều này giúp gia tăng thị phần xuất khẩu ấntượng trong những năm gần đây.
Đến năm 2020, Việt Nam có 369 khu công nghiệp, tăng 180% so với năm 2005 ViệtNam đã thăng hạng trong xếp hạng chỉ số thuận lợi kinh doanh của Ngân hàng Thế giới(WB), tăng 23 bậc lên thứ hạng 70 so với 10 năm trước
Tuy nhiên, các nhà đầu tư có thể lưu ý đến mức thuế doanh nghiệp tương đối cao của ViệtNam (lên đến 50% đối với một số ngành), cùng với các rào cản về ngoại tệ, ngôn ngữ,thiếu bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và các yêu cầu thiết lập kinh doanh phức tạp.Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục cải cách các lĩnh vực này, nhưng tốc độ cải cách có thể sẽkhông theo kịp kỳ vọng của các nhà đầu tư Về mặt địa chính trị, bài viết nhận định thặng
dư thương mại tăng mạnh với Mỹ cũng khiến Việt Nam rơi vào thế bấp bênh Về lâu dài,không thể loại trừ khả năng tái diễn xung đột thương mại nếu các chính sách của Mỹchuyển sang chủ nghĩa bảo hộ một lần nữa khi cán cân thương mại song phương tiếp tụcmất cân bằng
2.5 Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI- Coruption Perceptions Index)
a Tham nhũng
Tham nhũng là hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với sự ra đời và phát triển của bộ máyNhà nước Các quốc gia có các điều kiện về xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế khác nhauquan niệm về tham nhũng cũng khác nhau Ở mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia,khái niệm tham nhũng cũng đưa ra tương ứng theo từng thời kỳ, do đó khó có thể có mộtkhái niệm chung nhất về tham nhũng cho mọi quốc gia, mọi chế độ chính trị, tham nhũngcũng không phải là một khái niệm bất biến xuyên qua các thời kỳ phát triển đối với từngquốc gia, khu vực
Theo Tanzi (1995), tham nhũng là việc không tuân thủ mọt cách có chủ đích đoosi vớinguyên tắc giá thị trường nhằm thu lợi cho chính chủ thể hành động hoặc cá nhân liênquan Cũng theo Ekiyot (2005) cho rằng tham nhũng là việc sử dụng bất hợp pháp cácquyền hay ảnh hưởng chính thức bởi một quan chức của chính phủ hoặc là để làm giàu,củng cố cho địa vị của chính mình và bất kỳ người nào khác bằng chi phí cộng cộng, tráivới lời tuyên thệ của người đó hoặc trái với tập quán hay luật đang có hiệu lực Tóm lại,
có thể nói rằng tham nhũng chính là hành vi bao gồm hối lộ, nhận một khoản tiền hoặc
sự đặc ân hay giúp đỡ nhằm gây ảnh hưởng lên một quan chức; lạm dụng quyền hànhnhư đặc ân tới từ quan chức cho họ hàng hoạc bạn bè; các gian lận, hành vi lừa dối cơquan công quyền; tham ô và biển thủ, ăn cắp tiền hoặc tài sản công để phục vụ cho lợi ích
Trang 21cá nhân, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt độngđúng đắn của các cơ quan, tổ chức.
b Chỉ số cảm nhận tham nhũng
Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI) định nghĩa tham nhũng
là “lạm dụng chức vụ công để hưởng tư lợi” Từ năm 1995, tổ chức đã công bố hằngnăm bảng xếp hạng các quốc gia về mức độ tham nhũng bằng việc đưa ra một chỉ số đểđánh giá mức độ tham nhũng tồn tại trong các giới công chức và chính trị gia của mộtquốc gia, đó là CPI – Corruption Perceptions Index, chỉ số nhận thức tham nhũng CPI làmột chỉ số tổng hợp và được xây dựng từ nhiều nguồn khác nhau với nhiều hình thứcđiều tra khác nhau của các nhà kinh doanh cũng như đánh giá của giới phân tích quốcgia, được sử dụng rộng rãi trên thế giới Nó đo lường mức độ cảm nhận của doanh nhân,học giả và các nhà nghiên cứu về rủi ro đến từ tham nhũng, xếp hạng các quốc gia trênthế giới theo “mức độ tham nhũng mà được nhận thức tồn tại trong các giới công chức vàchính trị gia” CPI dao động từ 0 đến 10, điểm 10 chỉ một đất nước với mức độ trongsạch cao nhất trong khi điểm 0 chỉ một đất nước mà giao dịch kinh doanh tại đó hoàntoàn bị chi phối bởi tham nhũng Điểm càng cao chứng tỏ đất nước đó càng có ít thamnhũng
Hình mình họa ( nguồn Internet)
Chỉ số CPI cung cấp một cái nhìn tổng thể hàng năm về mức độ tham nhũng tương đối ở
180 quốc gia và vùng lãnh thổ
Nghiên cứu của Tổ chức TI chỉ rằng trong gần một thập kỷ qua, hầu hết quốc gia đạtđược rất ít hoặc không đạt được tiến bộ nào trong việc giải quyết tham nhũng, với hơn2/3 trong số 180 quốc gia được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100